nghiên cứu thực trạng và những giải pháp phát triển sinh kế ở xã hồng hạ, huyện a lưới, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề
Ở Việt Nam, khu vực miền núi chiếm hơn 70% diện tích. Việc quản lý có
hiệu quả đất, rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác trên khu vực này có tầm
quan trọng sống còn không chỉ cho các cộng đồng dân cư ở địa phương mà còn
cho sự phát triển bền vững của đất nước. Môi trường đa dạng về các điều kiện
sinh thái, kinh tế và xã hội trên khu vực này đã và đang tạo ra những thử thách
lớn cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Đó là sự cách biệt và cô lập địa lý với các
trung tâm phát triển của đất nước, môi trường sinh thái dễ bị phá vỡ, sự đa dạng
về điều kiện sinh thái và văn hoá xã hội. Trong điều kiện đó sự gia tăng dân số ở
khu vực này gây ra những thay đổi tiêu cực, như sự suy giảm nguồn tài nguyên
rừng, suy thoái đất đai. Các thay đổi bất lợi này lại càng gây khó khăn cho các
nỗ lực xoá đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế miền núi của chính phủ. Đời
sống của các cộng đồng dân cư ở các khu vực miền núi vẫn còn nhiều khó khăn.
Xã Hồng Hạ, huyện A Lưới là một vùng đất đồi núi, có địa hình phưc tạp.
Đây là một trong 21 xã của huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vùng này bị
ảnh hưởng nặng nề của chất độc hoá học trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ.
Xã nằm trong vùng đầu nguồn sông Bồ. Chính vị trí chiến lựợc và tầm quan
trọng của vùng đầu nguồn đã làm cho chính quyền các cấp chú ý đến. Một vài
dự án quy mô nhỏ (kể cả trong nước và nước ngoài) đã được thực hiện tại đây
nhằm làm ổn định và nâng cao dần mức sống cho người dân. Các nhóm người
sống ở đây gồm có các dân tộc thiểu số sau: Ka tu, Tà ôi (Pa cô, Pa hy), Bru-
Vân kiều
Qua kết quả điều tra trước đây cho thấy cuộc sống của người dân ở đây
gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Để tồn tại và phát triển, con người phải dựa
vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có những tài nguyên rất quan
trọng như đất, nước, tài nguyên sinh vật Tuy nhiên, do quá trình sử dụng
không hợp lý, tốc độ tăng dân số quá nhanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên không
phải là vô tận. Nên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đã biến đổi theo chiều
hướng bất lợi, kéo theo đó là những hậu quả về sinh thái và môi trường, đời

dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên ở địa phương phục vụ cho sự
phát triển bền vững.
2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Tìm hiểu thực trạng về tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương, những khó
khăn, thuận lợi cho sự phát triển.
- Xác định các giải pháp nhằm phát triển sinh kế phù hợp cho từng đối tượng
người dân.
- Bước đầu tổ chức thực hiện các giải pháp đó.
1.3. Ý nghĩa của đề tài.
1.3.1. Ý nghĩa khoa học.
Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững để nghiên cứu các
hoạt động sinh kế của người dân tại xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa
Thiên Huế. Đặc biệt là bước đầu làm quen với chiến lược sinh kế, khung sinh kế
bền vững.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Đây là một cách thức tiếp cận mới được tiếp cận trong quá trình làm công
tác phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là trong công tác xoá đói giảm nghèo nhằm
khắc phục những nhược điểm của một số cách tiếp cận hiện nay, nâng cao hiệu
quả của các chương trình dự án.
3
Phần II:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận trong phương pháp tiếp cận sinh kế.
* Một số khái niệm cơ bản:
- Định nghĩa theo từ điển.
Sinh kế (Livelihood) là một cách để sống và nó không đồng nghĩa với từ
thu nhập, nó chủ yếu chú ý tới cách thức mà con người kiếm sống.
- Theo R. Chamber và Conway (1992).
Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets) - các nguồn dự

tuân theo những quy định và luật lệ đã được thống nhất.
- Các mối quan hệ dựa trên niềm tin để thúc đẩy sự hợp tác.
