đánh giá sự đa dạng hóa sinh kế với xóa đói giảm nghèo ở xã quảng lợi huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề:
Nông thôn đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Các loại
hoạt động nông lâm ngư nghiệp đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc gia. Trong những năm qua từ một đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh,
nền sản xuất lạc hậu, thu nhập và đời sống của người dân chủ yếu dựa vào hoạt
động sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Nông thôn đã chứng tỏ vai trò trong sự phát
triển của đất nước từ chỗ ổn định đời sống của người dân trong nước về lương thực
tiến đến các sản phẩm của nông lâm ngư nghiệp này ngày được xuất khẩu càng
nhiều đóng góp vào kinh tế của đất nước. Với hơn 70% dân số đang sinh sống ở
vùng nông thôn, với nguồn tài nguyên và con người, nông thôn đóng vai trò hết sức
quan trọng trong sự phát triển của đất nước.
Thấy được những lợi ít của chuyên môn hóa trong sản xuất, trong những năm
qua trên đất nước Việt Nam nói chung và vùng nông thôn nói riêng đã chú trọng
phát triển vùng chuyên môn hóa và đã tạo ra nhiều mặt hàng xuất khẩu (cà phê,
điều…). Tuy nhiên, do hạn chế của sự phát triển cơ sở hạ tầng cũng như hạn chế
của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, đồng thời gặp nhiều khó
khăn do khí hậu nhiệt đới mang lại nên các nông hộ còn áp dụng phương thức đa
dạng các hoạt động đem lại thu nhập là chủ yếu, trong mấy năm qua nó đã góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển và góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của
đất nước.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm giữa miền Trung của đất nước có điều kiện khí
hậu, thủy văn khắc nghiệt, thường khô hạn và bị nhiễm mặn vào màu hè, có lũ tiểu
mãn vào tháng 10-12 âm lịch. Do đó, tỉnh gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp nói riêng, sản xuất phi nông nghiệp và đời sống nói chung. Tuy vậy, qua sự
phấn đấu của nhân dân trong tỉnh, trong mấy năm gần đây về kinh tế xã hội đã có
nhiều khởi sắc, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh.
Có nhiều động lực để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, ngoài các chính sách
mang tính chiến lược của chính phủ và của tỉnh đúng đắn theo từng giai đoạn phát
triển thì việc phát huy nội lực trong từng nông hộ là rất quan trọng. Để xem xét
trong những năm qua đa dạng các hoạt động tạo thu nhập có phải là động lực phát

- Đa dạng hóa: Theo DFID, 2003 đa dạng hóa là diễn giải sự tạo thành đa dạng
như là một tiến trình kinh tế xã hội, phản ánh các nhân tố - là nguyên nhân dẫn đến
sự chấp nhận chiến lược sinh kế đa dạng của gia đình hay hộ.[4]
- Đa dạng hóa sinh kế nông thôn: Tiến trình mà các hộ gia đình nông thôn gây
dựng một danh mục đa dạng của các hoạt động và tài sản để sống sót và cải thiện
mức sống của họ, DFID, 2003. [4]
- Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về đa dang hóa như sau: Định nghĩa thứ
nhất về đa dạng hóa là sự tăng về số lượng nguồn thu nhập và sự cân đối giữa các
nguồn thu nhập khác nhau, ví dụ, một hộ có hai nguồn thu nhập được coi là đa dạng
hóa hơn một hộ có một nguồn thu nhập, một hộ có hai nguồn thu nhập mỗi nguồn
chiếm 50% được coi là đa dạng hơn hộ có một mguồn thu nhập chiếm 90% (Joshi
và cộng sự, 2002). Định nghĩa thứ hai về đa dạng hóa cho rằng đó là sự biến đổi từ
sản xuất lương thực tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp có tính thương mại hóa, ví
dụ, Delgado và Siamwallr cho rằng mục tiêu của đa dạng hóa nông nghiệp với ý
3
nghĩa là một mục tiêu của nền nông nghiệp tiểu điền nên ở châu phi đề cập chủ yếu
phần đầu ra của hộ để bán thu tiền mặt hình thức đa dạng hóa này cũng giống như
thương mại hóa nông nghiệp.Định nghĩa thứ ba tập trung vào việc chuyển dịch từ
trồng cây có giá trị thấp sang trồng cây có giá trị cao hơn, sang chăn nuôi và ngành
nghề phi nông nghiệp, tức là xác định đó là những cây trồng mang lại lợi ích kinh tế
cao trên một đơn vị ruộng đất hay lao động. Định nghĩa này xem đa dạng hóa như
một nguồn tăng thu nhập và phương tiện tiềm tàng để giảm nghèo. [5]
* Khái niệm về nghèo đói: Thế nào là nghèo khổ thì hiện nay có rất nhiều cách
tiếp cận khác nhau. Tựu trung lại thì có hai cách tiếp cận chính là phương pháp
tuyệt đối và phương pháp tương đối. Theo cách tiếp cận tương đối, nghèo khổ là
một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác so với
cộng đồng hay nhóm dân cư khác.
