đánh giá cải tiến quản lý tài nguyên đầm phá - Pdf 13

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1Tính cấp thiết của đề tài.
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích mặt nước gần 22 nghìn ha, là
thuỷ vực lớn nhất Việt Nam cũng như ở khu vực Đông Nam Á. Chứa đựng trong mình
một nguồn lợi thuỷ sản phong phú, nó được xem như là một bảo tàng sinh học với sự
đa dạng về nguồn gen bao gồm cả động thực vật. Hệ đầm phá Tam Giang liên quan
đến 5 trong 9 huyện với 33 xã, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là nguồn sống
chủ yếu từ bao đời nay của một bộ phận cư dân không nhỏ khoảng 35 vạn dân cả thuỷ
diện lẫn ven bờ, và hiện nay Hệ đầm phá Tam Giang đang trở thành một trong những
vùng kinh tế trọng điểm, phát triển sôi động của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tài nguyên đầm phá là một nguồn tài nguyên mở, khi nó được xem là sở hữu
chung của mọi người thì người dân thường có quan niệm theo kiểu “điền tư, ngư
chung”, từ đó họ mặc nhiên khai thác, vơ vét làm cho nguồn tài nguyên đầm phá ngày
càng bị suy giảm đang ảnh hưởng lớn đến kế sinh nhai lâu dài của cộng đồng ngư dân
ven phá.
Sự suy giảm tài nguyên này trước hết là do áp lực dân số lên tài nguyên ngày
càng lớn, cùng với việc khai thác sử dụng thiếu phương pháp, các hoạt động đang diễn
ra một cách quá mức với sự đa dạng về hình thức như: sự phát triển của phong trào
nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đặc biệt là hình thức nuôi ao vây làm cho ngư dân tiểu
nghệ (ngư dân khai thác di động) bị mất ngư trường khai thác; chất thải NTTS gây ô
nhiễm môi trường; Sự phát triển quá mức số lượng nò sáo làm thu hẹp ngư trường khai
thác tự nhiên, gây cản trở dòng chảy, sự di chuyển của nguồn lợi thuỷ sản; khai thác tự
nhiên với các ngu cụ có tính huỷ diệt cao như xung điện, cào lươn…đang huỷ diệt
nguồn lợi thuỷ sản ,và môi trường của hệ đầm phá.
Một lý do quan trọng là công tác quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá Tam
Giang hiện nay đang còn nhiều bất cập, và gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như: Các
quy phạm quản lý (quy phạm pháp luật) về quản lý nguồn lợi thuỷ sản hiện nay rất ít,
lại thiếu sự thống nhất đồng bộ, thiếu các văn bản hướng dẫn nên không rỏ ràng từ đó
việc áp dụng và thực hiện ở cơ sở gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó nguồn nhân lực vật
1
lực cho công tác quản lý còn hạn chế, do đặc thù các hoạt động diễn ra trên đầm phá,

lagoon xa bờ và lagoon ven bờ. Về chi tiết lagoon ven bờ (coastal lagoon) như vẫn
quen gọi là đầm phá ở miền Trung Việt Nam, là một loại hình thủy vực ven bờ
(Coastal body of water) nước lợ, nước mặn hoặc siêu mặn, được chắn ngoài bởi một đê
cát và có cửa ăn thông với biển phía ngoài. Cửa biển có thể mở thường xuyên hay định
kỳ, thậm chí có thể bị đóng kín nhưng vẫn liên hệ với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu
hoặc chảy qua chính đê ngăn cát. [6]
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một lagoon nhiệt đới nước lợ nằm ở phía
tây biển Đông, là thuỷ vực lớn với chiều dài 68 km, tổng diện tích mặt nước là 216
km
2