Vốn xã hội mang lại những lợi nhuận quan trọng là khả năng tiếp cận
thông tin, khả năng có những ảnh hưởng hoặc quyền lực, khẳ năng đòi hỏi và
tuyên bố trách nhiệm hỗ trợ từ người khác.
* Vốn tài chính.
Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng để đạt tới các
mục tiêu trong sinh kế. Các nguồn đó bao gồm:
- Nguồn dự trữ hiện tại: tiết kiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền giửi
ngân hàng, hoặc các tài sản khác như vật nuôi đồ trang sức.
- Dòng tiền theo định kỳ. Từ nguồn thu nhập kiếm được như chế độ lương hưu
hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền từ thân nhân gửi về.
* Vốn tự nhiên.
Vốn tự nhiên là khả năng lưu giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (ví dụ:
cây , đất, không khí sạch, các tài nguyên khác ) mà con người trông cậy vào. đó
là nguồn dự trữ cho lợi ích trực tiếp và gián tiếp. Cây và đất cho lợi ích trực tiếp
qua việc đóng góp cho nguồn thu nhập và các điều kiện vật chất của con người.
Lợi ích gián tiếp mà chúng mang lại bao gồm các chu trình tạo dinh dưỡng và
bảo vệ chống xói mòn, bão gió.
* Vốn vật chất.
Vốn vật chất là một loại tài sản sinh kế. Nó bao gồm phần cơ sở hạ tầng
cơ bản và hàng hóa vật chất để thực hiện sinh kế. Cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm
những thay đổi trong môi trường vật chất giúp người dân đáp ứng các nhu cầu
cơ bản của họ và nâng cao khả năng sản xuất.
5
Cơ sở hạ tầng bao gồm: các hệ thống giao thông cấp nước và vệ sinh,
năng lượng, liên lạc và khả năng tiếp cận thông tin. Các phần khác của vốn vật
chất bao gồm vốn sản xuất để đẩy mạnh thu nhập như hàng hóa, đồ dùng của hộ,
cá nhân hay nhóm hộ
Ngày nay con người càng chú trọng đến sự bền vững và khả năng bền

7
Các nguồn vốn và tài
sản.
-Vốn tự nhiên.
-Vốn con người.
-Vốn xã hội.
-Vốn tài chính.
-Vốn vật chất.
Chiến lược sinh kế
Kết quả sinh kế.
-Thu nhập tốt hơn.
-Đời sống nâng cao.
-Khả năng tổn thương giảm
-An ninh lương thực được
củng cố.
-Sử dụng tài nguyên thiên
nhiên bền vững.
Các nguồn gây tổn thương.
Sốc và khủng hoảng, những
xu hướng kinh tế xã hội môi
trường, sự giao động theo kỳ,
vụ
Thể chế.
Chính sách và pháp luật.
Các cấp chính quyền, dịch vụ
nhà nước.
Khu vực tư nhân các tổ chức
cộng đồng.
Những thay
đổi trong tài

con người có thể đối phó và phục hồi từ những áp lực và cú sốc đồng thời có thể
duy trì hoặc nâng cao khả năng cả ở hiện tại lẫn tương lai mà không gây tổn hại
đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Các thành tố của một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh
kế của con người chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài.
8
Bối cảnh bị tổn thương đề cập đến phạm vi người bị ảnh hưởng và bị lâm
vào các loại sốc (mùa màng thất thu, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, xung đột, lâm
bệnh), xu hướng gồm cả các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường (xu hướng
tăng dân số, xu hướng phát triển kinh tế, xu hướng tài nguyên suy giảm) và sự
giao động (giao động về giá cả thị trường, giao động về việc làm, ).
Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không
thể dễ dàng kiểm soát được những yếu tố trước mắt hoặc lâu dài hơn nữa. Khả
năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra những yếu tố này rất phổ
biến và thường xuyên, đặc biệt với những hộ nghèo. Điều này chủ yếu là họ
không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình
khỏi những tác động xấu.
