Thực trạng pháp luật Việt Nam về CP trong quá trình thành lập và hoạt động của CTCP - Pdf 26

Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều 15 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận:
“Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”.
Thể chế hóa những quy định này, đã có rất nhiều loại hình doanh nghiệp
được phép thành lập, hoạt động với nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Các công ty
mới được thành lập trên thực tế với số lượng đáng kể, trong đó CTCP là một
loại hình doanh nghiệp được rất nhiều nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn. Bởi đây
là loại hình công ty có nhiều ưu thế như: Khả năng tích tụ tập trung vốn cao và
linh hoạt, khả năng luân chuyển vốn tốt, mô hình quản lý tiên tiến……Chính
việc phát triển loại hình CTCP đã tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động huy động
vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và góp phần quan trọng vào việc phát triển
TTCK nâng cao hoạt động của nền kinh tế.
So với các nước trên thế giới thì CTCP ở Việt Nam ra đời muộn hơn. Từ Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta chuyển từ nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đường lối đổi mới từ Đại hội VI do Đảng Cộng Sản lãnh đạo đã khơi dậy sức
mạnh to lớn của dân tộc đem lại những thành tựu có ý nghĩa vô cũng quan trọng,
tạo ra những tiền đề đưa đất nước bước sang thời kỳ mới: Thời kỳ đẩy mạnh
công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ khi có nền kinh tế thị
trường, CTCP ở Việt Nam mới dần dần xuất hiện và được điều chỉnh trong LCT
1990. Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về CTCP. LDN 1999 cũng có những ghi nhận về
CTCP. Kế thừa những thành tựu và khắc phục những hạn chế của hai luật trên,
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
1
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp

3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ vấn đề CP trong CTCP
dưới góc độ pháp lý, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về CP và CTCP để đảm bảo thực thi có hiệu quả trên thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về CP của
CTCP như: Khái niệm CP; các loại CP; vấn đề chào bán, chuyển nhượng, mua
lại CP cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về CP….
Lý luận về CTCP là một lĩnh vực kiến thức lớn liên quan đến cả vấn đề
kinh tế và vấn đề pháp lý. Do đó, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu của
mình ở những nội dung sau: Đưa ra những vấn đề lý luận chung nhất về CP và
CTCP có sự so sánh ưu, nhược điểm với một vài loại hình doanh nghiệp khác.
Sau đó, luận văn tập trung nghiên cứu sâu vấn đề CP trong CTCP. Trên cơ sở đó
phát hiện ra được những hạn chế, thiếu sót của pháp luật về CP để có hướng
hoàn thiện phù hợp.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để đạt được hiệu quả, luận văn dựa trên các phương
pháp nghiên cứu như: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic, đối chiếu giữa lý luận và thực
tiễn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ yếu tố CP trong CTCP cả về lý
luận và thực tiễn, đồng thời đánh giá được pháp luật Việt Nam về CP.
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo trong một số trường hợp cụ thể.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được cơ cấu thành ba chương với
các nội dung cụ thể như sau:
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H

thể sở hữu một hoặc nhiều CP và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị CP
mà họ nắm giữ. Công ty có quyền phát hành CP rộng rãi trong công chúng để
huy động vốn” . Định nghĩa này nhấn mạnh đến cấu trúc vốn cũng như chế độ
trách nhiệm của thành viên.
LDN 2005 là văn bản hiện hành trực tiếp điều chỉnh về CTCP, đã không
đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ đưa ra những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản thể
1
Đại từ điển kinh tế thị trường (tài liệu dịch để tham khảo của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa
Hà Nội, năm 1998), Trang 1947.
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
5
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
hiện bản chất, để nhận biết loại hình doanh nghiệp này. LDN 2005 định nghĩa
như sau:
1. CTCP là doanh nghiệp trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và
không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng CP của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật này.
2. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh.
3. CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy CTCP là một loại hình doanh nghiệp
đặc trưng cho công ty đối vốn với những đặc điểm riêng điển hình về vốn, về
thành viên, về tư cách pháp nhân, chế độ chịu trách nhiệm và về cơ cấu tổ chức
bộ máy. Khái niệm CTCP theo LDN 2005 là một khái niệm khá đầy đủ và phản
ánh được bản chất của CTCP. Với định nghĩa này nội hàm của khái niệm CTCP

