tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập của đất nước để tiến lên xây dựng một xã hội
giàu mạnh, thì việc phát triển kinh tế vùng nông thôn đặc biệt cần quan tâm
hàng đầu. Chú trọng phát triển nông nghiệp, coi đó là thế mạnh của vùng
nông thôn. Phát triển nông nghiệp để tạo thế vững chắc cho phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
Đất nước ta với 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình phân chia tạo thành
các vùng đất khác nhau như: Vùng đồng bằng, vùng ven biển, vùng gò đồi.
Các vùng này có những khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Do
đó mà đã hình thành nên các hệ thống sản xuất đặc trưng riêng cho mỗi vùng.
Do điều kiện tự nhiên của mỗi vùng có sự khác nhau tương đối lớn nên
hệ thống cây trồng, vật nuôi cũng tương đối đa dạng để phù hợp với điều kiện
tự nhiên của vùng. Sự đa dạng trong hoạt động sản xuất đã tạo ra các sản phẩm
nông nghiệp của nước ta ngày càng phong phú và đa dạng như hiện nay.
Trong sản xuất thì có nhiều hình thức sản xuất như: sản xuất mang tính tự
cung tự cấp, sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, sản xuất hàng hóa quy mô vừa,
sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Có nhiều yếu tố quyết định đến các hình thức
sản xuất như: trình độ của người dân, giao thông, vị trí địa lí của vùng…
Thông thường thì vùng nào mà có vị trí địa lí thuận lợi như: Gần trung tâm
thành phố, gần đô thị hay có cơ sở hạ tầng tốt và người dân có trình độ cao thì
vùng đó sẽ hình thành nên hình thức sản xuất hàng hóa, ngược lại vùng nào
mà trình độ của người dân chưa cao, cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, cách xa
trung tâm thành phố, đô thị thì vùng đó sản xuất mang tính tự cung tự cấp, do
đó người dân của những vùng này thường có cuộc sống không đảm bảo.
Hiện nay vẫn đang còn xảy ra tình trạng đó là người dân của một số vùng
chưa xác định được hệ thống cây trồng nào cho phù hợp với điều kiện của vùng,
do đó mà chưa phát huy hết lợi thế so sánh của vùng dẫn đến kết quả là hiệu quả
mang lại từ sản xuất nông nghiệp là chưa cao, đời sống của bà con nông dân còn
gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, cần phải tìm hiểu và đưa ra các giải pháp để góp

chất là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộ
phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật
chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ
cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái. 2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt động
của con người trong sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. [5]
Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự hiểu biết không gian của sự phối
hợp các ngành sản xuất và các kĩ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn
các nhu cầu. Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh
học và sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội văn
hóa qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kĩ thuật khoa học. [3]
Một số nhà khoa học Mĩ cho rằng: Hệ thống cây trồng là sự bố trí một
cách thống nhất và các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia
đình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu và nguồn
lực của nông hộ.
3
Hệ thống trồng trọt là một hệ thống con và trung tâm của hệ thống nông
nghiệp, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ thống phụ khác
như chăn nuôi, chế biến [4]
Với khái niệm về hệ thống cây trồng như trên thì hệ thống trồng trọt là
bộ phận chủ yếu của hệ thống cây trồng.
Hệ thống cây trồng là việc thực hiện mô hình canh tác cây trồng có sự liên
quan giữa những cây trồng này với môi trường bên ngoài bao gồm thích nghi điều
kiện tự nhiên, lao động và cách quản lý để cho hiệu quả kinh tế cao. [3]
- Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo
không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp [4]
Nghiên cứu về hệ thống sản xuất là một vấn đề rất phức tạp vì nó liên
quan đến nhiều yếu tố như: Đất đai, khí hậu, vốn, trình độ khoa học kĩ thuật,
vấn đề sâu bệnh, dịch bệnh, thị trường…Mục đích của việc nghiên cứu các hệ
thống sản xuất là nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất cây