Các chính sách thể chế bao gồm các chính sách, luật lệ và những hướng
dẫn của nhà nước, những cơ chế, luật tục và phong tục của cộng đồng, các cơ
quan, tổ chức và dịch vụ nhà nước cũng như tư nhân, có những tác động lên các
tài sản và chiến lược của sinh kế. Đây là một phần quan trọng trong khung phân
tích sinh kế bền vững vì nó ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh
kế, những chiến lược sinh kế, lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc tham gia
một số hoạt động sinh kế nhất định. Ngoài ra, đây còn là những yếu tố tác động
lên cả các mối quan hệ để đạt được điều kiện sống tốt nhất.
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách
tiếp cận sinh kế bền vững đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm đồng
thời cố gắng tìm hiểu những vấn đề về kinh tế - xã hội và quản lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên từ góc nhìn thông qua con người. Nó giúp nhà nghiên cứu
xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người.

cả về điều kiện sản xuất để đảm bảo cho điều kiện cuộc sống.
Trong các hạng mục đầu tư, phần lớn là đầu tư cho phát triển cơ sở hạ
tầng, chiếm 60,2% trong tổng số. Đặc biệt là khoản mục thuỷ lợi với lượng vốn
133.679.000 đồng (chiếm 6,4%), đường giao thông với lượng vốn 225.000.000
đồng (chiếm 10,8%) và điện với lượng vốn 300.000.000 đồng (chiếm 14,5%) và
hiện nay đang tiến hành xây dựng nhà máy thuỷ điện ở thôn ARom. Tỷ lệ các
hạng mục đầu tư trên đảm bảo vừa ổn định nơi sinh sống vừa tạo điều kiện để
tiến tới ổn định sản xuất.
Trong mấy năm gần đây thì đầu tư cho sản xuất để bảo đảm an ninh lương
thực nhằm ổn định cuộc sống đã được chú ý nhiều hơn. Công tác đào tạo cán bộ
kỹ thuật và khuyến nông đã được chú ý, các đợt tập huấn kỹ thuật, tham quan
mô hình ngày càng được thực hiện nhiều. Bên cạnh đó còn có chương trình 327
10
hiện nay đổi thành chương trình 5 triệu ha rừng cùng song song được tiến hành.
Trong các hạng mục đầu tư thì đầu tư cho lâm nghiệp là lớn nhất gồm trồng
mới, quản lý, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng. Trong các hạng mục đầu
tư cho lâm nghiệp có triển khai các mô hình Nông - Lâm kết hợp đã đưa ra các
loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, hướng dẫn kỹ thuật trồng và cung cấp phân
bón, cho nông dân vay vốn lập vườn. Đây là mô hình để người dân trong xã học
tập góp phần giúp nông dân cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao đời sống
kinh tế gia đình và tạo thêm việc làm cho công đồng. Ngoài ra, chương trình còn
cho bà con vay vốn dưới dạng mua bò cho họ chăn nuôi.
Cùng với các hạng mục về lâm nghiệp và phát triển sản xuất, việc đầu tư
cho phát triển văn hoá xã hội, đảm bảo đời sống, sức khoẻ của người dân cũng
được chú trọng. Tuy nhiên, các hạng mục này đều ở dạng lồng ghép với các
chương trình khác chữ không tách biệt.
Nhìn chung các hạng mục của chương trình 327 đã được thực hiện tương
đối đầy đủ và hợp lý: góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, giải quyết công ăn
việc làm cho các lao động dư thừa, nâng cao hiệu quả kinh tế nhằm giải quyết
vấn đề môi trường, củng cố và phát triển kinh tế xã hôi vùng cao.

hoạt động phục vụ cho sinh kế khá phong phú và đa dạng.
Nhìn chung người dân xã Hồng Hạ hiện nay có đầy đủ các hoạt động
trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Chủ yếu mục tiêu của các hoạt động này
là để thoả mãn nhu cầu tự cung tự cấp mà không phải để đáp ứng nhu cầu sản
xuất hang hoá nhằm mang lại thu nhập cho gia đình.
