PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã Quảng Lợi là một xã nằm ở phía đông của huyện Quảng Điền, hoạt
động sinh kế chủ yếu của người dân là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trên phá
Tam Giang. Tuy nhiên hoạt động nuôi trồng, khai thác và đánh bắt của người
dân còn tồn tại nhiều hạn chế và theo phản ánh của ngư dân tham gia khai thác
trên phá, nguồn lợi thủy sản tại khu vực đang bị cạn kiệt, việc đánh bắt không
được nhiều như trước và thường là cá nhỏ, nhiều người phải bỏ nghề. Mặt
khác, nguy cơ ô nhiễm môi trường đang diễn ra đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi
trường nước.
Thừa Thiên Huế với đặc trưng nhiều đầm phá, đây là nguồn kiếm sống
của đại bộ phận nhân dân ở các huyện như: Phong Điền, Quảng Điền. Nếu như
trước đây người dân chỉ quan tâm đến việc khai thác các nguồn lợi từ các đầm
phá này đã gây ra không ít hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
nước, ảnh hưởng đến môi trường sống và hoạt động sinh kế của cộng đồng thì
hiện nay khi người dân ý thức được hậu quả do chính việc khai thác quá mức
gây ra, một số hoạt động có lợi cho môi trường, có lợi cho sản xuất đã được
quan tâm và lôi kéo nhiều thành viên trong cộng đồng cùng tham gia. Thừa
Thiên Huế nói chung và huyện Quảng Điền nói riêng đã có nhiều hoạt động
kêu gọi người dân tham gia bảo vệ môi trường nhằm hạn chế tình trạng ô
nhiễm môi trường đang lan rộng.
Điển hình đó là việc thành lập các Chi hội nghề cá đã phần nào giải
quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó Chi hội nghề cá còn tập
hợp mọi cá nhân, gia đình trực tiếp tham gia vào các hoạt động nuôi trồng và
đánh bắt và có nguyện vọng để hợp tác giúp đỡ nhau về kinh tế, kỹ thuật
trong sản xuất kinh doanh nghề cá; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường; tạo điều kiện cho hội
viên được vay vốn để mở rộng sản xuất. Chi hội đã làm chức năng tuyên
truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
liên quan đến nghề cá đối với bà con ngư dân; đồng thời phản ánh tâm tư,
nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị của bà con ngư dân đến các cấp có thẩm
2.1.1.1. Chức năng và nhiệm vụ: Là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp của
những người làm nghề cá thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, tự lo liệu và tự trang trải về kinh phí, sự hướng dẫn và
bảo trợ của ngành thủy sản các cấp từ TW đến địa phương. Tuyên truyền,
giáo dục và vận động mọi hội viên đoàn kết và giúp đỡ nhau (trao đổi kinh
nghiệm sản xuất, cho vay vốn sản xuất,…) trong hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển nghề cá, tổ chức đào tạo huấn luyện nhằm áp dụng kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến về nghề cá cho các hội viên và cộng đồng ngư dân, mở
rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế về nghề cá để hội nhập và phát triển [7].
3
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức.
* Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Hội nghề cá Việt Nam
Nguồn: Điều lệ hội nghề cá Việt Nam và một số văn bản pháp quy về tổ
chức và hoạt động, 2001
- Ở Trung ương: Hội nghề cá Việt Nam.
- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hội nghề cá tỉnh. Việc
UBND tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật. Nếu tự nguyện xin gia
nhập Hội nghề cá Việt Nam, có đơn gia nhập thì được công nhận là Hội thành
viên. Các Hội thành viên hoạt động theo điều lệ của mình, tuân thủ điều lệ
của Hội TW và chịu sự hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Hội.
- Ở cơ sở: đối với nghề NTTS có chi hội nghề cá theo đối tượng nuôi
(tôm, cá, thủy đặc sản), theo chuyên nghành dịch vụ (giống, thức ăn, thuốc
thú y thủy sản). Đối với nghề khai thác có chi hội theo thuyền nghề, đối tượng
đánh bắt, loại hình dịch vụ. Các hiệp hội nghề cá chuyên ngành nếu được
thành lập và tự nguyện xin gia nhập hội thì được công nhận là Hội thành viên.