dng, d dng chuyn nhng to cho CTCP cú kh nng huy ng vn ln
u t kinh doanh. Ngoi ra, CTCP cũn c phỏt hnh chng khoỏn ra cụng
chỳng.
Th t: CTCP cú c cu t chc, b mỏy qun lý cht ch. Trong c cu
t chc, b mỏy qun lý cú s phõn chia quyn lc rừ rng gia cỏc b phn.
Vi quy nh khụng hn ch s lng thnh viờn ti a nờn CTCP cn cú mt
b mỏy qun lý cht ch, cú th kim soỏt kp thi nhng hot ng ca
CTCP, bo v quyn v li ớch hp phỏp ca cỏc bờn liờn quan. Tớnh cht ch
trong c cu t chc, iu hnh giỏm sỏt cụng ty khụng ch c phỏp lut Vit
Nam quy nh m nú cũn c ghi nhn trong hu ht phỏp lut doanh nghip
ca cỏc nc trờn th gii.
1.1.2. c trng phỏp lý ca CTCP.
Theo quy nh ca LDN 2005 thỡ CTCP cú nhng c trng phỏp lý sau:
Nguyễn Thị Việt Hà Kinh tế 31H
7
Trờng Đại học Luật Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
- V vn: Vn iu l ca CTCP c chia thnh nhiu phn bng nhau
gi l CP. Giỏ tr mi CP gi l mnh giỏ v c phn ỏnh trong c phiu. Vn
iu l ca cụng ty phi c th hin mt phn di dng CP ph thụng. Vn
iu l cụng ty cú th cú mt phn l CP u ói.[16, Tr 161]. Ngi ch s hu
vn CP c gi l c ụng. Mi c ụng cú th mua mt hoc nhiu CP. Trong
CTCP khụng gii hn s lng thnh viờn ti a, nờn cỏc nh u t khi cú vn
u cú th gúp vn vo CTCP. Ngoi ra, CTCP cũn c phộp phỏt hnh c
phiu, trỏi phiu do ú vic huy ng vn ca cụng ty ny rt d dng. Cú th
thy õy l mt im u vit hn so vi cỏc loi hỡnh doanh nghip khỏc.
Doanh nghip t nhõn l doanh nghip do mt cỏ nhõn lm ch, ngun
vn ban u ca doanh nghip xut phỏt ch yu t ti sn ca mt cỏ nhõn v
doanh nghip ny li khụng c phỏt hnh bt k mt loi chng khoỏn no.
Ti sn ca doanh nghip t nhõn cú c ph thuc vo kh nng, cỏc mi
quan h v ti ngoi giao ca mt mỡnh ch doanh nghip. Kh nng huy ng