Khác với vùng đồng bằng, các hình thức canh tác ở Hồng Hạ còn lạc hậu
nhưng cũng rất đa dạng, phong phú. Có thể chia thành ba dạng chính là canh tác
vườn, canh tác nương rẫy, canh tác lúa nước. Đối với loại hình canh tác lúa nước
tuy không phải là loại hình sản xuất truyền thống nhưng có vị trí quan trọng
trong sản xuất trồng trọt nói riêng và trong sản xuất nói chung ở địa phương, đã
sản xuất ra phần lớn lương thực chất lượng cao đối với bà con ở Hồng Hạ. Tuy
thế, giá trị còn chưa cao bình quân chỉ mang lại 1,5-2 triệu đồng cho mỗi hộ
trong một năm. Mặc dù trong những năm qua Hồng Hạ đã nhận được sự giúp đỡ
của các chương trình, dự án, của chính quyền địa phương để phát triển lúa nước
thông qua việc đầu tư giống, kỷ thuật, cơ sở hạ tầng nhất là thuỷ lợi nhưng sản
lượng vẫn thấp do diện tích gieo trồng quá hẹp, đặc biệt là hộ nghèo đói.
Do địa bàn cư trú nên đất vườn của bà con nông dân ở Hồng Hạ rất lớn và
được sử dụng đa dạng như trồng chuối, trồng rau, trồng sắn, trồng ngô, đậu các
loại, cây ăn quả, nuôi cá, Nhìn chung đang trong tình trạng sẵn cây gì trồng
cây đấy mà chưa có kế hoạch sử dụng triệt để đất vườn để sản xuất các cây có
giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy mà thu nhập từ loại hình sản xuất này còn thấp.
12
Trừ một số hộ có trồng sắn với một diện tích lớn thì sau mỗi vụ thu hoạch
thường mang lại cho gia đình một nguồn thu nhập từ 3-5 triệu đồng. Còn các sản
phẩm như ngô, đậu, rau chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của gia đình,
bởi vì người dân ở đây không có thói quen đem các sản phẩm ra chợ bán. Vả lại
các sản phẩm mà người dân tạo ra cũng không đủ lớn để trở thành hàng hoá.
Một loại hình canh tác khác mang tính đặc trưng của vùng đồi núi nói
chung và của Hồng Hạ nói riêng đó là canh tác nương rẫy. Thói quen của các
dân tộc trong canh tác nương rẫy là không dùng đến phân bón nhất là phân hữu

gian để biết được lược sử hình thành phương pháp nghiên cứu sinh kế bền vững.
Ở thập kỷ 80 thì các lĩnh vực chủ yếu được tiến hành là điều chỉnh cơ cấu
cây trồng vật nuôi, cách thức tiếp cận thị trường. Trong quá trình nghiên cứu đã
hình thành các tổ chức phi chính phủ (NGO
S
), hình thành phương pháp tiếp cận
RRA. Các vấn đề như an ninh lương thực được chú ý nhằm xoá đói giảm nghèo.
Ở thập kỷ 90 thì các lĩnh vực được chú ý là tín dụng vi mô, môi trường
bền vững, giảm nghèo. Phương pháp sau được sử dụng PRA.
Từ năm 2000 trở đi thì người ta bắt đầu quan tâm đến sinh kế bền vững,
quản lý tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc phân quyền và cách thức tiếp
cận liên ngành, xóa đói giảm nghèo.
Cơ sở của phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững dựa trên lịch sử quá
trình thay đổi qua ba thập kỷ những quan điểm về nghèo đói (đói nghèo hiện
được thừa nhận là vượt ra khỏi giới hạn chỉ riêng về thu nhập mà còn có căn
nguyên cũng như đặc thù nhiều mặt). Cụ thể là, các phương pháp tiếp cận tham
gia trong công tác phát triển đã nêu bật sự đa dạng trong cái đích phát triển mà
con người hướng tới và sự đa dạng mà con người cần thích nghi trong các chiến
lược sinh kế của mình để đạt tới thành công. Phân tích đói nghèo đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của các tài sản sinh kế, bao gồm cả vốn xã hội, trong việc quyết
định đến hiện trạng đời sống. Tầm quan trọng của khung chính sách và thực chế,
một vấn đề được quan tâm nhiều trong tư duy phát triển đầu những năm 80,
cũng được phản ánh trong khung sinh kế như là một trong những trọng tâm chủ
chốt của cộng đồng. Tuy rằng các thể chế và tiến trình ở địa phương đã trở thành
một yếu tố nổi trội của các phương pháp tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên và cũng được nhấn mạnh trong phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững.