4
HỘI NGHỀ CÁ
TỈNH,THÀNH PHỐ
TRỰC THUỘC
nghề cá ASEAN (AFF) và thông qua tổ chức khu vực này Hội nghề cá Việt
Nam cũng là thành viên của liên minh quốc tế các Hội nghề cá (IFCA). Thời
gian qua dưới sự bảo trợ của Bộ Thủy sản, Hội nghề cá Việt Nam đã tranh thủ
được sự giúp đỡ và tích cực tham gia đóng góp vào hoạt dộng chung có hiệu
quả của Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEX) về công tác
đào tạo cho hội viên trên các lĩnh vực: khai thác, chế biến, nuôi trồng, quản lý
và bảo vệ nguồn lợi [7].
2.2. Hội nghề cá Thừa Thiên Huế.
2.2.1. Hệ thống hội nghề cá Thừa Thiên Huế
Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổ
chức xã hội - nghề nghiệp tự nguyện của những cá nhân, tổ chức hoạt động
5
trong các lĩnh vực nghề cá. HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam
(VINAFIS) có phạm vi hoạt động trên toàn quốc [6].
Mục đích của Hội là tập hợp những cá nhân và tổ chức hoạt động trong
các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ nghề cá nhằm hợp tác, hỗ
trợ nhau về kinh tế - kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; để nâng cao giá trị
sản phẩm hàng hoá; phòng tránh thiên tai, ngăn ngừa dịch bệnh; bảo vệ và phát
triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ môi trường; đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp
của hội viên; góp phần phát triển nghề cá bền vững, từng bước hội nhập kinh tế
quốc tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người làm nghề cá và cộng
đồng nghề cá.
Chi hội nghề cá là một loại hình tổ chức ngư dân được nhiều nơi áp
dụng so với các loại hình tổ chức ngư dân còn lại như nghiệp đoàn hay HTX
thuỷ sản. Năm 2006 toàn tỉnh chỉ có 12 chi hội cơ sở nhưng đến cuối năm
2009 HUEFIS đã phát triển được mạng lưới chi hội rộng lớn với 54 chi hội
nghề cá cơ sở hoạt động tại cộng đồng thu hút khoảng 4.500 hội viên là ngư
dân và hộ sản xuất thủy sản. Mạng lưới các chi hội nghề cá vùng đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai được củng cố và phát triển đã giúp nâng cao hiệu quả
quản lý tài nguyên, phát triển sản xuất và cải thiện sinh kế cho cộng đồng.
Bước 2: Vận động người dân tham gia vào chi hội. Quá trình này quyết
định số lượng hội viên của chi hội.
Bước 3: Hoàn tất tất cả các thủ tục hoạt động, có con dấu được cấp
phép sử dụng của sở công an.
Bước 4: Tổ chức lễ ra mắt tại địa phương được dưới sự chứng kiến của
tỉnh hội nghề cá, các cơ qan chuyên môn quản lí thủy sản UBND và các đơn
7
TT. NGHIÊN
CỨU
PHÁT TRIỂN
CỘNG ĐỒNG
HỘI NGHỀ CÁ
THỪA THIÊN HUẾ
CÁC HỘI VIÊN
TT: CTY, HTX,
NGHIỆP
ĐOÀN
HỘI NGHỀ CÁ
CƠ SỞ
HỘI NGHỀ CÁ CƠ
SỞ
HỘI NGHỀ CÁ
CƠ SỞ
vị ban ngành ở địa phương cấp xã như: Đảng ủy địa phương, HĐND, Mặt
trận, HND…
Bước 5: Tổ chức đại hội (trong vòng 6 tháng đến một năm sau khi tổ
chức lễ ra mắt) để bầu chính thức các thành viên lãnh đạo (BCH chi hội) của
mình một cách dân chủ [6].