gian dài khi chịu tác động của stress hoặc sự đảo lộn. Một hệ thống nông nghiệp
bền vững được coi là bền vững khi bị stress xảy ra sức sản xuất có thể bị giảm
nghiêm trọng sau đó sức sản xuất được phục hồi và duy trì ổn định.
- Tính công bằng: Được đo lường bằng sự phân bố tài nguyên đến những
người tham gia sản xuất trong cùng hệ thống.
- Tính tự chủ: Tính tự chủ của hệ thống được biểu thị bằng khả năng tự
vận hành sao cho có hiệu quả mà ít lệ thuộc vào môi trường.
Trong sáu đặc tính trên gồm cả đặc tính về sinh học và đặc tính về xã hội
của hệ thống.
2.1.4. Các loại hệ thống nông nghiệp
Nông nghiệp du canh: Nông nghiệp du canh là sự thay đổi nơi sản xuất từ
vùng này sang vùng khác, từ khu vực đất này sang khu vực đất khác sau khi
độ phì của đất đã nghèo kiệt.
Hệ thống du mục: Du mục là một phương thức sản xuất nông nghiệp chủ
yếu gắn liền với các hệ thống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng này
sang vùng khác. Các kiểu du mục: Du mục hoàn toàn là sự di chuyển đàn gia
súc của họ từ vùng này đến vùng khác quanh năm. Họ đều không có nhà cửa
5
cố định và không có hoạt động trồng trọt. Bán du mục là những người dân chỉ
nuôi và chăn thả đàn gia súc theo mùa của đồng cỏ tự nhiên.
Hệ thống nông nghiệp cố định: Là các hoạt động sản xuất nông nghiệp
của người dân được tiến hành trên những vùng, khu vực hay trên các mảnh
đất cố định qua các năm. Bao gồm các kiểu hệ thống nông nghiệp sau:
+ Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hóa: Là những hệ thống nông
nghiệp chuyên sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm nhất định. Từ đặc điểm
của điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của vùng, hay tập quán xã hội của một
vùng nào đó. Được phân công của xã hội mà được sản xuất một hoặc 2 loại
sản phẩm chính.
+ Hệ thống nông nghiệp cố định hỗn hợp: Là hệ thống sản xuất bao gồm
nhiều loại sản phẩm cả sản phẩm trồng trọt lẫn sản phẩm chăn nuôi

giúp cung cấp đầy đủ khí nitơ và làm giảm đi sự cạnh tranh của cỏ, do đó làm
tăng sản lượng cây trồng. [8]
Vào mùa Đông ở vùng đồng bằng và các tỉnh phía Bắc trồng các cây có
nguồn gốc xứ lạnh (khoai tây, cải bắp, xu hào ) hoặc các nhóm cây xứ nóng
ngắn ngày như (ngô, đậu rau các loại ) không nhũng nâng cao sản lượng,
tăng hiệu quả kinh tế mà còn có tác dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất [6].
Theo tác giả Bùi Huy Đáp [1] với “cơ sở khoa học của cây vụ đông” đã di sâu
nghiên cứu bố trí cây vụ đông cho nhiều vùng sinh thái có hệ thống luân canh
2 vụ lúa – 1 vụ đông hoặc 1 vụ lúa – 1 vụ màu – 1 vụ đông.
Lê Quốc Hưng (1994) [2] khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho
vùng gò đồi tỉnh Hà Tây đã đề xuất mô hình canh tác mới đem lại hiệu quả
kinh tế cao hơn mô hình cũ.
- Trên chân đất cao thiếu nước: Cây ăn quả - lúa – cá.
- Trên đất gò đồi đang canh tác: Chè – cây ăn quả - dứa.
- Trên đất gò đồi hoang hóa: cây keo tai tượng cải tạo đất, đến năm thứ 6
thu hoạch và trồng cây công nghiệp dài ngày.
Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăn nuôi.
Thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hệ thống chăn nuôi gia
cầm và HPAI. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 3-8/2007 tại tỉnh Hà Tây (Đồng
bằng sông Hồng) và Long An (Đồng bằng sông Cửu Long). Kết quả nghiên
cứu là có 3 hệ thống chăn nuôi gia cầm chính bao gồm các hệ thống chăn nuôi
gia cầm quy mô hàng hóa với sự đầu tư tốt chuồng trại (hệ thống 1); Các hệ
thống chăn nuôi gia cầm quy mô hàng hóa không có đầu tư chuồng trại (hệ
7
thống 2); Hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ (hệ thống 3). Số lượng gia
cầm được nuôi trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô hàng hóa nhiều
hơn rất nhiều hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ. Số lượng các loài gia
cầm được nuôi trong các hệ thống 2 và 3 nhiều hơn trong hệ thống 1. Tỷ lệ
các nông hộ có đàn gia cầm bị mắc H5N1 trong giai đoạn 2003-2005 ở hệ
thống 2 và 3 nhiều hơn hệ thống 1 (21%-59% so với 33%-36%). Hệ thống 2