Nhưng trong sinh kế bền vững, trọng tâm lại tập trung vào việc tìm hiểu và hỗ
trợ mối liên kết của thể chế, tiến trình từ cấp vi mô đến vĩ mô, thay vì chỉ tập
trung ở cấp địa phương.
Các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cũng bắt nguồn từ những

sinh kế bền vững ngày càng được chú ý và áp dụng vào nghiên cứu cho một số
vùng, địa phương nhất định. Nói đến hoạt động sinh kế là rất đa dạng, phong
phú và phức tạp, lại là phương pháp vừa được du nhập cho nên việc nghiên cứu
sinh kế bền vững cũng gặp không ít khó khăn. Việc khắc phục những khó khăn
này đòi hỏi phải có thời gian và sự nhiệt tình học hỏi của những người làm công
tác nghiên cứu mới giải quyết được.
15
2.5. Mô tả một số đặc điểm cơ bản của điểm nghiên cứu.
2.5.1. Điều kiện tự nhiên.
∗ Vị trí địa lý.
Hồng Hạ là một xã miền núi của huyện A Lưới, nằm về phía tây của
thành phố Huế, cách thành phố Huế khoảng 60 km và cách trung tâm huyện A
Lưới khoảng 25 km. Xã nằm trải dài dọc theo quốc lộ 49 từ Huế đi A Lưới với
chiều dài khoảng 7-8 km, nằm ở vị trí đầu nguồn sông Bồ nên xã có một vai trò
quan trọng đối với Tỉnh Thừa Thiên Huế. Hồng Hạ tiếp giáp với xã Hồng Quảng
về phía Bắc, xã Hồng Lâm về phía Nam, huyện Hương Trà về phía Đông, xã
Hương Nguyên về phía Đông Nam và xã Hồng Thượng về phía Tây.
∗ Địa hình.
Địa hình xã Hồng Hạ tương đối phức tạp chủ yếu là đồi núi và sông suối
nhỏ, diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ít chiếm một tỷ số rất nhỏ
so với diện tích toàn xã. Độ cao của xã tăng dần từ Bắc sang Đông và từ hướng
Tây - Bắc sang hướng Đông - Nam.
∗ Khí hậu thời tiết.
Ở xã Hồng Hạ có hai mùa rõ rệt: Mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 8, mùa
mưa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, hàng năm thỉnh thoảng có sương muối và
mưa đá vào mùa nắng. Thời tiết khí hậu nơi đây mang những nét đặc trưng
chung của vùng núi. Tuy nhiên, nét đặc thù chủ yếu ở đây là sự chuyển tiếp giữa
đồng bằng và miền núi. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 25
O
C, nhiệt độ cao

Hồng Hạ là xã có đại đa số các dân tộc ít người sinh sống, phương thức
canh tác của họ là đốt rừng làm nương rẫy, đời sống của người dân dựa vào rừng
là chính. Đã bao đời nay, cứ sau vụ thu hoạch lúa và rau màu thì từ trẻ em đến
người già đều vào rừng khai thác gỗ, củi, lá nón, mây tre đốt rừng làm nương
rẫy, thu hái măng rừng, hiện nay cùng với sự phát triển của đất nước thì các
phương thức canh tác cũ ngày một bỏ đi thay vào đó là phương thức canh tác
hiện đại hơn, có sử dụng phân bón làm cho năng suất cây trồng tăng lên. Nên
diện tích rừng bị đốt ngày càng giảm các vùng đất trống đồi trọc giờ đây đã
được phủ xanh thông qua việc trồng keo. Ngoài ra, một số rừng nghèo tài
nguyên người dân cũng tiến hành phát đốt để trồng keo nhằm mang lại hiệu quả
kinh tế hơn. Việc trồng rừng trong những năm gần đây cũng được tiến hành
nhanh mạnh.
* Tài nguyên nước.