Theo phương pháp tiếp cận tuyệt đối, thì nghèo đói là tình trạng cuộc sống mà
con người không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu. Ví dụ đó là một cuộc sống
cùng cực, chạy ăn từng bữa… mà con số thống kê bình quân không thể phản ánh

lược
SKBV
thay đổi của kinh tế ,chính trị, môi trường (như dân số, công nghệ, thị trường, và
thương mại, toàn cầu hóa).
- Là yếu tố mà con người khó kiểm soát được
- Hoàn cảnh dễ bị tổn thương thường rơi vào nnhững hộ nghèo do thiếu nguồn
lực nên khả năng tự bảo vệ kém.
• Tài sản/vốn sinh kế:
- Được mô tả như nguồn vốn tích lũy được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để
tạo ra phương tiện sống sót cho hộ gia đình.
- Sinh kế phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng các nguồn vốn/tài sản.
- Các nhà nghiên cứu/tổ chức phát triển xác định/phân loại thành các tài sản khác
nhau: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật chất tạo thành
ngũ giác tài sản của hộ gia đình.
* Vốn con người:
+ Bao gồm: sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, kiến thức và kỹ năng, khả năng làm
việc, khả năng thích ứng.
+ Vốn con người ở cấp hộ: Liên quan đến số lượng và chất lượng lao động của
hộ : số nhân khẩu, cấu trúc nhân khẩu (theo giới tính, tuổi tác ), quĩ thời gian và
kiểu phân công lao động giữa các thành viên. Vốn hoặc cơ cấu con người của hộ
không tĩnh mà biến đổi cấu trúc lại do nhân khẩu học bên trong (sinh tử, di trú ra
thành phố ) hoặc những sự kiện không mong đợi (li hôn)
+ Vốn con người là yếu tố trọng yếu quyết định khả năng sử dụng và quản lý các
nguồn vốn khác.
+ Vốn con người được tăng cường khi đầu tư vào giáo dục và đào tạo cũng như
các kỹ năng thu được qua theo đổi nghề nghiệp.
+ Chính sách vĩ mô để tăng dịch vụ giáo dục và sức khỏe công cộng có thể tăng
vốn con người của một quốc gia.
* Vốn tự nhiên:
+ Bao gồm: đất đai, cát sạn, nước và các nguồn lợi thủy sản, sản phẩm gỗ và cây

thức hoặc phi chính thức, tiền người thân đi xa gửi về, lương hưu, tiền công thật.
*Chính sách, thể chế và tiến trình.
+ Chính sách của chính phủ, của các tổ chức phi chính phủ và các thể chế quốc
tế. thể chế của các cơ quan lập pháp và hành pháp hay các tòa án. Tiến trình là quá
trình ra quyết định, chuẩn mực xã hội.[4]
6
2.3. Đặc điểm, nguyên nhân và một số chỉ tiêu xác định hộ nghèo
* Đặc điểm của người nghèo:
- Đặc điểm về nhân khẩu: Người nghèo phổ biến thuộc những loại hộ có qui mô
gia đình lớn, những chỉ 1-2 thế hệ trong gia đình, mỗi hộ có rất nhiều con và tuổi
còn nhỏ. Tình trạng các cặp vợ chồng trẻ hoặc đang tuổi sinh đẻ ở các hộ nghèo lại
không thực hiện được kế hoạch hóa gia đình, trong lúc sản xuất của gia đình rất
kém phát triển.[6,tr63]
- Đặc điển về trình độ văn hóa: Trong nhóm hộ nghèo, số người chưa bao giờ
đến trường học chiếm tỷ lệ cao nhất, trong số chưa tốt nghiệp cấp 1 một số người do
hoàn cảnh khó khăn nên phải bỏ lở dở không tốt nghiệp được, đáng chú ý là trình
độ từ cấp 3 trở lên chiếm tỷ lệ rất ít. Người nghèo thường không được đào tạo nghề
nghiệp. Đây là điều đáng lo ngại nhất đối với người nghèo.[6,tr64]
- Đặc điểm về tài sản, nhà ở, đời sống tin thần: Mức độ chênh lệch giữa hộ nghèo