nghiã là không bị ngấm xuống đất.
Nhìn chung, một hệ thống như vậy mang lại kết quả chăn nuôi rất tốt
(Jensen và Andersen, 2000). Tuy nhiên, việc kiểm soát ký sinh trùng là rất
khó. Một điểm thú vị khác của phương thức này là lượng Nitơ mất đi từ khu
vực bên ngoài nhỏ hơn nhiều so với những gì dự đoán (Mứller et al., 2000) và
lượng Nitơ lỏng thu được trong vùng đất này là cực kỳ thấp, thể hiện rằng
lượng Nitơ này được tạo gắn sâu vào ổ rơm dày qua con đường vi sinh vật.
Đối với lợn nái nuôi ngoài trời, Vaarst và cộng sự (2000) theo dõi một
vài bệnh lâm sàng. Những tổn thương cơ học gây gãy chân, tổn thương da và
cháy nắng là những biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất. Feenstra (2000) đã
nghiên cứu sự lan truyền mầm bệnh qua các mẫu máu và kiểm tra phổi lúc
giết mổ từ 4 đàn lợn nuôi hữu cơ. Kết luận rằng phổi của chúng tốt hơn so với
những đàn nuôi theo phương thức truyền thống, điều này tương tự như kết
quả cuộc điều tra của Thụy điển tiến hành tại lò mổ (Hansen và cộng sự
1999).
Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chế biến
Trường đại học Nông Lâm TP.HCM đã kết hợp với Sở Công Thương
Tiền Giang thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị chế
biến hủ tiếu quy mô vừa và nhỏ năng suất 1 tấn/ngày” nhằm tìm ra giải pháp
về công nghệ và thiết bị để giải quyết những khó khăn trên trong việc sản
xuất, đáp ứng nhu cầu sản xuất hủ tiếu của địa phương; Đề tài do PGS.TS
Nguyễn Hay và KS. Nguyễn Văn Công đồng chủ nhiệm. Với mục tiêu giảm
bớt các công đoạn thủ công và hạn chế việc phụ thuộc vào thời tiết trong quá
trình sản xuất hủ tiếu, chủ động trong sản xuất, và bảo đảm an toàn vệ sinh
thực phẩm, nhóm thực hiện đề tài đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo các thiết bị
chính đưa vào sử dụng trong các công đoạn sản xuất truyền thống. Kết quả
nghiên cứu cho thấy. Một là:Việc nghiên cứu chế tạo hệ thống chế biến hủ
tiếu đáp ứng nhu cầu chế biến hủ tiểu của các hộ, các cơ sở hủ tiếu. Hai là: Hệ
9
thống chế biến hủ tiếu được chế tạo dựa trên quy trình chế biến thủ công,