, chiếm 4,3 % diện tích lãnh thổ, hay 17,2 % diện tích đồng bằng Thừa Thiên Huế,
thuộc lãnh thổ 5 huyện theo thứ tự từ Bắc vào Nam là: Phong Điền, Quảng Điền,
Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, đầm phá Tam Giang là nơi làm ăn sinh sống từ lâu
đời của gần 35 vạn dân từ 236 làng của 41 xã thuộc 5 huyện xung quanh. Cộng đồng
dân cư ở đây gắn liền với lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc khai thác và sử dụng
các nguồn tài nguyên đầm phá. Hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai là hệ đầm phá ven
biển lớn nhất ở nước ta, thuộc vào loại lớn trên thế giới. [5]
Các hợp phần tự nhiên
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ mở được tạo ra do tương tác lục địa
và biển, gồm các hợp phần và cấu trúc khác nhau trong một thể thống nhất và có thể
nhóm thành các đơn vị cấu trúc cơ bản sau: Vực nước, cửa, hệ thống cồn cát chắn và
các thành phần tạo ven bờ sau hệ đầm phá. [12]
- Vực nước hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được hợp thành ba phần khác nhau
theo tên gọi của địa phương là phá Tam Giang rộng 52 km
2
đầm Sam Chuồn và đầm
3
Thuỷ Tú rộng 60 km
2

chừng mực nào đó thì nó có quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của những địa
phương ven phá cũng như toàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
4
- Đa dạng sinh học
Hệ đầm phá TG-CH ngoài sự đa dạng về loài (số lượng loài của hệ khoảng 900
loài, có nhiều loài đặc hữu, và nhiều loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và
Thế Giới), hệ đầm phá còn có tính đa dạng cao về habitat và các phụ hệ sinh thái. Đặc
biệt đầm lầy cỏ là một habitat thích hợp cho quần tụ chim nước. Thảm cỏ nước có vai
trò rất quan trọng đối với sinh thái hệ, có vai trò như những “khu rừng dưới đấy nước”.
Hệ đầm phá TG-CH bao gồm nhiều phụ hệ như phụ hệ sinh thái (HST) đầm lầy, phụ
HST cỏ nước, phụ HST đáy mềm, phụ HST mangrove, phụ HST bãi triều .v.v.
- Nguồn lợi thủy sinh
Nhiều loại sinh vật vùng đầm phá có giá trị kinh tế khai thác tự nhiên, đánh bắt
và nuôi trồng. Trong đó có 4 nhóm cơ bản là rong cỏ, tôm - cua, thân mềm và cá. Theo
kết quả nghiên cứu của các nhà sinh học, hệ đầm phá có 162 loài cá, 12 loài tôm, cua,
giáp xác và nhiều loại rong tảo có giá trị kinh tế cao. Đặc biệt một số loài như: tôm sú,
cua, cá nước lợ còn có giá trị xuất khẩu cao.
- Giá trị giao thông-cảng biển
Hệ có giá trị giao thông thuỷ cảng với nhiều bến thuyền, cảng, lớn nhất là cảng
Thuận An có thể cho phép tàu 3.000 DWT cập cảng. Đây là nơi rất thuận lợi để phát
triển cơ sở hậu cần nghề cá. Sự có mặt của phá Tam Giang - Cầu hai gián tiếp liên
quan đến sự hình thành và phát triển của đô thị Huế. Ngoài ra phá Tam Giang còn là
nơi trú ẩn lý tưởng cho tàu thuyền lúc gặp bão lớn ngoài biển.
- Phát triển nông nghiệp
Một diện tích đáng kể đất ngập nước ven phá đã được tu bổ thành đất sản xuất
nông nghiệp ở các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền và Phong Điền cho năng
suất lúa khoảng 1-5 tấn/ha/năm. Một số vùng cấy lúa một vụ hoặc chuyển sang trồng
hoa màu vào mùa khô rộng đến hàng trăm ha. Diện tích bãi cỏ ở các cửa sông là nơi
chăn thả gia súc và nuôi vịt tới hàng vạn con.