và hộ khá, không những chỉ thể hiện ở thu nhập hay chi tiêu, mà còn thấy sự gia
tăng quá nhanh về mức độ mua sắm tài sản, phương tiện sản xuất và đời sống tin
thần, đa số những hộ nghèo và người nghèo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.[6,tr64]
- Người nghèo rất dễ gặp tổn thương: Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo
thể hiện ở chổ, những khó khăn, đột biến, rủi ro ập đến với gia đình, những cuộc
khủng hoảng xảy ra với cộng đồng … thường gây thiệt hại lớn nhất cho người
nghèo đói, đó là nét đặc trưng cơ bản cho tất cả các xã hội khác nhau. Những hộ gia
đình nghèo chỉ có khả năng trang trải ở mức hạn chế, tối thiểu các chi phí lương
thực và phi lương thực thiết yếu khác, hộ rất dễ bị tổn thương trước mọi biến cố xảy
ra, họ thường phải bỏ thêm chi phí không đáng có hoặc bị giảm thu nhập vì khó tiếp
cận các cơ hội tăng trưởng kinh tế. Đối với hộ nghèo, nếu có một thành viên trong

nghèo này đã giảm xuống 37%. Tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 29% vào năm
2002. Như vậy gần một phần ba dân số, tương đương với trên 20 triệu người đã
thoát nghèo trong vòng mười năm.[1,tr1]
Thành tựu cũng đáng kể khi xem xét những thước đo về nghèo đói khác, ngoài
tiêu chí mức chi tiêu. Mục tiêu phát triển của Việt Nam cho thấy mức tiến triển liên
tục của những chỉ số xã hội, từ số học sinh được đi học đến tỷ lệ tử vong của trẻ sơ
sinh. Mặc dù ở một số vùng và một số nhóm dân số có thành tựu cao hơn những
nhóm khác, Việt Nam vẫn tiếp tục giảm được mức đói nghèo nhanh hơn những
nước khác ở cùng mức độ phát triển tương tự. Trong đầu những năm của thập kỷ
90, tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam cao hơn dự tính, xét về mức độ phát triển kinh tế
8
của nước này. Trong nữa đầu của những năm 90 Việt Nam đã đuổi kịp các nước
trung bình ở cùng mức độ phát triển và đã vượt xa vào năm 2002.[1,tr2]
*Một số nhân tố góp phần thành công trong xóa đói giảm nghèo trong
những năm qua của Việt Nam:
Trước đây những thành tựu đạt được là nhờ việc phân đất đai nông nghiệp cho
các hộ ở vùng nông thôn, trong bối cảnh cải cách kinh tế tạo ra những động lực
đúng đắn để tăng sản xuất nông nghiệp. Song lợi ích của những cải cách này gần
như đã phát huy hết tác dụng. Trong mấy năm gần đây, động lực thúc đẩy xóa đói
giảm nghèo lại là việc tạo ra công ăn việc làm trong khu vực tư nhân và việc tăng
cường hội nhập của nền kinh tế thị trường.[1,tr2]
Đại đa số dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam trên thực tế đều làm việc
và tỷ lệ tham gia thị trường lao động thuộc diện cao nhất thế giới. Những gì đã thay
đổi không phải ở chỗ hoạt động hay không mà cơ cấu ngành nghề của lao động.
Trong 4 năm qua, tỷ lệ người tham gia lao động trên các trang trại của mình giảm từ
2/3 xuống ít hơn một nữa. Thay vào đó, nhiều người đang tham gia vào các ngành
nghề trả công: 30% số đó đang làm những công việc trả công trong năm 2002, so
với 19% trước đó 4 năm. Nhờ sự thay đổi này, đến năm 2002, khu vực kinh tế tư
nhân đã chiếm khoảng 2,5 triệu người, lớn hơn toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước.