quả tập trung. Người dân đã tự bỏ vốn trồng thêm hàng trăm hécta cây ăn quả
10
phân tán trong vườn rừng, tạo ra một vùng cây ăn quả lớn, trù phú, nhưng do
không có đầu ra ổn định, giá cả bấp bênh, có năm giá nhãn rớt xuống chỉ còn
1.500đồng/kg. Nhà nước chưa đầu tư xây dựng hoặc liên kết xây dựng nhà
máy chế biến nên năm 2006, 2007 dân Cẩm Châu đã chặt gần 2.000 gốc
nhãn, vải để trồng luồng và quay lại sản xuất lương thực vì ngô sắn đang có
giá cao. Những cây nhãn còn lại trên đồi cũng bị tỉa thưa cành nhánh sát đến
ngọn. Họ không quan tâm đến năng suất cây ăn quả mà nghĩ làm sao rút đất
ra cho sản xuất lương thực càng nhiều càng tốt. Rõ ràng bài toán cây ăn quả
vùng đồi vẫn loanh quanh chưa có định hướng phát triển bền vững, cũng như
trong nông nghiệp với cây mía, cây dứa, cà phê hoặc bò sữa người dân dễ
mất phương hướng chạy theo thị trường ngắn hạn.[11]
Các nghiên cứu về hệ thống sản xuất ở vùng đồng bằng.
Các hệ thống sản xuất chính là, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi
và nuôi cá quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và chăn
nuôi động vật dạ dày đơn quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh - chăn
nuôi và canh tác cây ăn quả hoặc làm vườn quy mô hàng hoá, hệ thống sản
xuất đa canh – chăn nuôi và thu nhập từ các công việc ngoài nông nghiệp và
hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và bán một phần các sản phẩm ở quy
mô sản xuất nhỏ.
11
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm nghiên cứu
Chọn điểm để tiến hành nghiên cứu là xã Phong An, huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống sản xuất tại xã Phong An.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

tham gia vào hoạt động ngành nghề, dịch vụ để tiến hành phỏng vấn hộ.
Phương pháp phỏng vấn hộ bằng bảng câu hỏi có cấu trúc, bán cấu trúc.
Phỏng vấn người am hiểu (các trưởng thôn).
3.6. Phương pháp xử lý số liệu
Kiểm tra thông tin, loại bỏ những thông tin không đáng tin cậy trước
khi đưa vào phân tích xử lý.
Phân tích thông tin: Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm
Excell trên máy tính.
13
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình hình cơ bản của xã Phong An
4.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Phong An
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của xã được xác định như sau:
Phía Bắc giáp thị trấn Phong Điền, xã Phong Hiền.
Phía Tây giáp xã Phong Thu, xã Phong Xuân.
Phía Đông giáp huyện Quảng Điền.
Phía Nam giáp xã Phong Sơn.
Xã Phong An có vị trí trải dài trên tuyến đường quốc lộ 1A, đoạn từ cầu An
Lỗ đến thị trấn Phong Điền. Do giáp tuyến đường giao thông huyết mạch của
cả nước nên việc trao đổi mua bán sản phẩm diễn ra rất mạnh mẽ.
4.1.1.2. Địa hình
Xã Phong An là xã đồng bằng có diện tích tự nhiên 3.228 ha. Địa hình
được chia thành 2 vùng: vùng đồng bằng và vùng trung du (gò đồi), với diện tích
vùng đồng bằng lớn hơn nên xã Phong An vẫn được xem là xã đồng bằng. Địa
hình được bao bọc bởi con sông Bồ nên hằng năm thường diễn ra nhiều trận lũ
lụt gây thiệt hại đến tài sản và mùa màng của bà con. Nhưng hằng năm đất đai
cũng được những trận lũ này bồi đắp một lượng phù sa tương đối lớn, điều này
có một ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.