Hồng Hạ là địa bàn có nhiều sông suối, con sông lớn là sông Bồ. Hầu hết
người dân Hồng Hạ dùng nước suối cho sinh hoạt hàng ngày và nước sông Bồ
cho tưới tiêu nông nghiệp. Trước đây nhờ có rừng che phủ xung quanh nên mực
nước các sông, suối thường ổn định nhưng hiện nay do rừng đầu nguồn bị tàn
phá nặng nên lưu lượng nước của các sông, suối ở đây cũng thất thường. Vào
mùa mưa và đặc biệt là những ngày mưa lớn, lưu lượng nước ở các con sông
suối tăng lên đáng kể và chảy mạnh làm sạt lở xói mòn đất một cách nghiêm
trọng. Trong thời gian mưa lụt mực nước các sông suối thường từ 5-7 m có khi
17
lên đến 10 m trong khi đó vào mùa khô mực nươc trung bình từ 0,5-3 m một số
khe suối bị khô cạn làm cho diện tích lúa nước vụ hè thu bị thu hẹp và việc cung
cấp nước cho sinh hoạt của người và gia súc cũng bị hạn chế rất nhiều. Nhận
thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp nước cho người dân ở đây, chương
trình nước sạch của Tỉnh đã hỗ trợ kinh phí để xây dựng hệ thống nước sạch cho
người dân ở hai thôn Pa Rinh, Pa Hy. Vào tháng 5/1999 nhờ sự giúp đỡ về mặt
tài chính của IDRC - dự án quản lý tài nguyên vùng đồi núi đã khảo sát và lắp
đặt một hệ thống nước sinh hoạt cho 14 hộ ở thôn A Rom, ở các thôn còn lại

bệnh đường ruột: tiêu chảy, kiết lỵ; bệnh đường hô hấp: phổi, hen suyễn, bệnh
giun sán, suy dinh dưỡng. Đặc biệt, ở Hồng Hạ hiện tượng đẻ non, sẩy thai ở
phụ nữ và suy dinh dưỡng ở trẻ em thường xảy ra. Tính riêng năm 2006 điều trị
và khám chữa bệnh tại trạm là 1.100 lượt, trong đó khám chữa bệnh cho dân
nghèo 540 lượt , trẻ cấp cứu chấn thương 8 em, tai nạn giao thông 18 người, tai
nạn lao động 10 người, tổ chức cho 172 cháu uống VtaminA. Duy trì đều đặn
các chương trình y tế chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em như: tiêm chủng mở rộng,
khám phụ khoa cho bà mẹ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm. Làm tốt công tác
phòng chống sốt rét bằng việc tuyên truyền toàn dân giữ gìn vệ sinh, nằm màn
có trộn hóa chất đạt tỷ lệ 100%. Nên các dịch bệnh đã được đẩy lùi, đặc biệt là
bệnh sốt rét trên địa bàn xã.
2.5.3. Lịch sử hình thành xã Hồng Hạ.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, khi thực dân Pháp đặt ách thống trị
lên miền núi Thừa Thiên Huế, chúng chia thành bốn nguồn: nguồn sông Bồ,
nguồn Ô Lâu, nguồn hữu và nguồn tả (nay thuộc địa phận huyện Nam Đông).
Xã Hồng Hạ thuộc nguồn sông Bồ bao gồm bảy tổng. Từ sau cách mạng tháng 8
đến nay, xã Hồng Hạ sau nhiều lần tách nhập và biến động như sau:
Năm 1948, Tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định thành lập các xã vùng núi
huyện Phong Điền có các xã: Phong Sơn. Phong Bình, Phong Lâm. Vào thời
điểm này xã Phong Lâm bao gồm các xã Hồng Thượng, Hồng Hạ, Hồng Bắc
hiện nay.
Tháng 2 năm 1963, nhận thức được khó khăn trong quản lý do địa bàn
quá rộng dân cư phân tán nên Tỉnh uỷ đã họp và quyết định thành lập miền Tây
Thừa Thiên Huế tách khỏi huyện Phong Điền gồm ba quận: Quận I, quận III,
quận IV. Xã Hồng Hạ thuộc sự lãnh đạo và quản lý của chính quyền quận III.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, và tháng 3 năm 1976, huyện A Lưới
được thành lập gồm các xã thuộc quận nhất và quận III. Từ đây xã Hồng Hạ
chịu sự lãnh đạo và quản lý của huyện uỷ và UBND huyện A Lưới.