[1,tr2]

nông nghiệp trong nông thôn ở vùng Sub-sahar của Châu Phi. Ông nhận thấy hoạt
động phi nông nghiệp tương đối quan trọng trong nông thôn, trong nhiều trường
hợp chiếm khoảng 30-50% thu nhập. Nhìn chung thu nhập của lao động làm công
trong các hoạt phi nông nghiệp. Thu nhập phi nông nghiệp ở nông thôn có xu
hướng quan trọng hơn ở những vùng gần thành phố nơi có hạ tầng cơ sở tốt và mật
độ dân cư đông. Cuối cùng thu nhập phi nông nghiệp quan trọng hơn đối với những
hộ khá giả ở nông thôn.[5]
Trong nghiên cứu về hộ gia đình ở nông thôn ở Ethiopia, Block, Webb (2001)
thấy rằng đa dạng hóa khỏi hoạt động trồng trọt gắn liền với các hộ có thu nhập cao
hơn, tỷ lệ phụ thuộc cao hơn, hộ có chủ là nam giới và sinh sống ở cao nguyên
(vùng có đất tốt và nhiều mưa). Một trong những động cơ để đa dạng hóa từ trồng
trọt sang chăn nuôi là đảm bảo khỏi bị hạn.[5]
Delgado và Simwalla (1997) nghiên cứu cơ cấu đa dạng hóa ở châu Á và châu
Phi. Họ lưu ý ở châu Phi nông dân thường áp dụng mức độ hỗn hợp cây trồng cao
như một chiến lược giảm rủi ro liên quan đến thời tiết bất lợi. Ở nhiều nước châu Á
10
đa dạng hóa cây trồng gắn liền với giảm tầm quan trọng của cây lúa và chuyển sang
cây ăn quả, rau và chăn nuôi. Loại hình đa dang này tăng thu nhập nhưng làm nông
dân phải đối mặt với rủi ro của thị trường, đặc biệt khi hàng hóa là loại mau hỏng.
Họ cho rằng chính phủ đóng vai trò xây dựng thể chế hỗ trợ ví dụ như HTX và sản
xuất nông nghiệp theo hướng hợp đồng nhằm hỗ trợ cho đa dạng hóa theo hướng
sản xuất hàng hóa có giá trị cao, do đó tăng thu nhập cho nông dân.[5]
Ở Cote d’voire (bờ biển Ngà) việc phá giá tiền tệ năm 1994 đã khuyến khích
trồng ca cao, bông và các cây xuất khẩu khác nhưng hộ giàu có khả năng tận dụng
được cơ hội này hơn chủ yếu là do có nhiều vốn hơn. Ở Kenya chương trình việc
làm lấy lương thực đã làm tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt của người nông
dân nghèo, cho phép họ hoạt động phi trồng trọt và tránh phải bán gia súc trong
những lúc hạn hán (Barrrettvaf cộng sự, 2001).[5]
Một số nghiên cứu khác so sánh đa dạng hóa ở Rwanda, Kenya và bờ biển Ngà.
Đa dạng hóa từ trồng trọt sang các hoạt động khác diễn ra mạnh nhất ở những nơi

và thủ tục rờm rà. Mặc dù cải cách đã mang lại thu nhập cao hơn nhưng nó cũng
làm tăng bất bình đẳng, phân hóa xã hội và làm hỏng một số dịch vụ xã hội.[5]
Một nghiên cứu về huyện Chợ Mới cho rằng giao đất rất có hiệu quả trong việc
thâm canh trong sản xuất lúa ở vùng đất thấp, đa dạng hóa ở vùng đất cao (nhất là
cây ăn quả) và tái tạo đất rừng. Thâm canh ở vùng đất thấp không phải là lựa chọn
đa dạng hóa ở vùng đất cao. Thực tế là thâm canh mang lại thu nhập và an toàn
lương thực cần thiết cho phép hộ có thể đa dạng hóa ở những mảnh đất cao (Fatoux
và các cộng sự, 2002).[5]
Một nghiên cứu ở vùng Ba Bể nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng tiếp cận
trong việc quyết định cơ hội thu nhập. Ở những thôn bản xa xôi nông dân trong cậy
vào trồng trọt và chăn nuôi theo kiểu tự cung tự cấp, họ có ít cơ hội bán sản phẩm,
gặp gỡ cán bộ khuyến nông, hưởng lợi từ các chương trình của chính phủ , hay
kiếm được việc làm phi nông nghiệp hơn. Kết quả là họ có xu hướng nghèo hơn dân
ở gần đường cái, gần trung tâm đô thị, ngay cả khi họ có đất thấp có tưới.(Alther và
các cộng sự, 2002)[5]
Một số nghiên cứu ở Chợ Đồn cho thấy tính chất dân tộc trở nên ít hữu hiệu hơn
với tính chất là chỉ báo của chiến lược sinh kế. Trước dây, người Tày chủ yếu định
canh lúa ở vùng đất thấp, còn người Dao thì du canh du cư ở vùng đất cao. Do quá
trình phân chia lại đất đai, mua bán đất và do các yếu tố khác, sự khác nhau của
người Tày và người Dao còn rất ít. Cả người Tày và người Dao những người có đất
12
thấp đều định canh định cư và trồng lúa có tưới tiêu, trong khi đó một số khác
không có đất ruộng cũng phải du canh ở vùng cao[5].