viên lớn hơn nhưng cũng không được vượt quá con số 50.
Với quy định không giới hạn thành viên tối đa, đó là một lợi thế của
CTCP trong việc thu hút nguồn vốn lớn và huy động những người có tài, những
tổ chức có uy tín làm việc cho công ty. Tuy nhiên, chính vì không hạn chế số
lượng thành viên tối đa, nên việc quản lý điều hành công ty có khó khăn hơn so
với các loại hình doanh nghiệp khác.
- Về tư cách pháp nhân: LDN 2005 quy định CTCP có tư cách pháp
nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sở dĩ LDN
2005 ghi nhận đây là loại hình công ty có tư cách pháp nhân là bởi CTCP đáp
ứng được đủ các điều kiện tại điều 84 Luật dân sự năm 2005 về pháp nhân. Theo
quy định tại điều 84 thì:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau
đây:
1. Được thành lập hợp pháp;
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó;
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
9
Trờng Đại học Luật Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
4. Nhõn danh mỡnh tham gia cỏc quan h phỏp lut mt cỏch c lp
Khụng phi bt k mt loi hỡnh doanh nghip no cng cú t cỏch phỏp
nhõn. Do khụng cú s tỏch bch gia phn vn, ti sn a vo kinh doanh ca
doanh nghip t nhõn v phn ti sn cũn li thuc s hu ca ch doanh
nghip, nờn doanh nghip t nhõn khụng cú t cỏch phỏp nhõn.
Vi t cỏch phỏp nhõn m Lut doanh nghip mang li CTCP s hot
ng mt cỏch c lp, cú tớnh t chc cht ch, ti sn ca cụng ty c tỏch
bch rừ rng vi ti sn ca cỏc c ụng. Vic thay i c ụng khụng nh
hng n s tn ti ca CTCP. Chớnh vỡ vy, CTCP cú tớnh n nh cao trong
hot ng kinh doanh, m bo cho hot ng kinh doanh din ra liờn tc n

trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty và CTCP chịu trách nhiệm bằng chính
tài sản của mình. Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi
tài sản của cổ đông, trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền
góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho CTCP số tiền mua cổ phiếu phát hành.
1.2. Cổ phần
1.2.1. Khái niệm cổ phần.
CP ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự xuất hiện của CTCP. Thuật
ngữ CP ngày nay được sử dụng một cách phổ biến trên thế giới. Ở những nước
theo truyền thống dân luật, khái niệm CP được định nghĩa là đơn vị để phân chia
quyền sở hữu công ty. Do đó, CP không có mối liên hệ đến vốn điều lệ của công
ty. Giá trị thực của CP phụ thuộc vào khả năng phát triển của công ty cũng như
nhu cầu đầu tư của xã hội vào công ty. Còn theo luật của một số nước Châu Âu
khái niệm CP lại được định nghĩa như sau: Vốn điều lệ khi được chia nhỏ thành
những phần bằng nhau thì mỗi phần đó gọi là CP, vì vậy CP là một phần của
vốn điều lệ. Tuy nhiên, trong thực tế CP cũng phản ánh mức độ quyền sở hữu
đối với công ty của một cổ đông nào đó. Cổ đông góp vốn vào CTCP bằng cách
mua CP, khi mua CP người mua sẽ trở thành chủ sở hữu công ty.
Việt Nam đã tiếp cận khái niệm CP theo hướng thứ hai, theo đó CP là một
phần của vốn điều lệ. Nước ta đã có sự ghi nhận về vấn đề CP từ rất lâu, sự ghi
nhận này tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của CTCP.
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
11
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
Theo từ điển Luật học của nhà xuất bản (NXB) Tư pháp, năm 2006 thì:
“CP là phần vốn điều lệ được chia ra làm nhiều phần bằng nhau”. Có thể hiểu
CP thông qua ví dụ sau: CTCP có vốn điều lệ là 10 tỷ đồng. Số vốn đó được
chia thành 1 triệu phần bằng nhau mỗi phần có giá trị 100.000 đồng thì từng
phần có giá trị 100.000 đồng đó được gọi là một CP.
Như vậy, khái niệm trên đã có sự tách biệt giữa các loại vốn và trong khái
niệm CP nổi bật lên vai trò của vốn điều lệ. CP là một đại lượng được ghi nhận