2.2.3. Tổ chức hoạt động chi hội nghề cá cơ sở.
Phương thức tổ chức, hoạt động của mỗi một chi hội nghề cá cơ sở
Nguồn: Điều lệ hội nghề cá Việt Nam và một số văn bản pháp quy về tổ chức
và hoạt động, 2001.
9
BAN CHẤP HÀNH
Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên, Thư ký
Cá nhân - hộ
Phân Hội
( Nhóm/đội)
Phân hội
(Nhóm/đội)
Phân Hội
( Nhóm/đội)
Cá nhân - hộCá nhân - hộ
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu tiến trình thành lập và hoạt động của chi hội nghề cá.
- Nghiên cứu đối tượng mà hoạt động chi hội hướng đến: đời sống ngư
dân địa phương, hộ hội viên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung: Trọng tâm nghiên cứu là tìm hiểu tiến trình thành lập và hoạt
động của chi hội Nghề cá cơ sở và vai trò của chi hội đối với hoạt động sản xuất
Không gian: Nghiên cứu chi hội Nghề cá cơ sở vùng đầm phá Tam Giang.
Thời gian : Tìm hiểu thông tin năm 2009
3.3 Nội dung nghiên cứu.
- Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu
• Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu thuỷ văn.
• Đặc điểm về đất đai, lao động…
- Tìm hiểu tiến trình thành lập chi hội nghề cá ở xã Quảng Lợi-Quảng
Mỹ Thạnh
+ Báo cáo tổng kết của chi hội nghề cá của thôn Ngư Mỹ Thạnh
+ Các tài liệu có liên quan đến Chi hội nghề cá đã được công bố như:
điều lệ hội nghề cá, nội dung quy chế của Chi hội nghề cá.
3.4.3 Thu thập số liệu sơ cấp.
- Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi bán cấu: Tổng số hộ điều tra theo bảng
hỏi là 30 hộ là thành viên của chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh, trong đó
15 hộ là hộ hoạt động đánh bắt tự nhiên và 15 hộ là hộ hoạt động nuôi trồng.
- Thảo luận nhóm: Tiến hành thảo luận nhóm (từ 7-10 người là thành viên của
chi hội nghề cá) về những thuận lợi và khó khăn mà người dân gặp phải khi tham gia
vào chi hội.
- Phỏng vấn người am hiểu (các thành viên BCH chi hội, cán bộ nòng
cốt của thôn, xã) về quá trình thành lập, hoạt động và quản lý của chi hội nghề
cá thôn.
3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu.
- Sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng
- Tiến hành phân tích, so sánh trước và sau khi tham gia vào chi hội nghề
cá, để tìm ra sự tác động và từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp.
- Số liệu thu thập được xử lý, phân tích bởi phương pháp thống kê thông
thường qua phần mềm Excel.
11
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình cơ bản của xã Quảng Lợi
Xã Quảng Lợi - huyện Quảng Điền, nơi được chọn là điểm nghiên cứu
là một xã nằm ven đầm phá. Nhìn chung về tự nhiên - kinh tế - xã hội, xã
cũng mang những đặc trưng chung của khu vực ven phá Tam Giang.
4.1. 1. Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình
Quảng Lợi là xã đồng bằng chiêm trũng ven phá Tam Giang ở cuối hạ
lưu sông Bồ. Nằm về phía bắc huyện Quảng Điền, cách thành phố Huế 20km
nắng nhiều nhất là tháng 4 – 9.
- Lượng nước bốc hơi và độ ẩm không khí: Luợng bốc hơi nước trong
năm trung bình là 990mm. Độ ẩm không khí bình quân cả năm đạt 83%, cao
nhất là tháng 11 đến tháng 2 năm sau, thời gian này độ ẩm đạt 85 – 88%.
(Nguồn: Số liệu thống kê của xã Quảng Lợi năm 2010).