2.7. Các yếu tố quyết định đến đa dạng hóa
Trong khi ý thức được những lợi ích gắn liền với chuyên môn hóa tuy nhiên các
nông hộ ở những nước đang phát triển lại áp dụng phương thức đa dạng hoạt động
đem lại thu nhập, có ít nhất sáu nhân tố có thể giải thích cho vấn đề này:
Thứ nhất, nguồn thu nhập đa dạng có thể là một chiến lược nhằm để giảm rủi ro.
Nếu mỗi nguồn thu nhập biến động bất thường từ năm này sang năm khác do thời
tiết hay những yếu tố khác, và mức độ biến động thu nhập không tỷ lệ thuận với các

hóa theo hướng cây trồng và ngành nghề có giá trị cao có thể bị hạn chế bởi:
- Thiếu khả năng thanh toán bằng tiền mặt và thiếu khả năng tiếp cận nguồn tín
dụng. Hạn chế này đặc biệt thích ứng trong trường hợp trồng cây ăn quả và cây dài
ngày khác. Điều này củng sẽ hạn chế phát triển của hoạt động phi nông nghiệp, hoạt
động cần nhiều trang thiết bị.
- Thiếu thông tin về phương thức sản xuất và thị trường tiêu thụ. Cản trở này
thường gắn với việc trồng các loại cây mới và cây đặc sản, nuôi trồng thủy sản và
các loại sản phẩm dễ hỏng khác.
- Thiếu trình độ văn hóa hay kỹ năng ngôn ngữ cần thiết để tiếp thu những thông
tin cần thiết. Vấn đề này ảnh hưởng đến người dân tộc thiểu số ở nhiều nước trên
thế giới và có thể là một khó khăn đối với các hộ có chủ là nữ ở một số địa phương.
- Hạ tầng cơ sở nghèo nàn làm giảm giá tại nông hộ của cây trồng và làm tăng
giá mua đầu vào tại nông hộ.
- Thiếu đất hay lao động để đa dạng hóa cây trồng phi lương thực hay hoạt động
khác. Dễ hiểu vì sao nông dân nghèo ngần ngại dựa vào thị trường cho nhu cầu
lương thực của họ, do vậy họ thường thích bổ sung thêm vào sản xuất lương thực
những cây trồng có giá trị cao và các hoạt dộng khác hơn là chuyển hẳn sang trồng
cây có giá trị.
- Thiếu vốn xã hội. Vốn xã hội đề cập đến mạng lưới bạn bè hay môi trường kinh
doanh gắn liền với một cá nhân có mức độ tin tưởng nhau nhất định. Trong nông
nghiệp vốn xã hội đối với các nhà buôn bán hơn các nhà thu gom…
Những cản trở này gợi ý một số loại can thiệp cần thiết của chính phủ để loại bỏ
những rào cản này và thúc đẩy các hộ nghèo tham gia vào hoạt động có giá trị cao.
Tất nhiên, nếu những nỗ lực này thành công, họ có thể mở rộng sản xuất và có thể
kéo giá xuống.[5]
14
2.8. Tác động của đa dạng hóa với xóa đói giảm nghèo và đời sống nông dân ở
vùng nông thôn
Hiện nay có rất nhiều quan tâm đến quá trình đa dạng hóa thu nhập và thương
mại hóa trong nông thôn của các nước đang phát triển. Trước tiên các ý kiến phê

miền Trung.
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1997 đến 2007.
3.3. Nội dung nghiên cứu:
3.3.1. Tình hình kinh tế xã hội của xã Quảng Lợi.
- Tình hình sử dụng đất của xã Quảng Lợi năm 2006 .
- Tình hình dân số và lao động của xã Quảng Lợi năm 2006.
- Tình hình nghèo đói và thu nhập của xã Quảng Lợi từ năm 1997 đến năm 2006
3.3.2. Tình hình đa dạng hóa sinh kế tại xã Quảng Lợi từ 1997-2006:
- Tình hình đa dạng hóa trong trồng trọt và chăn nuôi.
- Tình hình đa dạng hóa trong thủy sản.
- Tình hình đa dạng hóa trong ngành nghề và dịch vụ.
3.3.3.Đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ khảo sát:
- Tình hình về vốn con người của nông hộ
- Tình hình thu nhập tiền mặt của nông hộ
3.3.4. Tình hình thay đổi các hoạt động sinh kế trong các lĩnh vực của nông hộ:
- Tình hình thay đổi hoạt động tạo thu nhập trong lĩnh vực trồng trọt.
- Tình hình thay đổi hoạt động tạo thu nhập trong lĩnh vực chăn nuôi.