- Chức năng sinh thái-môi trường

khả năng và tài sản cả ở hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. [10]
2.3 Khái niệm về quản lý
6
- Theo khái niệm quản lý của điều khiển học: “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo
một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc
tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý
và nhằm đạt được mục đích đã được định trước” [4]
- Quản lý được hiểu theo hai góc độ, một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị
xã hội, hai là góc độ mang tính hành động thiết thực. Quản lý được C.Mac coi là chức
năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động. [11]
“Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động
của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và đúng
với ý chí của người quản lý” (Quản lý nhà nước, 2000)
2.3.1 Quản lý nguồn lợi thủy sản Hệ đầm phá Tam Giang
* Lĩnh vực của quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá Tam Giang
Việc quản lý diễn ra bao hàm trên cả hai lĩnh vực quản lý tự nhiên và quản lý xã
hội. Hệ đầm phá Tam Giang nói riêng, các khu hệ thuỷ sinh nói chung, không đơn giản
như một bể cá cảnh hay một ao nuôi tôm cá, mà gắn liền nó là một hệ sinh thái với
những quy luật tự nhiên, những tính chất đặc trưng riêng có, và cả một cộng đồng
người không thể không là vấn đề xã hội, nhất là cộng đồng đó cũng đóng vai trò chủ sở
hữu nguồn lợi thuỷ sản. Vì vậy thiết nghĩ quản lý nguồn lợi thuỷ sản trước hết thuộc
lĩnh vực xã hội, và sau đó mới thuộc lĩnh vực thế giới tự nhiên hữu sinh và vô sinh. [4]
* Chủ thể của quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang.
Chủ thể quản lý nói chung là con người hay tổ chức của con người. Những cá
nhân hay tổ chức của con người phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn và
có trách nhiệm liên kết, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân nhằm đạt
đựơc hiệu quả nhất định trong hoạt động quản lý. [4]
Như vậy chủ thể quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang trước hết là
nhà nước, và còn bao gồm cả nhân dân, những người khai thác sử dụng nguồn lợi.

thuỷ sản trên hệ đầm phá, các quy phạm quản lý đang còn thiếu nhiều, lại nằm rải rác ở
nhiều văn bản khác nhau, có sự điều chỉnh thiếu đồng bộ do có sự thay đổi bổ sung của
một số nguồn pháp luật liên quan. Mặt khác, trật tự quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm
phá theo trật tự cũ nên đã hết phát huy tác dụng.
8
Số lượng quy phạm quản lý còn rất ít ỏi, thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết,
cụ thể ở cấp dưới, dẫn đến việc thực hiện quy phạm quản lý ở cơ sở là rất khó khăn.
Trật tự quản lý nguồn lợi thuỷ sản đòi hỏi phải được hệ thống hoá các quy phạm
hiện hành, đồng thời phải tiến hành xây dựng một loạt các quy phạm, trật tự quản lý
mới để phù hợp với thượng tầng, nền tảng pháp luật, vừa phù hợp với thực tế quản lý ở
địa phương cơ sở, phù hợp với khả năng nguồn lợi thuỷ sản cũng như thực trạng đời
sống cộng đồng ngư dân đầm phá.
Nhân tố con người trong bộ phận chủ thể quản lý là vấn đề nan giải. Các cán bộ
được đào tạo theo cơ chế cũ, phần lớn là các kỹ sư thuỷ sản, cử nhân sinh học, cử nhân
kinh tế… hầu hết chưa được đào tạo về quản lý nhà nước, luật học, quản lý tài
nguyên…khiến việc quản lý vĩ mô rất lúng túng, thiếu phương hướng.
Vấn đề nổi cộm lên trong thực tế quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá Tam
Giang hiện nay là thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý theo ngành (thẩm quyền
chuyên môn) và các cơ quan quản lý theo lãnh thổ (thẩm quyền chung), giữa các cơ
quan quản lý theo chuyên môn và các cơ quan quản lý theo chức năng, giữa quản lý
nhà nước và khả năng tự quản lý của cộng đồng địa phương.