4.1.2 Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích tự nhiên toàn xã Quảng Lợi là 3.245,28 ha, bao gồm đất
sản xuất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng và diện tích mặt
nước. Trong đó:
Đất nông nghiệp toàn xã là 1.191,8 ha chiếm 36,7% chủ yếu tập trung
các thôn Mỹ Thuận, Thuỷ Lập, Hà Lạc, Cổ Tháp, Đức Nhuận và Sơn Công.
Phần lớn đất nông nghiệp chủ yếu trồng lúa, lạc và hoa màu.
Đất phi nông nghiệp có diện tích 496,04 ha chiếm 15,3% được sử dụng
vào việc xây dựng nhà ở, trường học, đường giao thông…
Diện tích đất chưa sử dụng trong toàn xã chiếm 12,1%, đây chủ yếu là
những vùng đất ngập mặn ở các thôn ven đầm phá như thôn Ngư Mỹ Thạnh,
Hà Công, Cư Lạc và vùng đất cát bạc màu.
Tổng diện tích mặt nước toàn xã là 1.163,34 ha chiếm 35,9%. Là xã
chạy dọc theo đầm phá Tam Giang với chiều dài 3km, tổng diện tích mặt phá
thuộc xã quản lý là 900ha chiếm 77,36% tổng diện tích mặt nước toàn xã.
Còn lại 22,63% là diện tích ao đầm, kênh rạch… Tài nguyên mặt nước là
nguồn tài nguyên rất quan trọng của xã Quảng Lợi, một mặt nó đảm bảo nước
cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nông hộ trong xã , mặt
khác với hơn 900ha mặt nước phá Tam Giang đã cung cấp một nguồn tài
nguyên thuỷ sản quan trọng cho xã (Nguồn: Số liệu thống kê đất đai xã
Quảng Lợi năm 2010 ).
4.1.3 Dân số và lao động
*Dân số: Xã Quảng Lợi hiện có 1.624 hộ với 7.217 nhân khẩu. Số
nhân khẩu/ hộ bình quân của xã là 4,4 khẩu/ hộ, tuy nhiên có sự khác nhau
giữa các thôn. Thấp nhất là thôn Cư Lạc ( trung bình 3,4 khẩu/ hộ) và cao
góp của trồng trọt vào nền kinh tế của xã là 32,4% tổng thu nhập của xã. Hoạt
động trồng trọt của xã chủ yếu là trồng lúa, tập trung ở các thôn Đức Nhuận, Cổ
Tháp, Sơn Công. Bên cạnh đó người dân còn canh tác thêm một diện tích lớn
hoa màu.
14
4.1.4.3.Hoạt động chăn nuôi
Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của xã, thu từ chăn nuôi
chiếm tỷ trọng khá lớn và không ngừng gia tăng qua các năm. Năm 2009,
tổng giá trị sản xuất chăn nuôi đạt 5 tỷ 472 triệu đồng, tăng 1 tỷ 962 triệu
đồng so với năm 2007 (tương ứng tăng 14,5%). Có thể nói, tình hình chăn
nuôi của xã phát triển có hướng quyết định đến tốc độ phát triển của ngành
nông nghiệp xã nói riêng và tổng thể kinh tế xã nói chung.
4.1.4.4.Hoạt động công nghiệp-dịch vụ
Ngược lại, dịch vụ nông nghiệp do chưa được chú trọng phát triển nên tỷ
lệ đóng góp của ngành này qua các năm có sự giảm sút nhất định. Năm 2009, giá
trị dịch vụ nông nghiệp chỉ đạt 1 tỷ 101 triệu đồng, chiếm tỷ trọng thấp nhất với
4% và giảm 532 triệu đồng so với năm 2007 (tương ứng giảm 32,6%). Hiện nay,
dịch vụ nông nghiệp là ngành mới và đang khuyến khích phát triển ở nhiều địa
phương. Chính quyền xã cần quan tâm hơn nữa đến lĩnh vực này, nhằm gia tăng
giá trị sản xuất nông nghiệp cho địa phương trong những năm tới.( Nguồn: Số
liệu từ báo cáo kinh tế -xã hội của xã Quảng Lợi năm 2008-2009).