- Tình hình thay đổi hoạt động tạo thu nhập trong lĩnh vực thủy sản.
3.3.5. Phân tích hồi quy (Regression) một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập/năm
của các nông hộ.
3.3.6.Tình hình thu nhập/khẩu/hộ và khả năng chi tiêu của nông hộ 2006.
3.3.7. Tình hình nhà cửa, phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các nông hộ 2006.
16
3.4. Phương pháp nghiên cứu:
3.4.1. Chọn điểm nghiên cứu:
* Chọn điểm nghiên cứu:
Đề tài đã chọn xã Quảng Lợi của huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, là xã
nghèo và sản xuất nông, ngư nghiệp là chủ yếu.
3.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu:
* Thu thập dữ liệu sơ cấp:

nước ta, có chất đất chủ yếu là đất cát pha, đồng thời hệ thống thủy lợi còn kém nên
diện tích đất sản xuất một vụ còn khá cao. Xã Quảng Lợi có 9 thôn (trong đó có 3
thôn và một cụm dân cư sống bằng nghề ngư nghiệp nằm dọc theo phá Tam Giang,
6 thôn nằm dọc theo đường tỉnh lộ 4B), có 4 HTX, hai trường tiểu học, một trường
THCS, 11 lớp mẫu giáo và một trạm y tế. Dân cư sống rải rác với chiều dài 9 km.
Qua quan sát chúng tôi thấy ở xã Quảng Lợi về điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thông
vận tải, thủy lợi còn đặc biệt khó khăn. Về đường sá và đê điều được bê tông hóa
còn rất thấp, mới chỉ có 5,5 km trong 9 km đường tỉnh lộ được đỗ nhựa và 3,6 km
trong 18 km đường thôn xóm được bê tông. Mương máng mới bê tông 11,5 km.
Đây là một khó khăn rất lớn trong việc đi lại và vận chuyển và giao lưu văn hóa,
trao đổi hàng hóa của người dân trong xã và với bên ngoài. Ngoài ra cơ sở hạ tầng
và tính chất của vùng cát ven biển nó có thể làm cho vùng này khó khăn hơn trong
các hoạt động sản xuất cũng như trong đời sống.
4.1.1. Tình hình sử dụng đất của xã Quảng Lợi năm 2006
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và nó có vai trò quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp. Nó là một tài nguyên không thể thiếu và có ảnh hưởng rất lớn đến
mức thu nhập của nông hộ. Điều đó cũng có nghĩa là cơ cấu đất đai của mỗi vùng sẽ
cho thấy được tiềm năng kinh tế và trình độ sử dụng đất của vùng. Chúng tôi đã tiến
hành thu thập các thông tin về đất đai của xã Quảng Lợi thông qua các báo cáo của
UBND xã. Cơ cấu đất đai của xã Quảng Lợi được thể hiện ở bảng sau:
18
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất của xã Quảng Lợi năm 2006
Loại hình Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Ghi chú
Tổng diện tích đất tự nhiên 3.239 100
1. Đất nông nghiệp 1.192,23 38,80 So với đất ĐTN
1.1.Đất sản xuất nông nghiệp 670,93 56,28 So với đất SXNN
- Đất trồng cây hàng năm 670,93 100 So với đất SXNN
+ Đất lúa 312,75 46,61 So với đất hoa màu
+ Đất hoa màu 358,18 53,39 So với đất hoa màu
- Đất trông cây lâu năm 0 0

quân. Kết quả điều tra được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Quảng Lợi năm 2006
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỷ lệ (%)
I. Tổng số hộ hộ 1629 100
Hộ sản xuất nông nghiệp hộ 1254 77
Hộ sản xuất ngư nghiệp hộ 277 17
Hộ công thương và dịch vụ hộ 98 6
II. Tổng nhân khẩu người 7585 100
Nam người 3801 50
Nữ người 3782 50
III. Tổng lao động lao động 4783 100
Nam lao động 2299 48
Nũ lao động 2484 52
IV. Các chỉ tiêu bình quân -
Bình quân nhân khẩu/hộ người 4.6 -
Bình quân lao động/hộ lao động 2.9 -
Bình quân nhân khẩu/lao động người 1.59 -
(Nguồn: báo cáo tổng kết của VPUBND xã Quảng Lợi năm 2006)
Từ bảng trên cho ta thấy, tổng số hộ trong toàn xã là 1629 hộ, trong đó hộ sản
xuất nông nghiệp là 1254 chiếm 77%, hộ ngư nghiệp chiếm 17%, hộ công thương
và dịch vụ chỉ chiếm tỷ lệ 6%. Như vậy, xã Quảng Lợi số hộ sống nhờ vào sản xuất
nông nghiệp còn khá cao. Với 17% số hộ sống nhờ vào thủy sản, chứng tỏ Quảng
Lợi là một xã vùng cát ven biển, ngoài những thế mạnh về nông nghiệp thì Quảng
Lợi còn có thế mạnh về đánh bắt thủy hải sản, đây là một thuận lợi tạo sự phong
phú cho quá trình đa dạng hóa sinh kế của nông dân.