Tháng 6 năm 1997 dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, UBND huyện A Lưới,
xã Hồng Hạ cắt cho xã Hương Nguyên khoảng 10.000 ha đất tự nhiên và thôn

-Hộ xây dựng Hộ 1 0 0 1 0 0
-Hộ thương nghiệp Hộ 22 9 3 3 6 1
-Hộ vận tải Hộ 0 0 0 0 0 0
-Hộ dịch vụ khác Hộ 15 4 4 5 1 1
-Hộ khác Hộ 9 4 0 2 1 2
(Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã năm 2006)
So với tổng diện tích đất tự nhiên của xã (14.100 ha) thì mật độ dân cư ở
đây còn rất thưa (trung bình 9,4 người/km
2
). Tuy nhiên tỷ lệ tăng dân số rất
nhanh. Theo số liệu của UBND xã từ tháng 10 năm 1975 dân số toàn xã chỉ có
300 người . Trong hơn 30 năm qua, tỷ lệ tăng tự nhiên và gia tăng cơ học nên
dân số của xã tăng lên gấp 4,4 lần. Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ lệ dân số nằm
trong độ tuổi lao động tương đối lớn. Đây là một lợi thế lớn cho xã trong quá
trình phát triển kinh tế nếu biết cách khai thác được tiềm lực đó. Nếu xã không
khai thác được lợi thế đó thì vô tình đây là một sức ép cho xã trong quá trình tìm
công ăn việc làm cho tầng lớp thanh niên này. Nếu không có công ăn việc làm
20
cho họ thì họ sẽ vào rừng để khai thác gỗ bán kiếm tiền phục vụ bản thân, gia
đình. Đây là một mối nguy hiểm làm cho tài nguyên rừng ngày một nghèo kiệt
và suy thoái. Hiện nay trong toàn xã có 273 hộ nhưng chủ yếu là các hộ làm
nông nghiệp (225 hộ), chứng tỏ đây là một xã thuần nông, các hoạt động tạo thu
nhập chủ yếu từ nông nghiệp. Còn các hộ thương nghiệp, dịch vụ chiếm một tỷ
lệ rất ít (22 hộ) và (15 hộ), còn lại là các hộ khác.
Hiện nay ở Hồng Hạ có những nhóm dân tộc sau:
Bảng: Các nhóm dân tộc ở xã Hồng Hạ.
Nhóm dân tộc Số lượng Phần trăm (%)
Ka tu 111 40,7
Pa hy 8 2,9
Pa cô 81 29,7

Từ những năm 1984-1985, người dân nơi đây đã biết cách trồng lúa nước,
mặc dù vậy do không biết chăm sóc, chỉ chờ vào thời tiết nên chưa cải thiện
được cuộc sống. Một số hộ vẫn di cư vào rừng sâu để thuận tiện cho việc chăn
thả gia súc và hái lượm sản phẩm rừng.
Cuộc sống người dân Hồng Hạ thực sự có chuyển biến khi Nhà Nước đầu
tư xây dựng hai đập thuỷ lợi tại hai thôn Cơn Tôm và Cơn Sâm (1993-1994). Từ
đó bà con đã mở rộng diện tích trồng lúa nước, có điều kiện thâm canh cây lúa
nước, biết đào ao thả cá nên cuộc sống của người dân phần nào đã được cải
thiện.
Song song với thời gian này, việc giao đất giao rừng cho bà con định cư
cũng được thưc hiện. Từ việc chăm sóc bảo vệ và trồng rừng mới hàng năm đã
tạo cho người dân một nguồn thu nhập đáng kể và giúp cho người dân từ bỏ thói
quen đốt phá rừng làm nương rẫy và ý thức được trách nhiệm bảo vệ rừng.
Chăn nuôi của đồng bào dân tộc ở Hồng Hạ đã có từ lâu nhưng là chăn
nuôi nhỏ, lạc hậu và mang nặng tính chất tự nhiên. Đối với vật nuôi như gia súc
hay gia cầm trước đây đều được thả rông, không có chuồng trại, không chú ý tới
việc tạo nguồn thức ăn, không chú ý tới việc phòng và chữa bệnh cho gia súc.
Hiện nay chăn nuôi của người dân ở đây đã có bước chuyển biến, có tiêm
phòng, làm chuồng trại, một số gia đình đã biết sử dụng phân gia súc. Nhìn
chung kỹ thuật chăn nuôi của đại bộ phận dân cư ở Hồng Hạ vẫn còn lạc hậu.