4.2 Tiến trình thành lập chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh
Xã Quảng Lợi là xã có nhiều hộ tham gia nuôi trồng đánh bắt thủy
hải sản, trong đó có những hộ hoạt động không có phương pháp và mang
tính hủy diệt làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, chủng loài
tôm cá giảm sút làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đầm phá. Cho đến hiện tại,
đã có 3 chi hội nghề cá được thành lập đó là Chi hội nghề cá thôn Cư Lạc
(thành lập năm 2006), Chi hội nghề cá thôn Hà Công (thành lập năm
2008), Chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh (thành lập năm 2009). Như
vậy ở xã Quảng Lợi sẽ có 3 chi hội Nghề cá hoạt động riêng biệt với
đáng của hội viên.
Thứ hai là ngăn chặn đánh bắt hủy diệt, cải thiện môi trường nước,
phát triển bền vững. Tổ chức hoạt động nuôi trồng, khai thác và đánh bắt
có quy hoạch.
Thứ ba là hướng dẫn quảng cáo mô hình, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm
giữa các thành viên, cải thiện sinh kế. Góp phần phát triển nghề cá của địa
phương nói chung và các cơ sở kinh tế nói riêng, từng bước cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần cho người làm nghề cá.
16
4.2.3. Tiến trình thành lập
Chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh xã Quảng Lợi được thành lập trên
cơ sở sự hiệp thương giữa tỉnh Hội nghề cá và các nhà quản lý thẩm quyền
chung ở cơ sở (UBND cấp xã) cũng như quản lý thẩm quyền chuyên ngành
thuỷ sản. Xuất phát từ nhu cầu của chính các hộ ngư dân. Tiến trình thành lập
Chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh diễn ra theo các bước sau:
+ Bước 1: Xuất phát từ thực trạng thôn Ngư Mỹ Thạnh là thôn có đa số
người dân tham gia các hoạt động nuôi trồng, khai thác và đánh bắt thủy sản
trên phá Tam Giang và từ chính nhu cầu của các hộ ngư dân cần một tổ chức
xã hội hợp pháp tập hợp các hộ ngư dân để nuôi trồng, khai thác, đánh bắt một
cách có quy hoạch, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất; được sự hỗ trợ của
chính quyền trong các hoạt động sản xuất UBND xã Quảng Lợi cùng với dự
án đồng quản lý đã tiến hành hiệp thương với Hội nghề cá tỉnh bằng văn bản để
thành lập Chi hội nghề cá thôn Ngư Mỹ Thạnh. Quá trình hiệp thương nhằm
bàn bạc một số vấn đề liên quan như xác lập tên gọi, phương thức quản lý và
bộ máy quản lý lâm thời.
+ Bước 2: Quá trình tham gia và vận động vào hội nghề cá đến từng
hộ dân. Cán bộ của dự án cùng cán bộ địa phương tiến hành vận động
tuyên truyền những lợi ích khi người dân tham gia vào chi hội đến từng hộ
dân, vận động tư tưởng cho người dân, quá trình vận động người dân tham
gia vào chi hội là rất khó khăn . Người dân chưa ý thức được vai trò của
mỗi phân hội là các phân hội trưởng.
18
BAN CHẤP HÀNH
(Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký,
2 Ủy viên)
Phân hội nuôi trồng
(1 phân hội trưởng
và 32 thành viên)
Phân hội đánh bắt
(1 phân hội trưởng và 64
thành viên)
4.2.4. Nội dung, quy chế.
Hoạt động xây dựng quy chế là một trong những hoạt động đầu tiên của
chi hội khi mới thành lập. Quy chế được các thành viên trong BCH bàn bạc
thảo luận đưa ra, sau đó sẽ tổ chức 1 buổi họp tất cả các thành viên lại để lấy
ý kiến. Sau khi được các thành viên trong toàn chi hội thống nhất về các nội
dung BCH đã tiến hành thành lập một hệ thống các điều lệ hoạt động chung
của chi hội. Căn cứ để xây dựng quy chế:
Thứ nhất là nội dung quy chế không vi phạm các quy định của hiến
pháp và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai là nội dung quy chế không vi phạm các quy định chung của
tỉnh hội nghề cá.