Xét về chỉ tiêu bình quân ta thấy, tỷ lệ nhân khẩu nam và nữ xấp xỉ ngang nhau
nhưng tỷ lệ lao động nữ có cao hơn tỷ lệ lao động nam khoảng 4%. Tuy tỷ lệ này
nhỏ nhưng đây là một bất lợi cho phát triển kinh tế của nông hộ vì đặc trưng của sản
20
xuất nông nghiệp và ngư nghiệp là cần nhiều lao động có sức khỏe như nam giới.

6 2002 496 0 32 2136 2.356.634
7 2003 399 0 25.6 1795 2.859.000
8 2004 230 0 20 904 3.571.770
9 2005 515 0 34.6 2013 4.459.667
10 2006 465 0 31.3 1813 5.063.000
(Nguồn: Số liệu thống kê của VPUBND xã Quảng Lợi từ năm 1997-2006)
Qua bảng trên ta thấy, ở xã Quảng Lợi đến năm 2000 mới xóa được đói hoàn
toàn, tuy nhiên số lượng hộ đói cũng giảm nhanh từ 57 hộ vào năm 1997 xuống còn
21
12 hộ vào năm 1999 và đến năm 2000 không còn hộ đói nữa. Trong giai đoạn này
tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm rất nhanh từ 32% năm 1997 còn lại 19% vào năm 1999,
đây là tỷ lệ thấp nhất từ trước đến nay. Sau cơn lũ lịch sử năm 1999 đến nay tỷ lệ hộ
nghèo lại tăng lên đến 530 hộ chiếm tỷ lệ 42%, như vậy vào lúc này gần một nữa số
hộ ở xã sống dưới ngưỡng nghèo. Điều này cho ta thấy xã Quảng Lợi gặp nhiều khó
khăn để ổn định lại sản xuất cũng như phát triển kinh tế sau trận lũ đi qua.
Sau 5 năm khôi phục hậu qủa do lũ gây ra và thực hiện các chính sách ưu tiên
phát triển kinh tế nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo nên số lượng hộ nghèo còn lại
là 230 hộ năm 2004 chiếm 20%, và tỉ lệ này lại tăng lên 34,6% vào năm 2005 và
31,3% vào năm 2006 theo chuẩn mới của Bộ LĐ-TBXH.
Mặc dầu tỷ lệ hộ nghèo từ năm 1997 cho đến nay tăng lên và giảm xuống không
đều, nhưng theo bảng trên ta thấy mức độ thu nhập của người dân/người/năm tăng
lên từ 1,5 triệu cho đến nay là trên 5 triệu. Điều này chứng tỏ đời sống của nhân dân
ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên với tỷ lệ hộ nghèo 31,3% và mức thu nhập
mới chỉ 5,05 triệu/người/năm tức là 410.000 đ/người/tháng vẫn còn thấp. Chứng tỏ
Quảng Lợi còn là một xã nghèo, xã khó khăn của nước ta.
Tỷ lệ hộ nghèo cao và thu nhập thấp của nhân dân xã Quảng Lợi một phần có
thể được giải thích từ sự yếu kém của cơ sở hạ tầng và điều kiện khắc nghiệt của
thời tiết. Tuy nhiên nguyên nhân làm thay đổi mức sống của người dân chủ yếu đều
do sự thay đổi hình thức và phương thức sản xuất dẫn đến thay đổi kết quả sinh kế.
Để giả thích rõ hơn tỷ lệ hộ nghèo ở xã Quảng Lợi còn cao nhưng có sự giảm xuống

Trâu Con 546 762 897
Bò Con 219 247 289
Lợn thịt Con 2816 3910 6580
Lợn nái Con 652 860 1233
Gia cầm Con 17660 50400 33358
Trang trại Cái 0 0 1
Gia trại Cái 0 0 7
Thu nhập từ chăn nuôi Tỷ đồng 8,9 10,6 12,5
(Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã Quảng Lợi từ năm 1997-2006)
Qua bảng trên ta thấy, số lượng loại cây trồng cũng như diện tích từng loại cây
có sự thay đổi khá lớn từ trước 2000 đến nay. Trước 2000 chỉ có 6 loại cây được
trồng và các loại cây có giá trị hàng hóa như lúa nông nghiệp, lạc, đậu đỗ chiếm
diện tích rất ít, lúa nông nghiệp mới chuyển đổi từ lúa địa phương được 93,5 ha, lạc
được 95 ha. Như vậy trong giai đoạn này sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp nên
hiệu quả kinh tế còn thấp, thu nhập từ trồng trọt cả xã là 2,2 tỷ đồng.