0
C, tháng nóng nhất thường
là tháng 6 hoặc tháng 7 nhiệt độ trung bình 29
0
C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6)
lên đến 39,4
0
C.
Mùa lạnh: Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau do chịu ảnh hưởng của gió
Đông Bắc nên mưa nhiều,trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh từ 17
0
C –
22
0
C, tháng có nhiệt độ thấp nhất( tháng 1) xuống 15
0
C.
Với điều kiện nhiệt độ này đa số các loại lạc, sắn, rau màu, đậu đỗ các
loại chỉ thích hợp trong vụ Đông Xuân, còn vụ Hè Thu thì chỉ rất ích giống
là thích hợp. Nhưng lúa là loại cây trồng khá thích hợp với điều kiện nhiệt độ
này trong cả hai vụ. Tuy nhiên để có năng suất lúa vụ Hè Thu cao thì cần phải
thu hoạch khẩn trương trước ngày mồng 2/9. Nếu không thì sẽ gặp nhiều rủi
ro và có thể mất trắng vụ Hè Thu.
Chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm trung bình của các tháng được thể hiện ở
bảng sau:
15
Bảng 1: Số liệu thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2000 đến năm 2010
của xã Phong An
Tháng
Nhiệt độ

2

- Lưu lượng nước: mùa lũ là 4000m
3
, mùa kiệt 0,5m
3
/s
(Nguồn: Trạm thủy văn KM17- QL1A)
16
Chế độ mưa:
Xã Phong An có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình hằng năm
đạt 2.800 – 3000mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa, 2
tháng có mưa lớn nhất là tháng 10 (lượng mưa: 711,9mm) và tháng 11(lượng
mưa: 840,1mm) chiếm 45% tổng lượng mưa toàn năm nên thường có lũ lụt
xảy ra vào thời gian này. Tháng 3 có lượng mưa thấp nhất với lượng mưa đo
được là 61,5mm.
Vì lượng mưa lớn thường rơi vào các tháng 9,10,11,12 nên khi bố trí
lịch thời vụ cần tránh thu hoạch vào các tháng này. Cần bố trí vào các tháng
có thời tiết khô ráo để tránh thiệt hại trong thời điểm trước và sau thu hoạch.
Độ ẩm:
Độ ẩm không khí trong vùng trung bình đạt 84%, trong mùa mưa độ
ẩm lên đến 90%.
Ẩm độ trung bình của các tháng giao động từ 77,3% - 92,6%. Từ tháng
10 năm trước đến tháng 2 năm sau, độ ẩm đạt cao nhất 90,4% - 92,6%. Độ ẩm
cao đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại, ảnh
hưởng xấu tới quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng. Vào
các tháng có độ ẩm cao này thì không thuận lợi để thu hoạch các sản phẩm có
hạt như lúa, đậu đỗ các loại. Nếu thu hoạch về thì tỉ lệ sản phẩm bị hư hỏng
cao, đồng thời sẽ không bảo quản được trong thời gian dài. Nhưng đây lại là
điều kiện hết sức thuận lợi cho các giai đoạn như làm bông và phơi màu của

Bảng 2: Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã
Chỉ tiêu ĐVT
Số lượng Tỉ lệ (%)
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2010
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2010
Tổng diện tích
đất tự nhiên
Ha 3.228 3.228 3.228 100 100 100
I. Đất nông nghiệp Ha 679,17 688,53 559,10 21,04 21,33 17,32
1. Đất trồng cây
hằng năm
Ha 675,17 684,33 528,40 20,91 21,20 16,37
2. Đất trồng cây
lâu năm
Ha 4 4,2 30,07 0,12 0,13 0,95
3.Mặt nước nuôi
trồng thủy sản
Ha 3 49,9 65,90 0,09 1,54 2,04
II. Diện tích đất
chuyên dùng