Một trở ngại lớn trong quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá Tam Giang là
việc bộ máy chính quyền địa phương (cấp xã) thường đổi theo nhiệm kỳ, vì thế các chủ
thể quản lý từ Uỷ ban nhân dân xã phần lớn thiếu hiểu biết chuyên môn, thiếu kinh
nghiệm, không chuyên trách, lương tiền thấp, không có chế độ sử dụng lâu dài.
2.3.1.2 Các cách thức quản lý ở Hệ đầm phá Tam Giang. [4]
Xây dựng trật tự quản lý: Để đạt được mục tiêu quản lý thì cần có những tiêu
chuẩn, chuẩn mực nhất định, đó là trật tự quản lý. Trật tự quản lý hiện nay ngoài những
quy phạm pháp luật quản lý nguồn lợi thuỷ sản của chính quyền trung ương, quy định
quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản chung của chính quyền tỉnh, chưa có

cường cưỡng chế. Còn thuyết phục là hoạt động thông qua tuyên truyền, giáo dục, giải
thích, hướng dẫn nêu gương… nhằm tạo ra một ý thức về lối sống trong cộng đồng, ý
thức về trật tự quản lý nguồn lợi thuỷ sản.
* Phương pháp cưỡng chế: Bên cạnh biện pháp giáo dục, thuyết phục là biện
pháp cưỡng chế, bởi vì do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn còn tồn tại nhiều vi phạm
diễn ra hết sức nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thuỷ sản, ảnh hưởng lợi ích
10
chung của cả cộng đồng. Cưỡng chế trong quản lý nguồn lợi thuỷ sản Hệ đầm phá gồm
3 nhóm sau: Cưỡng chế kỷ luật chỉ áp dụng trong phạm vi nội bộ tổ chức; Cưỡng chế
hành chính là tổng hợp các biện pháp cưỡng chế của nhà nước áp dụng để tác động lên
tâm lý, tư tưởng hành vi của đối tượng tác động buộc họ phải tuân thủ pháp luật quản
lý nguồn lợi thuỷ sản; Cưỡng chế hình sự (sử dụng rất hạn hữu trong quản lý nguồn lợi
thuỷ sản).
* Phương pháp kinh tế: Đây là nhóm phương pháp mà chủ thể quản lý tác động
lên đối tượng tác động, thông qua việc tạo ra và sử dụng một cơ chế tác động vào lợi
ích kinh tế, từ lợi ích kinh tế khuyến khích đối tượng tác động đi theo hướng có lợi cho
công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý. Là phương pháp chỉ áp dụng đối với các
đối tượng tác động là con người hay tổ chức của con người không sử dụng đối với các
yếu tố tự nhiên.
Từ trước đến nay phương pháp kinh tế chỉ diễn ra một cách tự phát, hoàn toàn
không phải là sự định hướng có chủ tâm của các chủ thể quản lý. Phương pháp kinh tế
đã sử dụng trong thực tế phải kể đến là việc đấu thầu khai thác các vùng nước có năng
suất đánh bắt cao, các đầm có ranh giới khá rỏ rệt, hoặc các vị trí đặt đáy ngang qua
dòng chảy. Một phương pháp kinh tế khác là dùng chính sách thuế để điều tiết cơ cấu
nghề nghiệp khai thác tự nhiên trong hệ đầm phá, điều tiết giữa khai thác biển và khai
thác đầm phá, điều tiết giữa ngành khai thác với các ngành sản xuất khác.
2.3.2. Đồng quản lý.
Đồng quản lý - CM (Co – Management) là việc tạo ra và thưc hiện các dàn xếp
quản lý một cách phù hợp, qua đó, một số nhóm người có lợi ích liên đới được xác
định trước cùng hợp tác với chính phủ để đưa ra và thực thi các quyết định và biện

cơ bản là quản lý hành chính nhà nước và quản lý cộng đồng. Ngoài ra đồng quản lý
hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý trung gian giữa hai hình
thức nói trên. Quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng (QLNLDVCĐ) là một hình thức
hợp tác giữa cộng đồng với nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm
trong quản lý và lợi ích (pomerroy, 1995). Với hình thức quản lý dựa vào cộng đồng.
Hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao khi có sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi và
các bên liên quan trong việc quản lý (pomerroy, 2000 và VEEM, 2002). [13]
12
Quản lý có sự tham gia của cộng đồng thể hiện một cách tiếp cận mang tính
tổng hợp cao trong việc nâng cao hiệu quả của các dự án khôi phục, bảo vệ và sử dụng
bền vững các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng bị suy giảm, đứng trước
nguy cơ cạn kiệt. Quản lý dụa vào cộng đồng coi thành viên cộng đồng và cộng đồng
là trung tâm, trong khi đó đồng quản lý lại tập trung vào những vấn đề này cộng với sự
phối hợp với chính phủ, cộng đồng địa phương và các bên sử dụng nguồn lợi (Nielsen
và Veddsman, 1999)
Phát triển quản lý NTTS dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý có sự tham gia
của người dân, là quá trình phân tích, thuyết phục để người nuôi tự nguyện thành lập tổ
nhóm cộng đồng tự quản lẫn nhau có hiệu quả. [13]
2.3.3.2 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng.
* Thuật ngữ “quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng” (CBFM: Community Based
Fisheries Management) sử dụng đầu tiên tại hội đàm của Nhật Bản/FAO và phát triển
hệ thống quản lý nghề cá ven bờ ở châu Á – Thái Bình Dương, tổ chức tại Kobe từ
ngày 8 – 12/6/1992.
Định nghĩa kiểu Nhật Bản hiện nay là: “Hệ thống quản lý Nghề cá dựa vào cộng
đồng là một hệ thống quản lý nghề cá được phát triển bởi một nhóm ngư dân dựa trên
quyền đánh cá (Fishing Rights) và được thực hiện dưới sự sáng tạo của ngư dân”
(T.Yamamoto,1998: chủ tịch hội nghiên cứu nghề cá Quốc tế - Nhật Bản). [3]
* Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (CBFM) trên thế giới
Hệ thống CBFM “hiện đại” xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản. Nhưng thật ngạc
nhiên khi thấy rằng quá trình quản lý nghề cá của chính phủ Nhật sau chiến tranh thế

phép bởi sự quanh vòng những vùng trên nhằm duy trì ổn định nguồn lợi.
- Sự mở rộng mắt lưới rê: mắt lưới rê cụ thể nào đó được mở rộng với sự đồng
thuận của tất cả các ngư dân trong cộng đồng. Nhờ đó, giá trị khai thác tăng lên, do
kích thước cá thể tăng.
- Hệ thống “Tổng sản lượng cho phép đánh bắt” (TAC: Total Allowable Catch),
TAC được xác định bởi cơ quan chuyên môn nghề cá cấp tỉnh trên cơ sở nghiên cứu
chúng. Tổ chức cộng đồng nghề cá có liên quan tuân thủ “tổng sản lượng cho phép
đánh bắt” đã xác định.
14
- Thời kỳ tạm ngừng khai thác: Sản lượng của một số loài thuỷ sản cụ thể đã bị suy
giảm nặng nề. Tất cả các ngư dân trong một cộng đồng, hoặc nhiều cộng đồng liên
quan có thể đồng ý ngừng đánh bắt loại này trong thời hạn xác định.
- Nuôi cộng đồng: Cộng đồng nghề cá thực hiện nuôi cộng đồng bằng cách dùng
kinh phí của chính họ với việc mua giống các loại tôm cá con từ các trung tâm giống
nuôi. Sau đó thả giống các loại tôm cá xuống đầm phá. Từ đó nâng cao sản lượng khai
thác tự nhiên đã có tác động của con người.
Từ đó :
- Giảm đầu mối quản lý cho nhà nước cụ thể là giảm chi phí quản lý, nhân lực của
nhà nước, nhất là trong quản lý nghề cá ven bờ cở nhỏ.