23
Sang 2001, số lượng loại cây trồng tăng lên (11 loài) và diện tích từng loài cây
cũng thay đổi rất đáng kể. Giảm dần những loại cây có giá trị hàng hóa và năng suất
thấp (lúa địa phương, khoai, sắn ) tăng diện tích những cây có giá trị hàng hóa, diện
tích đất trồng lạc lên đến 294 ha chiếm diện tích cao nhất trong tất cả các loài cây
trồng, lúa nông nghiệp cũng tăng lên 148 ha. Lúc này đã xuất hiện nhiều loài cây
trồng vụ Hè Thu như mè, dưa hấu (81 ha), trồng xen ngô và đậu đỗ vào lạc được 55
ha, nó cải thiện tình trạng để hoang đất vào vụ Hè Thu trong suốt thời gian trước
kia.
Đến năm 2006, số lượng cây trồng cũng tăng lên (13 loài), đã đưa vào trồng 2
loài cây mới đó là rau màu và cây nứa, diện tích những loài cây có giá trị hàng hóa
cũng tăng lên đáng kể: diện tích đất trồng lạc là 372 ha, đậu đỗ 35 ha, dưa hấu 4,5
ha, diện tích ngô và đậu đỗ trồng xen lên đến 244 ha tăng gấp 5 lần năm 2001. Rau
màu vừa mới đưa vào sản xuất nhưng cũng chiếm diện tích khá cao 19,6 ha.
Tóm lại, trong những năm qua ở xã Quảng Lợi đã có sự chuyển đổi diện tích đất

xuất chủ đạo là trồng trọt với 9 sào trồng lúa địa phương và 5 sào trồng lạc, ớt,
Trong chăn nuôi mới chỉ nuôi 2 mẹ lợn nái, xuất chuồng 36 lợn con trong năm,
nuôi lợn thịt 2 lứa/năm và 2 con/lứa. Tổng cộng thu nhập bằng tiền mặt của trồng
trọt và chăn nuôi khoảng 7,57 triệu/năm. Tổng số tiền thu vào không đủ để chi cho
mua vật tư (3,5 triệu), ăn mặc, học hành của con cái. Đến 2003, chị đã vay 5 triệu
của hội phụ nữa và đầu tư vào xây thêm 2 ô chuồng lợn nái và 3 ô chuồng lợn thịt.
Khi nuôi có lãi gia đình chị đã đầu tư và mở rộng thêm quy mô sản xuất, đến nay
tổng đàn lợn tăng lên đáng kể và gia đình chị đã trở thành một trong 7 gia trại nuôi
lợn đầu tiên ở xã Quảng Lợi, với 7 con lợn nái, sinh 2 lứa/năm, 10 con/lứa/mẹ, sản
lượng lợn con là 8,4 tạ/năm, cho thu nhập tiền mặt 12,6 triệu lãi ròng 6,2 triệu.
Hiện nay, nắm bắt tình hình thị trường có nhu cầu về lợn thịt cao, gia đình đã
tích lũy và học hỏi được nhiều kinh nghiệm sản xuất qua bạn hàng. Đồng thời chị
đã liên kết được với các lò mổ để giải quyết đầu ra cho sản phẩm. Bởi vậy năm
2005, chị đã mạnh dạn tăng qui mô nuôi lơn thịt lên 40 con/lứa và 3 lứa/năm, nuôi
theo phương thức công nghiệp. và trong năm sản lượng xuất chuồng khoảng 72 tạ,
cho thu tiền mặt là 93,6 triệu, lãi ròng từ 25-30 triệu. Như vậy bình quân gia đình
chị có thể thu tiền mặt từ chăn nuôi lợn khoảng 100 triệu và lãi ròng khoảng 30-35
triệu.
Trong vòng 5 năm đầu tư vào sản xuất lợn, gia đình chị đã trả hết nợ ban đầu, và
có đủ điều kiện để cho con đi học đại học, mua sắm thêm được nhiều dụng cụ gia
đình như xe máy, ti vi, tủ, bàn…và đặc biệt gia đình chị đã có vốn tích lũy để đầu tư
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status