Thứ ba là quy chế được người dân địa phương chấp nhận, phù hợp với
truyền thống khai thác đánh bắt thủy sản từ lâu đời của địa phương. Căn cứ
vào nhũng luật lệ đó trong quá trình xây dựng quy chế chi hội đã có nhũng
quy chế riêng cho địa phương mình
Trong quá trình xây dựng quy chế các hội viên trong chi hội tham gia
đóng góp ý kiến tích cực và nhất trí với quy chế đưa ra. Tuy nhiên theo ông Phan
Linh phân hội trưởng phân hội đánh bắt cho biết qua quá trình hoạt động trong 2
năm có những quy chế đã có hiệu lực rõ rệt, nhưng cũng có những quy chế
Mỹ Thạnh
Điều 19: Hoạt động khai thác thuỷ sản trên mặt nước đầm phá thuộc địa phận
thôn Ngư Mỹ Thạnh do Chi hội nghề cá giao cho ban quản lý khai thác thuỷ
sản đầm phá trực tiếp quản lý dưới sự giám sát của BCH chi hội.
Điều 20: BCH chi hội có trách nhiệm tổ chức tuần tra bảo vệ ngư trường,
nguồn lợi thuỷ sản và môi trường NTTS, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao
thông thuỷ trên vùng nước thôn Ngư Mỹ Thạnh.
Điều 21: Hội viên có trách nhiệm tham gia tuần tra bảo vệ ngư trường theo
điều động của BCH, những người trốn tránh trách nhiệm xử lý như sau:
- Phạt 20,000đ/lần: bổ sung vào quỷ của chi hội
- Phạt 20,000đ cho những hội viên tiếp tay cho những người hành nghề
trái phép
Điều 22: Quy định các ngư cụ khai thác
- Các ngư cụ cố định
20
+ Chuôm: Số lượng chuôm tối đa cho phép là 80 trộ với khoảng cách giữa
các trộ chuôm là 100m và được đặt trong vùng khai thác thuỷ sản truyền thống.
+ Số lượng lồng cá/ghẹ: 10 lồng
+ Rớ giàn: ổn định số lượng 10 chiếc
- Ngư cụ di động: Các ngư cụ di động được tự do hoạt động trên mặt
nước đầm phá trư khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và khu vực đặt ngư cụ cố định.
Các ngư cụ di động phải có kích cỡ theo quy định của sở thuỷ sản và không
mang tính huỷ diệt đến môi trường và nguồn lợi. Việc sử dụng ngư cụ di động
phải được sự cho phép của BCH chi hội nghề cá và phòng Nông nghiệp phát
triển nông thôn.
Điều 22: Quy địng các ngư cụ không được khai thác
Các ngư dân khai thác thuỷ sản trên đầm phá cố tình hành nghề huỷ
diệt, bị bắt đươc sẽ bị chi hôị xử phạt theo quy định của nhà nước. Nếu vẫn cố
tình hành nghề thì chi hội đề nghị cấp trên xử phạt. Hội viên vi phạm nhiều
lần sẽ bị khai trừ ra khỏi chi hội
ở xã Quảng An, trong khi đó ở Quảng Lợi là tháng 11/2006 chính vì vậy, hoạt
động của chi hội cơ sở thôn Ngư Mỹ Thạnh hoạt động chưa thực sự mạnh. Khi
mới thành lập chi hội có 2 phân hội với 32 hội viên, hiện nay số hội viên của
phân hội đã tăng lên 96 hội viên, số lượng hội viên của chi hội đã tăng nhanh,
điều đó khẳng định hoạt động của chi hội đã thực sự có hiệu quả và thu hút được
các hộ ngư dân tham gia khi họ nhận thức được những lợi ích mà họ nhận được
khi tham gia vào chi hội.