sẽ tiến hành phủ xanh đất trống đồi núi trọc (35,72ha rừng trồng nguyên liệu)
và chuyển 4ha đất khai thác đá bị bỏ hoang sang làm nghĩa trang nhân dân
cho các thôn vùng gò đồi.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động đây là loại tài sản vô cùng quý giá và quan trọng,
nó quyết định đến việc phát triển kinh tế của địa phương. Nó có thể làm cho
nền kinh tế của địa phương phát triển mạnh nhưng ngược lại thì nó có thể làm
cản trở sự phát triển nền kinh tế của địa phương. Khi mà việc làm và đời sống
của nhân dân được đảm bảo thì khi đó nó thể hiện mặt tích cực của nó. Ngược
lại khi mà nhân dân thiếu việc làm, không có thu nhập, đời sống không đảm
bảo thì khi đó sẽ thể hiện mặt tiêu cực của nó như thường xảy ra các tệ nạn xã
hội như trộm cắp, nghiện ngập Do đó mà muốn có một nền kinh tế phát triển
thì trước hết phải quan tâm đến việc làm và đời sống của nhân dân, nếu không
20
thì sẽ không bao giờ có sự phát triển. Với ý nghĩa này tôi đã tìm hiểu cơ cấu
dân số và lao động của xã.
Bảng 3: Tình hình dân số và lao động của xã Phong An
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010
Số
lượng
Tỉ lệ
( %)
Số
lựơng
Tỉ lệ
( %)
I. Tổng số hộ
Hộ
2.388 100 2.468 100

21
sản xuất nông nghiệp tăng lên 80 hộ. Số nhân khẩu của xã năm 2010 là 12316
người tăng 122 người so với năm 2009. Số nhân khẩu nam chiếm 62,19% ,
còn số nhân khẩu nữ chỉ chiếm 37,81%. Số nhân khẩu nam có xu hướng giảm
dần, còn số nhân khẩu nữ có xu hướng tăng dần từ 37,76 % - 37,81 %.
Tổng số lao động cũng có xu hướng tăng dần từ 5475 lao động tăng lên
5600 lao động. Lao động nữ chiếm 48%, còn lao động nam chiếm 52%, đây
là một thuận lợi trong sản xuất nhất là trong sản xuất nông nghiệp cần những
lao động khỏe mạnh. Lao động nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn hơn lao động phi
nông nghiệp và lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần, ngược lại thì lao
động phi sản xuất nông nghiệp có xu hướng tăng dần. Lao động sản xuất nông
nghiệp từ 60,38 % xuống còn 60,18 %. Lao động phi sản xuất nông nghiệp từ
39,62% lên tới 39,82 %. Bình quân mỗi hộ gia đình có 4,99 người, có 2,27
lao động trong đó có 1,36 là lao động nông nghiệp. Số nhân khẩu/hộ, số lao
động/hộ và số lao động nông nghiệp/hộ đều có xu hướng giảm dần trong hai
năm 2009 và 2010. Năm 2009, trung bình mỗi hộ gia đình có 5,10 người
nhưng đến năm 2010 thì giảm xuống còn 4,99 người. Bình quân lao động/ hộ
năm 2010 là 2,27 người trong khi năm 2009 là 2,29 người. Lao động nông
nghiệp năm 2009 là 1,38 lao động, còn năm 2010 là 1,36 lao động, bởi vì
nhiều lí do như: Xã hội ngày càng phát triển thì mỗi con người được học hành
đầy đủ hơn do đó mà tỉ lệ công dân đi học ngành, học nghề là lớn, hai nữa do
có nhiều khu công nghiệp ra đời, nó đã thu hút rất nhiều lao động, nhất là lao
động từ sản xuất nông nghiệp. Điển hình có 50 lao động được đào tạo tại
trung tâm dạy nghề Phong Điền và đã hợp đồng lao động tại nhà máy SCAVI
Thừa Thiên Huế năm 2009 và 150 lao động năm 2010.
4.1.2.2. Tình hình cơ bản về giao thông và thủy lợi
Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình sản xuất. Cơ sở hạ tầng nó biểu hiện cho sự phát triển của
một quốc gia, một vùng miền, một địa phương…Ở các quốc gia phát triển, cơ
sở hạ tầng và hệ thống giao thông, thủy lợi hiện đại đã góp phần đẩy nhanh