Trước đây do rừng còn nhiều, nguồn lợi tự nhiên của rừng còn dồi dào và
ý thức của người dân còn lạc hậu cho nên người dân chỉ chú ý tới mặt khai thác,
lợi dụng các nguồn lợi tự nhiên. Về sau do diện tích rừng bị thu hẹp, nguồn lơi
của rừng bị cạn kiệt và dân số ngày một tăng lên cùng với việc Nhà Nước ban
hành các pháp lệnh về việc cấm khai thác gỗ, cấm săn bắt các động vật quý
22
hiếm, cấm chặt đốt phá rừng làm nương rẫy nên con người đã có ý thức tới việc
bảo vệ, phát triển các nguồn lợi tự nhiên.
2.5.6. Đặc điểm đất đai.
* Đất đai và sử dụng.

sạt lở và việc xây dựng công trình thuỷ điện làm ngập một số vùng trồng lúa
trước đây. Đất chưa sử dụng ở xã vẫn còn lớn là 1.966,11 ha chiếm 14,2%. Tính
đến nay 123 hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ưu tiên
cho những hộ đã được xây nhà theo chương trình 134. Số hộ không nằm trong
chương trình 134 mà đã hoàn tất đo vẽ, lập hồ sơ giao cho phòng tài nguyên đất
và môi trường huyện A Lưới là 126 hộ. Còn 34 hộ do đất đai chưa ổn định nên
chưa lập hồ sơ.
2.5.7. Hệ thống cơ sở hạ tầng.
Hồng Hạ nằm trên trục đường giao thông liên huyện từ Huế đi A Lưới,
trong những năm gần đây nhờ sự đầu tư giúp đỡ của nhà nước nên hệ thống
đường sá ở đây đã được nâng cấp. Tuy nhiên, vào mùa mưa nước chảy mạnh
làm cho trục đường này dễ bị sạt lở gây ách tắc giao thông. Hệ thống đê điều
kênh mương ở đây còn bị hạn chế, không đủ khả năng cung cấp nước cho sản
xuất nông nghiệp đặc biệt là về mùa khô.
Từ năm 1996, được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước đối vớ các xã
miền núi, Hồng Hạ đã được xây dựng một UBND xã. Năm 1998, hội cựu chiến
binh Mỹ đã tài trợ kinh phí 160 triệu đồng để giúp Hồng Hạ xây dựng một trạm
xã gồm 8 giường bệnh. Hiện nay Hồng Hạ đã có trường phổ thông cấp I,II. Cả
năm thôn ở Hồng Hạ đều có hệ thống nước sạch, điện cho sinh hoạt và sản xuất,
tuy nhiên số hộ sử dụng điện và nước cho sinh hoạt chưa hết hoàn toàn ở các
thôn. Đến nay trong toàn xã đã có 95% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia
để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Có 68 hộ được dùng nước sạch sinh hoạt.
Năm 2001 Nhà Nước đầu tư xây dựng trạm bưu điện xã và hệ thống thu phát
sóng truyền hình phục vụ nhu cầu văn hoá thông tin của người dân. Hiện nay tại
thôn A Rom đang xây dựng công trình thuỷ điện. Đây là một công trình lớn sau
khi xây dựng xong sẽ mang lại nhiều lợi ích cho xã trong quá trình phát triển đi
lên của xã hội. Năm 2007 được sự hỗ trợ của dự án JICA nên xã sắp xây dựng
một căn nhà "Cộng đồng truyền thống của các dân tộc ở Hồng Hạ". Đây là một
căn nhà nhằm khôi phục lại những nét truyền thống đã bị lãng quên và mai một
dần trong thời gian qua. Sau khi xây dựng xong đây là nơi tổ chức hội họp lễ hội

Về tài nguyên thiên nhiên: Diện tích rừng tự nhiên giảm do ảnh hưởng của
chiến tranh trước năm 1975 và sự khai thác bất hợp lý của con người sau năm
1975. Đất đai hầu hết quy hoạch cho tái trồng rừng. Tài nguyên rừng và đất rừng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status