4.3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ khảo sát.
Theo số liệu điều tra năm 2009 của chương trình FSPS II tỉnh Thừa Thiên
Huế tại xã Quảng Lợi, tỷ lệ hộ nghèo ở thôn Ngư Mỹ Thạnh chiếm 13,6%, số
nhân khẩu bình quân/hộ là 5,03. Theo ngành sản xuất, các hộ trong thôn điều
tra được chia làm 2 nhóm chính: Nhóm ngư hộ chuyên khai thác thuỷ sản và
nhóm nuôi trồng thuỷ sản. Nguồn nhân lực đối với nhóm hộ ngư nghiệp
tương đối dồi dào và còn rất trẻ, 60,3% nhân lực của nhóm ngư hộ đang trong
độ tuổi lao động. Tỷ lệ lao động là nam giới chiếm 54%, nữ giới chiếm 46%.
Thu nhập của người dân trung bình khoảng 41,7 triệu đồng/hộ/năm, trong khi
sinh kế của người dân chủ yếu là dựa vào tài nguyên vùng đầm phá. Đặc điểm
kinh tế xã hội của các hộ ngư dân được thể hiện ở bảng sau:
22
Bảng 1: Đặc điểm kinh tế xã hội của hội viên được khảo sát
Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2010
Qua bảng 1 cho thấy độ tuổi trung bình của các hội viên chi hội là
khá cao khoảng 44,9 tuổi, về trình độ học vấn theo phần trăm các hộ khảo sát
cho thấy trong chi hội chỉ có một người mù chữ, nhưng trình độ hoc vấn của
các hội vên chi hội là tương đối thấp, 50% hội viên có trình độ học vấn từ lớp
1-5, 36,67% có trình độ học vấn từ lớp 6-9, có 3 người học cao hơn, nguyên
nhân là do thôn Ngư Mỹ Thạnh là thôn chủ yếu làm ngư nghiệp và các hộ
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Chi hội nghề cá
1 Tuổi trung bình Tuổi 44,90
2 Trình độ học vấn Mù chữ (% hộ khảo sát) 3,33
cao 5,47 khẩu/hộ, số lao động/hộ là 3,1 lao động/hộ điều này chứng tỏ lực
lượng lao động của các hộ hội viên là khá dồi dào, đây là một điều kiện thuận
lợi để phát triển kinh tế hộ. Thu nhập bình quân của các hộ hội viên được
khảo sát là 41,7 triệu đồng/hộ. Đây là mức thu nhập tương đối cao đối với
một vùng chuyên sản xuất ngư nghiệp.
4.3.3 Các hoạt động tạo thu nhập của người dân.
Ở bất cứ một cộng đồng nào thì sinh kế cũng đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của cư dân ở cộng đồng đó. Đây là yếu tố quyết định đến thu
nhập của hộ. Những thay đổi trong hoạt động sinh kế làm cho đời sống của
người dân cũng thay đổi theo. Tuy nhiên nói chư vậy không có nghĩa chúng ta
chỉ chú ý đến thu nhập mà phải chú ý đến sinh kế bền vững. Đây là điều mà
mọi hoạt động hiện nay đang hướng đến. Đối với các hộ là hội viên của chi
hội nghề cá thôn thì có hai hoạt động tạo thu nhập chính là KTTS và NTTS.
Trong đó, tùy vào mỗi phân hội mà thu nhập do nuôi trồng hay đánh bắt mang
lại chiếm ưu thế, điều đó được thể hiện ở bảng sau:
24
Bảng 2: Đặc điểm sinh kế của hội viên được khảo sát
STT Các hoạt động Phân hội đánh bắt Phân hội nuôi trồng
Tỷ lệ hộ
tham gia
(% hộ khảo
sát)
Thu nhập
(tr.đ/hộ/năm)
Tỷ lệ hộ
tham gia
(% hộ khảo
sát)
Thu nhập
(tr.đ/hộ/năm