- Tăng cao hiệu lực quản lý, các hành vi vi phạm sẽ ít đi nhờ các quy định quán triệt
ở cấp cộng đồng, hơn nữa tổ chức cộng đồng sẽ tự quản lý nên việc ngăn ngừa các
hành vi vi phạm sẽ kịp thời, đúng mức…
- Tăng ngân sách nhà nước.
- Phát triển cộng đồng: cộng đồng có tổ chức tốt không chỉ đảm đương trách nhiệm
và quyền lợi trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, mà còn đảm đương tốt các
chuơng trình phát triển khác một cách có hiệu quả hơn…
Những điều kiện để phát triển hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng. [3]
- Ban hành quyền đánh cá cho ngư dân: Quyền đánh cá là một nhân tố rất quan
trọng trong việc thiết lập quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng. Quyền đánh cá là một
giấy phép nghề cá đặc biệt được cấp cho tổ ngư dân trên cơ sở quyền sở hữu lãnh thỗ

của từng địa phương.
- Quản lý dựa vào cộng đồng trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ việc tìm hiểu và phát huy tinh hoa truyền thống quản lý nghề cá tại
đầm phá Thừa Thiên Huế, cơ bản dựa trên các Vạn chài trong quá khứ, tạo nên một hệ
thống từ nhiều thế kỷ trước, dù có nhiều hạn chế trình độ hơn ngày nay rất nhiều nhưng
do được giao quyền các “Vạn chài” cũng tự tổ chức, dàn xếp, quản lý được với nhau
rất tốt.
16
Ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng, các mô hình triển khai về
đồng quản lý, quản lý dựa vào cộng đồng đã được thử nghiệm nhiều nơi trong gần 10
năm gần đây. Ý tưởng dựa vào tổ chức chính thống, Hội nghề cá và quyền sử dụng
lãnh thổ trong nghề cá (Territorial Use Rights in Fisheries) cho các hội nghề cá, như là
một động lực lâu dài, khuyến khích ngư dân tham gia quản lý thuỷ sản, được xem như
là những giả thuyết khoa học để triển khai thực hiện, phát triển hệ thống quản lý Nghề
cá dựa vào cộng đồng tại vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế. [2]
Đầm phá Thừa Thiên Huế với thuỷ vực 22 nghìn ha, trãi dài cả 5 huyện ven
biển của Tỉnh, có đến 86 thôn làng tham gia nghề cá đầm phá, với khoảng 7.000 đơn
vị ngư cụ khác nhau. Thì ý tưởng loại hình nghề cá là phù hợp cho việc xây dựng hệ
thống quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh Thừa Thiên Huế.
Với tổ chức thí điểm năm 2003, chi hội nghề cá cơ sở đầu tiên được thành lập ở
Thừa Thiên Huế, đó là chi hội nghề cá Quảng Thái. Chi hội nghề cá được thành lâp
trên cơ sở thoả thuận giữa Hội nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND xã Quảng Thái,
theo nguyên tắc: Chi hội nghề cá trực thuộc hội nghề cá tỉnh. Chi hội nghề cá Quảng
Thái mà thực chất là một hội độc lập nằm trong hệ thống Hội nghề cá Việt Nam
(VINAFIS), có pháp nhân riêng, được sở công an tỉnh cấp dấu hoạt động.[2]
Cho đến 31/12/2006, đã có 1.127 hội viên gia đình ngư dân, tập hợp trong 18
chi hội nghề cá cơ sở chính thức, phát triển ở 16 xã, rộng khắp trên 5 huyện ven biển
của tỉnh.
2.4 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có vai trò vô cùng to lớn và ảnh hưởng một

việc ra quyết định đánh giá dự án.