ngữ trên tiếp tục được sử dụng trong LDN 1999 và LDN 2005. Ba luật này có sự
tương đồng nhau khi xây dựng khái niệm CP. Theo đó “CP là phần vốn điều lệ
của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau”. Từ định nghĩa này, ta thấy
CP có các đặc điểm: Là các phần nhỏ nhất bằng nhau được chia ra từ vốn điều
lệ; là căn cứ xác lập quyền sở hữu một phần công ty sau khi cổ đông đã thanh
toán đủ một số hoặc tất cả các CP đã đăng ký mua.
Khái niệm CP trong LDN 2005 là một khái niệm được các nhà lập pháp
xây dựng khá chính xác. CP trong CTCP chỉ có thể là vốn điều lệ của công ty
được chia thành nhiều phần bằng nhau chứ không thể là tất cả các loại vốn của
công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau. Điều này có thể được lý giải
thông qua bản chất của các loại vốn trong CTCP. Dưới góc độ pháp lý, vốn của
CTCP bao gồm các loại: vốn vay (vốn tín dụng), vốn chủ sở hữu của CTCP
[12].
- Vốn vay: Là khối tài sản mà CTCP huy động được thông qua các chính
sách, chế độ của nhà nước hoặc các hợp đồng giữa CTCP với các tổ chức, cá
nhân khác trong một thời hạn nhất định. Vốn vay của CTCP bao gồm nhiều loại:
Vốn vay của ngân hàng, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu, thông qua
kênh cho thuê tài chính, vay của các tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn
rỗi……Đây là một nguồn vốn quan trọng giúp công ty có thể tiến hành hoạt
động kinh doanh của mình một cách hiệu quả hơn, giải quyết nhu cầu thiếu vốn
của công ty. Tuy nhiên, trên thực tế việc các CTCP tiếp cận nguồn vốn vay
thông qua ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Để vay được vốn công
ty phải đáp ứng những điều kiện nhất định, do đó không phải CTCP nào cũng có
loại vốn này. Hơn nữa, đây là loại vốn không cố định, khi được vay vốn công ty
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
13
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
được toàn quyền sử dụng nguồn vốn. Tuy nhiên, công ty sẽ phải trả trong một
thời điểm nhất định nên không mang tính ổn định lâu dài. Vì vậy, loại vốn này
không được dùng để hình thành CP trong CTCP.

hạn chỉ được phép phát hành trái phiếu không được phép phát hành CP; còn
doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không được phép phát hành bất kỳ một
loại chứng khoán nào để huy động vốn trong công chúng. Bởi vậy, cổ phiếu
chính là sản phẩm riêng có của CTCP. Khi một công ty được thành lập, vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là CP (shares). Người mua CP gọi
là cổ đông (shareholder). Cổ đông được cấp một giấy xác nhận sở hữu CP gọi là
cổ phiếu (Equity securities). Cổ phiếu chính là chứng chỉ do CTCP phát hành
hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số CP của công ty đó.
Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Quyền sở hữu của cổ đông trong
CTCP tương ứng với số lượng CP mà cổ đông nắm giữ. Do đó, cổ phiếu còn
được gọi với một tên khác là chứng khoán vốn.
Trên cổ phiếu phải có những nội dung chủ yếu nhất như: Tên, địa chỉ, trụ
sở chính của công ty; số và ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; số
lượng CP và loại CP; Mệnh giá mỗi CP và tổng mệnh giá số CP ghi trên cổ
phiếu; họ tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số giấy chứng minh nhân dân, hộ
chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa
chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh
của cổ đông là tổ chức đối với cổ phiếu có ghi tên; tóm tắt về thủ tục chuyển
nhượng CP; chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty;
số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;
………Quy định này là cần thiết tạo ra một bằng chứng để xác nhận một nhà
đầu tư nào đó là chủ sở hữu một phần công ty và cũng là chứng cứ quan trọng
góp phần hạn chế tranh chấp về cổ phiếu.
Thực tế đã cho thấy có không ít những vụ việc nhà đầu tư mua CP nhưng
không được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông, không được cấp cổ phiếu hay công
ty không thực hiện việc chuyển nhượng cổ phiếu sau khi đã nhận đủ tiền. Hơn ai
hết, trong những trường hợp như vậy chính những người mua cổ phiếu là người
phải chịu rủi ro đầu tiên.
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
15

NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
16
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
luật nước này ghi nhận CP phải có mệnh giá và mệnh giá được xác định bằng
nội tệ. Các quốc gia theo hệ thống dân luật thường quy định cổ phiếu phải có
mệnh giá và chỉ cho phép cổ phiếu có mệnh giá được mua bán. Tuy nhiên,
không phải tất cả các nước theo hệ thống dân luật đều có quy định này. Braxin là
một ngoại lệ, quốc gia này đã thừa nhận cổ phiếu không có mệnh giá [11].
Ở nước Anh, quy định cổ phiếu không có mệnh giá không được sử dụng.
Ngược lại, ở Hoa Kỳ cổ phiếu không có mệnh giá là loại cổ phiếu phổ biến. Một
số tiểu bang của Hoa Kỳ còn khuyến khích phát hành cổ phiếu không có mệnh
giá để nhà đầu tư lựa chọn [11].
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người ta không dùng giấy
tờ để ghi chép cổ phiếu mà đưa các thông tin về cổ phiếu và hệ thống máy tính.
Các cổ đông có thể mở tài khoản cổ phiếu tại ngân hàng và được quản lý thông
qua hệ thống máy tính. Cổ phiếu có thể là chứng chỉ tức tờ cổ phiếu hay bút toán
ghi sổ. Nếu cổ phiếu là bút toán ghi sổ, thì những thông tin về cổ phiếu được ghi
trong sổ đăng ký cổ đông của công ty. Sổ đăng ký này có thể là văn bản hay dữ
liệu điện từ hoặc cả hai hình thức này. [16, Tr 160]
1.2.2. Vai trò của cổ phần
Bởi CP là yếu tố cốt lõi trong CTCP và là công cụ tài chính đặc biệt nên
CP nắm giữ một vai trò rất quan trọng đối với CTCP, cũng như đối với nền kinh
tế thị trường.
1.2.2.1. Vai trò của CP trong CTCP
- Vai trò của CP trong việc phân chia lợi nhuận. Lợi nhuận công ty thu
được sau khi đã nộp thuế và các nghĩa vụ khác được dùng để trả cổ tức. CP là tài
sản chứng minh tư cách sở hữu của cổ đông với công ty. Loại CP, số lượng CP
mà cổ đông sở hữu là yếu tố quyết định đến sự ưu tiên hưởng cổ tức cũng như số
cổ tức mà cổ đông nhận được. Cổ tức trước hết được ưu tiên trả cho các cổ đông
nắm giữ CP ưu đãi cổ tức. Phần còn lại được chia cho mỗi cổ đông phổ thông,

1.2.2.2. Vai trò của CP trong nền kinh tế thị trường
- Với công cụ là CP, CTCP đã huy động được một nguồn vốn lớn trong
công chúng để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế tỷ lệ vốn nhàn
rỗi. CP là công cụ giúp tách bạch giữa chức năng kinh doanh và chức năng cấp
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
18
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
vốn. Việc phát hành cổ phiếu của công ty đã tạo nên hai chủ thể là chủ thể đầu
tư và chủ thể gọi vốn. Người có sẵn tiền nhàn rỗi mà không muốn hoặc không
có khả năng kinh doanh, thì họ mua cổ phiếu để trở thành người chủ sở hữu một
phần công ty theo tỷ lệ góp vốn. Khi những CTCP cần mở rộng vốn để kinh
doanh mà không đủ vốn cần thiết thì có thể thông qua phát hành cổ phiếu để huy
động vốn.
- CP nói riêng và CTCP nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng với
TTCK. CTCP là chủ thể “sản xuất hàng hóa” cho TTCK, CP là hàng hóa chủ
yếu của TTCK. Việc phát hành CP của CTCP là cơ sở quan trọng góp phần hình
thành TTCK sơ cấp. CTCP và TTCK là sản phẩm của nền kinh tế thị trường,
chúng có mối quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau. CTCP phát hành cổ
phiếu ra công chúng tạo ra một lượng hàng hóa cho TTCK phát triển. Ngược lại
chính TTCK lại làm cho cổ phiếu có tính thanh khoản, cổ đông của CTCP có thể
chuyển cổ phiếu của mình thành tiền mặt trong một khoảng thời gian ngắn, nhờ
giao dịch trên thị trường. Hiện nay, CTCP đang giữ vai trò chủ yếu trong vệc
cung cấp cổ phiếu cho TTCK.
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
19
Trờng Đại học Luật Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp
CHNG 2
THC TRNG PHP LUT VIT NAM V C PHN TRONG QU
TRèNH THNH LP V HOT NG CA CễNG TY C PHN
2.1. Quy nh ca phỏp lut hin hnh v CP.