Hệ thống thủy lợi phục vụ tưới và tiêu nước của xã là đã khá hoàn
thiện. Năm 2009 tiến hành nâng cấp và cải tạo mở rộng 9,02 km kênh mương
bê tông của các thôn trên toàn xã. Tổng số vốn đầu tư là 2.882,844 triệu đồng có
đóng góp 15% thuộc nguồn vốn phát triển sản xuất của cơ sở và ngân sách của
xã, đồng thời có sự đóng góp từ nguồn ngân sách của huyện Phong Điền. Năm
2010, tiếp tục tiến hành nâng cấp và kiên cố 2 km kênh mương và bê tông hóa
giao thông nông thôn thêm 2km. Tiến hành sỏi hóa 3 km vùng nội đồng.
23
4.2. Đặc điểm hệ thống sản xuất của cộng đồng
Qua quá trình điều tra, tìm hiểu thực tế ở địa phương thì tôi nhận thấy ở
xã Phong An có cả hệ thống sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản) và hệ thống sản xuất phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp,
ngành nghề, buôn bán…). Các hệ thông này có sự khác nhau về quy mô, năng
suất và số hộ tham gia.
4.2.1. Hệ thống trồng trọt
Các loại cây được trồng chủ yếu trên địa bàn xã là cây lúa, cây lạc, cây
sắn, đậu đỗ, rau màu các loại (rau khoai, rau cải, rau dền, rau thơm ).
Tổng diện tích gieo trồng các loại cây này là 895,34 ha. Các loại cây trồng
này có sự khác nhau đáng kể về diện tích, thời vụ gieo trồng cũng như năng
suất và sản lượng thu được.
Bảng 4: Hệ thống trồng trọt của xã Phong An
Năm
Năm 2009 Năm 2010
Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
Diện tích
(ha)
Tỉ lệ

+ Khoai lang
Lúa là cây trồng có diện tích gieo trồng lớn nhất trong hệ thống trồng
trọt của địa phương. Diện tích trồng lúa năm 2010 là 650,79 ha tăng 14,66 ha.
Cụ thể: Năm 2009, diện tích gieo trồng lúa nước 2 vụ là 621,47 ha chiếm
70,61% tổng diện tích gieo trồng. Lúa 1 vụ là: 14,66 ha chỉ chiếm 1,66% tổng
diện tích gieo trồng. Năm 2010, diện tích trồng lúa 2 vụ là 650,79 ha chiếm tỉ
lệ 72,68%, trong khi diện tích lúa 1 vụ không còn nữa. Nguyên nhân là do
năm 2009 UBND xã Phong An tiến hành nâng cấp và mở rộng hệ thống
mương máng, thủy lợi nên chủ động được nước tưới cho những vùng không
trồng được trước đây.
Phương thức canh tác lạc xen sắn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các
hộ gia đình nên diện tích gieo trồng năm 2010 được tăng lên 8,7 ha so với
năm 2009. Đây là hình thức canh tác chiếm diện tích lớn đứng thứ 2 sau cây
lúa nước canh tác 2 vụ. Năm 2009, với diện tích gieo trồng là 131,05 ha
chiếm tỉ lệ 14,87% tổng diện tích gieo trồng năm 2009. Năm 2010, đạt diện
tích 140,2 ha chiếm 15,56% tổng diện tích gieo trồng của năm.
25

Trích đoạn Bảng 12: Thông tin về nhóm hộ kiêm Bảng 13: Đặc điểm của các nhóm hộ kiêm Bảng 14: Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ kiêm Bảng 15: Cơ cấu thu nhập của ngành nghề và dịch vụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status