Nhân tố quan trọng và là điều kiện động viên các thành phần cộng đồng tham
gia quản lý và bảo tồn bền vững nguồn lợi phải nâng cao trình độ hiểu biết và kiến thức
của người dân về lợi ích và tài nguyên đem lại cho họ. [8]
- “Sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi trong quản lý môi trường thuỷ sản
ven biển trường hợp vịnh Xuân Đài – Phú Yên” của Nguyễn Thị Bích Thuỷ và Lê Văn
Chí đã nhận định: Nuôi trồng thuỷ sản nói chung ở các nước đang phát triển chỉ có thể
18
trở nên bền vững khi người sử dụng nguồn lợi (mặt nước, đất…) hiểu được vai trò của
nó đối với kế sinh nhai lâu dài của cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác. [14]
- Đề tài : Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng: Quy trình nào cho nuôi tôm ven
biển ở Việt Nam? của Trần Xuân Nhường. Việc phát triển nuôi tôm ven biển dựa vào
cộng đồng ở 3 tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế) đã thu được
nhiều kết quả triển vọng: Cải tiến quản lý môi trường thông qua các hoạt động tập thể
do cộng đồng phát động; Các hộ dân đã giúp đỡ lẫn nhau nâng cao trình độ kỹ thuật
thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng; Đã cải tiến quản lý dịch bệnh, đối với các ao
nuôi bị nhiễm đã được cộng đồng khoanh vùng và thảo luận tìm biện pháp xử lý, ngăn
chặn sự lây lan dịch bệnh sang các ao khác trong vùng; Gây quỹ duy trì các hoạt động
cộng đồng để nhằm duy trì tính bền vững của mô hình; Đã phối hợp chặt chẽ với chính
quyền địa phương và các cơ quan quản lý khác, đã tạo ra mối liên hệ giữa cộng đồng
(người nuôi) với cán bộ nhà nước, các đại diện doanh nghiệp được thắt chặt hơn, tạo ra
những mạng lưới thông tin bổ ích cho các bên; Nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi
trồng thuỷ sản. [9]
- Đề tài: Mở rộng ứng dụng quy hoạch theo phương pháp tham gia ở hệ đầm phá
Tam Giang của Trương Văn Tuyển và nhóm nghiên cứu đã khẳng định: “việc ứng
dụng phương pháp có sự tham gia của người dân” trong quản lý tài nguyên được xem
như là một lựa chọn của phương pháp “từ trên xuống” không còn có hiệu quả để giải
quyết vấn đề trong hệ thống phức tạp ở phá Tam Giang. Phương pháp có sự tham gia là
công cụ có hiệu quả trong việc tìm hiểu cộng đồng và giải quyết các vấn đề trong quản
lý tài nguyên, đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng và các bên liên quan, nâng

- Hộ khai thác đánh bắt tự nhiên
+ Số lượng hộ tham gia vào các hoạt động khai thác: nò sáo, lưới…
20
+ Sản lượng khai thác (kg/hộ/ngày)
+ Thu nhập từ khai thác tự nhiên (đồng/ngày/hộ)
+ Hộ nuôi trồng thuỷ sản
+ Số hộ tham gia nuôi cá lồng
+ Số lượng lồng nuôi trên hộ (lồng/hộ)
+ Trọng lượng các loài nuôi chính
+ Môi trường đầm phá (dịch bệnh, nguồn nước )
- Tiêu chí xếp loại hộ qua các thời kỳ (đồng/người/tháng)
- Số hộ nghèo, khá, trung bình (hộ)
- Số lượng hộ thoát nghèo (hộ)
- Hiệu qủa của cải tiến quản lý đối với mục tiêu quản lý
- Tác động của cải tiến quản lý đến sinh kế của hộ dân
+ Cơ hội tiếp cận tài nguyên đầm phá so với trước cải tiến
+ Thay đổi về số hộ và quy mô nuôi trồng thuỷ sản, khai thác tự nhiên
+ Hiệu quả NTTS so với trước cải tiến
+ Hiệu quả khai thác đánh bắt tự nhiên so với trước cải tiến
+ Sự chuyển biến trong đời sống của cộng đồng
+ Sự chuyển biến trong đời sống vật chất
+ Sự chuyển biến trong đời sống tinh thần, văn hoá xã hội
+ Cơ cấu thu nhập, vai trò của các nguồn thu nhập
+ Cơ cấu chi tiêu, tích luỹ của các nhóm hộ hộ
- Tác động của cải tiến quản lý đến tài nguyên đầm phá.