vào bất cứ lúc nào. Do nhu cầu khác nhau như vậy, nên cần thiết phải phân chia
thành các loại CP khác nhau. Sự phân chia này đã làm cho cấu trúc vốn của
CTCP linh hoạt hơn và dễ dàng huy động được vốn từ công chúng hơn. Đứng về
phía nhà đầu tư, họ cũng muốn góp vốn vào CTCP hơn các loại doanh nghiệp
khác, bởi họ có nhiều lựa chọn trước khi quyết định kinh doanh. Đó cũng là một
sức hút của CTCP, giúp công ty thu hút được nhiều nhà đầu tư.
2.1.1.1. CP phổ thông
CTCP phải có CP phổ thông. CP phổ thông là nền tảng của CTCP, tổng
giá trị loại CP này chiếm tỷ lệ lớn. Đây là loại CP bắt buộc mà tất cả các CTCP
đều phát hành. Quy định này của LDN 2005 giống pháp luật của nhiều nước
trên thế giới. Những nước như Thái Lan, Singapo ghi nhận CP phổ thông là
những CP quan trọng bắt buộc phải có trong CTCP.
Người nắm giữ CP phổ thông gọi là cổ đông phổ thông là đại diện và là
hiện thân về lợi ích của công ty. Cổ đông là người sở hữu ít nhất một CP đã phát
hành của CTCP, một CP phổ thông sẽ có một phiếu biểu quyết. Sở hữu CP phổ
thông sẽ đem lại cho cổ đông phổ thông những quyền và lợi ích cơ bản. CP phổ
thông của CTCP không thể chuyển thành CP ưu đãi. Nhưng CP ưu đãi có thể
chuyển thành CP phổ thông theo quyết định của ĐHĐCĐ.
- CP phổ thông của cổ đông phổ thông:
Đây là loại CP phổ biến nhất trong CTCP. Người sở hữu CP này được gọi
là cổ đông phổ thông. Quyền và nghĩa vụ của họ được pháp luật quy định chặt
chẽ, bởi đây chính là loại CP tạo nên sự ổn định trong công ty. Với CP phổ
thông trong tay cổ đông phổ thông sẽ được quyền quyết định những vấn đề quan
trọng nhất trong CTCP. Các quyền có thể kể đến như: Tham dự và phát biểu
trong các cuộc họp của ĐHĐCĐ; được quyền biểu quyết thông qua các vấn đề
của công ty; được quyền ưu tiên mua CP mới chào bán; được nhận cổ tức; được
tự do chuyển nhượng CP của mình cho các cổ đông và những người không phải
NguyÔn ThÞ ViÖt Hµ Kinh tÕ 31H
21
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp

22
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
trong trường hợp cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số CP đã đăng ký mua
như sau: Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số CP đó theo tỷ lệ sở hữu CP của
họ trong công ty; Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số CP đó; Hay
huy động người khác không phải cổ đông sáng lập nhận góp đủ số CP đó, người
nhận góp đó đương nhiên trở thành cổ đông của công ty.
2.1.1.2. CP ưu đãi
Là loại CP được ưu tiên hơn cổ đông nắm giữ CP phổ thông ở một khía cạnh
nào đó. Tuy nhiên các cổ đông nắm giữ những CP ưu đãi này cũng chịu những
hạn chế nhất định. Công ty có thể có CP ưu đãi hoặc không, việc có CP ưu đãi
hay không là vấn đề không bắt buộc. Người sở hữu CP ưu đãi gọi là cổ đông ưu
đãi. CP ưu đãi gồm các loại sau:
- CP ưu đãi biểu quyết: Là CP có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với CP
phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một CP ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty
quy định. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được
quyền nắm giữ CP ưu đãi biểu quyết. CP này có vai trò đặc biệt quan trọng
trong bối cảnh nước ta đẩy mạnh quá trình CP hóa doanh nghiệp nhà nước,
trong đó nhà nước có ý định duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, thông qua việc nắm giữ CP chi phối và CP đặc biệt. Những doanh
nghiệp nhà nước quan trọng, được nhà nước cấp đủ vốn không cần phải huy
động nhiều vốn từ dân chúng, thì thông thường khi chuyển đổi thành CTCP, tổ
chức được chính phủ ủy quyền sẽ nắm giữ CP ưu đãi biểu quyết trong công ty
đó. Tuy nhiên pháp luật chưa có hướng dẫn một cách cụ thể về tổ chức được
Chính phủ ủy quyền, nên nếu CTCP phát hành loại CP này thì thông thường chỉ
do cổ đông sáng lập nắm giữ.
Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm, kể từ
ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó CP
ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển thành CP phổ thông. Quy định
này cũng tạo cơ sở pháp lý cho các cổ đông sáng lập thực hiện các quyền của

nhun, ớt hoc khụng cú kinh nghim qun lý iu hnh doanh nghip .
- CP u ói khỏc do iu l cụng ty quy nh: õy l mt quy nh cú
tớnh d trự ca LDN 2005, lm m rng kh nng tha thun hỡnh thnh cỏc loi
Nguyễn Thị Việt Hà Kinh tế 31H
24
Trêng §¹i häc LuËt Hµ Néi Khãa luËn tèt nghiÖp
CP khác. Tuy nhiên, trên thực tế các CTCP chỉ phát hành các loại CP như trên
đã nêu chứ không đưa ra một loại CP ưu đãi mới. Bởi khi chưa có sự hướng dẫn
quy định cụ thể của pháp luật, mà phát hành thêm loại CP mới sẽ có thể gây ra
những rắc rối không đáng có trong hoạt động kinh doanh.
Pháp luật các nước như Thái Lan, Philippin, Malaysia quy định CP ưu đãi
trong CTCP có nhiều loại khác nhau được quy định trong điều lệ công ty hoặc
thỏa thuận thành lập. CP ưu đãi ở các nước này bao gồm: Ưu đãi cơ bản, ưu đãi
bỏ phiếu, ưu đãi không bỏ phiếu, ưu đãi dồn lãi, ưu đãi không dồn lãi, ưu đãi
phức hợp, ưu đãi có thể chuyển đổi…
Với cách phân chia các loại CP như trên, CTCP đã có một công cụ khai
thác nguồn tài chính rất đa dạng, thích ứng được với nhu cầu đầu tư của các cá
nhân, tổ chức trên thực tế.
2.1.2. Chủ thể có quyền mua CP trong CTCP
Không phải bất kỳ ai cũng có thể mua CP trong CTCP. Chỉ có những chủ
thể đáp ứng được những quy định của pháp luật mới được phép mua. Theo Điều
13 LDN 2005, mọi tổ chức cá nhân đều có quyền mua CP trừ các trường hợp
sau:
- Thứ nhất: Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ
quan đơn vị mình.
Điều 11 Nghị định 139/2007/NĐ - CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp có giải thích như sau:
Tài sản nhà nước bao gồm: Tài sản được mua sắm bằng vốn ngân sách
nhà nước và vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước; kinh phí được cấp từ ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status