+ Chất lượng môi trường đầm phá, dịch bệnh trong NTTS
+ Tác động đến một số loài thuỷ sản quan trọng
+ Tác động đến thực vật thuỷ sinh (rong)
+ Giao thông, dòng chảy trên đầm phá
3.4 Phương pháp nghiên cứu.

khi có sự thay đổi về công tác quản lý nó có tác động lớn đến nhóm hộ này. Và chọn cả
nhóm hộ nghèo và nhóm hộ không nghèo với mục đích xem xét tác động của cải tiến
quản lý đến hai nhóm hộ, và sự chuyển biến trong các nhóm hộ từ hộ nghèo lên trung
bình, khá
22
+ Dung lượng, phương pháp chọn mẫu: Khảo sát 45 hộ ở hai thôn, và phương
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng: chọn 25 hộ ở thôn Trung Làng trong đó 5 hộ
nghèo và 20 hộ không nghèo, 20 hộ thôn Hà Công trong đó 5 hộ nghèo và 15 hộ không
nghèo
+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu khảo sát với câu hỏi bán cấu trúc, và
sử dụng phương pháp đánh giá định tính để đánh giá vấn đề. Kết hợp với phương pháp
quan sát, tìm hiểu, dòng thời gian nhằm mục đích hiểu rõ hơn quá trình khai thác và
sư dụng tài nguyên của cộng đồng ven phá trong quá khứ (2003).
Nội dung chính:
+ Thông tin chung về hộ
+ Các hoạt động sinh kế, nguồn thu nhập, vai trò của nguồn thu
+ Tiếp cận tài nguyên mặt nước trong NTTS, khai thác tự nhiên
+ Đánh giá của hộ dân về các cải tiến quản lý tài nguyên đầm phá
+ Tác động của cải tiến quản lý đến sinh kế của hộ, tài nguyên
+ Sự chuyển biến về đời sống vật chất của hộ
+ Sự chuyển biến về đời sống tinh thần, văn hoá xã hội
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel
23
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm vùng đầm phá Quảng Thái, Quảng Lợi.
4.1.1 Vị trí vùng đầm phá hai xã Quảng Thái, Quảng Lợi
Quảng Thái và Quảng Lợi là hai xã nằm ở phía đông của huyện Quảng Điền với
phá Tam Giang chạy dọc theo hướng đông, mặt nước đầm phá của hai xã thuộc phía
bắc của phá Tam Giang, được giới hạn phía bắc là cửa sông Ô Lâu (thôn Lai Hà của xã
Quảng Thái) phía nam là thôn Cư Lạc của xã Quảng Lợi với diện tích 1.666 ha trong

4.1.3 Tình hình sử dụng tài nguyên đầm phá ở Quảng Thái, Quảng Lợi
4.1.3.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản, và khai thác tự nhiên của hai xã Quảng
Thái, Quảng Lợi từ 2003 - 2006.
Có diện tích măt nước đầm phá lớn là điều kiện thuận lợi để xã Quảng Lợi và
Quảng Thái phát triển ngành thuỷ sản, cả NTTS và đánh bắt khai thác tự nhiên. Đối
với hoạt động NTTS, với điều kiện vừa có mặt nước đầm phá vừa có ô bầu, ruộng
trũng … nên có thể phát triển với nhiều hình thức NTTS như: Nuôi ao hồ, nuôi cá lồng
… Còn với hoạt động đánh bắt tự nhiên, với sự đa dạng, phong phú về nguồn lợi thuỷ
sản, có nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao … là thuận lợi lớn để phát triển ngành
nghề khai thác đánh bắt tự nhiên, góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế xã nhà.
Qua bảng dưới có thể thấy được biến động về tình hình NTTS và khai thác tự
nhiên của hai xã Quảng Lợi, Quảng Thái trong 3 năm qua.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status