PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển của
mỗi quốc gia, Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến
tích cực nhờ những điều chỉnh thích hợp với quá trình hội nhập. Trong sự
chuyển biến đó, có sự chuyển biến rõ nét của nông nghiệp và nông thôn, từ chỗ
thiếu lương thực phải nhập khẩu, đến nay nước ta đảm bảo được an toàn, an ninh
lương thực, sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú.
Huyện A Lưới là huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa diện tích đất tự
nhiên của huyện là 122.463,60 ha và dân số là 42.262 người (năm 2010). A
Lưới có rất nhiều dân tộc chung sống trên một địa bàn, trong đó dân tộc ít
người chiếm trên 75% dân số toàn huyện. Là khu vực có địa hình phức tạp, A
Lưới có 21 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị trấn và 20 xã phân bố kéo dài
dọc biên giới Việt-Lào.
Tuy nhiên do tình trạng du canh du cư trước đây khá phổ biến, việc
khai thác tài nguyên thiên nhiên còn mang tính tự phát chưa có cơ sở khoa
học và chưa được hoạch định một cách rõ ràng nên không những làm cho đời
sống nhân dân thiếu ổn định, kinh tế khó khăn mà còn làm cho đất đai ngày
càng bạc màu, tài nguyên cạn kiệt và hủy hoại môi trường. Nhận thức thâm
canh cây trồng của người dân còn thấp, chưa mạnh dạn đầu tư phát triển nông
nghiệp, tiềm lực lao động chưa được khai thác, việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng hợp lý nhằm phát triển nền nông nghiệp trên địa bàn là rất cần thiết.
Trước tình hình đó, việc tìm hiểu thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây
trồng để tìm các giải pháp và định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị sản lượng và hiệu quả kinh tế trên
một đơn vị diện tích canh tác cao nhất phù hợp với lợi thế kinh tế của tiểu
vùng khí hậu sinh thái, điều kiện kinh tế và xã hội, nhằm hạn chế những bất
lợi, tăng sản phẩm cho xã hội, cải thiện đời sống cho người sản xuất. Vì vậy
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây
trồng tại xã Hồng Thái, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011” nhằm
* Vai trò của chuyển dịch cơ cấu cây trồng.
Vai trò của chuyển dịch cơ cấu cây trồng có một ý nghĩa quan trọng
trong việc phá vỡ thế độc canh nông nghiệp, từng bước phát triển nền công
nghiệp hàng hóa, đẩy mạnh phân công lao động trên địa bàn nông thôn. Bên
cạnh đó góp phần nâng cao mức độ hiệu quả sử dụng các nguồn lực như: lao
động, đất đai và tai nguyên thiên nhiên khác, vốn, khoa học công nghệ, truyền
thống nghề nghiệp. Mở ra khả năng ứng dụng nhanh và có hiệu quả các tiến
bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế
3
quốc dân. Góp phần bảo vệ tôn tạo lại môi trường sinh thái trong sạch, bền
vững. Tạo khả năng và điều kiện để chúng tham gia có hiệu quả vào quá trình
hợp tác và phân công lao động quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Tạo bước đột phá chuyển dịch cơ cấu chung, khai thác nội lực, nhất là nguồn
lực tại chỗ về lao động, đất đai và tài nguyên khác.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu cây trồng.
* Điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có tác động rất lớn đến cơ cấu cây trồng, điều kiện tự
nhiên gồm có: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, các nguồn tài nguyên… mỗi vùng
miền có một vị trí địa lý, đất đai, điều kiện khí hậu khác nhau và nó cũng tạo
điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho phát triển sản xuất đối với cơ cấu cũng
như chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Do đó, trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp những ưu thế vị trí địa lý, chất đất, nguồn nước trở thành những
yếu tố cấu thành thuận lợi quan trọng.
4
* Điều kiện kinh tế - xã hội.
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật tác động tới năng suất,
chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiêp, từ đó có tác động đến việc phân
công lao động, do đó nó có tác không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
cũng như cơ cấu cây trồng. Cơ sở vật chất kỹ thuật gồm có: Kết cấu hạ tầng
kỹ thuật, chất lượng, số lượng…
khoảng 14% tổng diện tích đất cả nước, diện tích bình quân 350 m
2
/người,
xếp vào loại thấp nhất thế giới, nhưng họ đã dựa vào nền khoa học tiên tiến,
có kỹ thuật canh tác sáng tạo đã tạo được một nền nông nghiệp vững mạnh
với cơ cấu cây trồng hoàn thiện đạt năng suất cao. Năm 1987 Chính phủ Nhật
Bản đã triển khai xây dựng một nền nông nghiệp đặc thù chuyên canh theo
hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nguyện vọng của nhân dân.
Còn ở Philippin trên những vùng chủ động nước trước kia người ta chỉ
trồng 2 vụ/năm, nhưng trong những năm gần đây nhờ sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật đã chọn tạo giống mới, họ đã chuyển sang trồng 3-4 vụ/năm với các
công thức luân canh phù hợp tạo nên một cơ cấu cây trồng tương đối hợp lí
như sau:
(1) Là thực hiện luân canh ba vụ giữa cây Lúa - Đậu – Khoai.
(2) Là thực hiện luân canh ba vụ giữa cây Lúa - Lúa - Đậu tương.
(3) Là thực hiện luân canh bốn vụ giữa cây Lúa - Lúa miến gieo – Lúa
miến gốc I – Lúa miến gốc II.
(4) Là thực hiện luân canh bốn vụ giữa cây Lúa – Khoai lang – Đậu
tương – Ngô đường [3].
2.2.2. Một số nghiên cứu về cơ cấu và hệ thống cây trồng ở Việt Nam
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đã áp dụng các chiến
lược phát triển trong nông nghiệp như tập trung vào việc nghiên cứu cải tạo
giống có năng suất cao, phẩm chất tốt. Để đạt được kết quả đó trong mấy năm
qua chúng ta đã có nhiều biện pháp như: thay đổi giống mới vào sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp. Trong canh tác sử dụng đất thì
tiến hành luân canh, xen canh, gối vụ, tăng vụ. Trong sản xuất nông nghiệp thì
đẩy nhanh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm thay đổi nền
nông nghiệp nước ta, tăng thêm sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp. Để đạt được
kết quả trong sản xuất nông nghiệp thì nước ta cần có cơ cấu cây trồng phù hợp
cho từng vùng, vì điều kiện tự nhiên nước ta có những vùng có những đặc trưng
một số vùng đã sớm đưa các kiến thức này vào sản xuất và hiệu quả tăng lên
rõ rệt như: cơ cấu hai vụ lúa – một cây vụ đông.
7
Các tác giả Đào Xuân Thụ, Đào Nguyên Hải trường Đại học Nông
nghiệp I đã nghiên cứu về “Đánh giá triển vọng sinh thái học bạc màu Hà Nội
thuộc vùng đồng bằng sông Hồng”, trong đó các tác giả đã nghiên cứu cơ cấu
cây trồng trên đất lúa và có kết quả như sau:
Trên đất có 2 vụ lúa: Lúa vụ xuân – Lúa vụ mùa – Ngô đông xuân hoặc
khoai lang đông xuân hoặc ớt đông xuân.
Trên chân đất 3 vụ: Lúa xuân – Lúa mùa sớm – Cây vụ đông hoặc Lạc
xuân – Lúa mùa sớm – Cây vụ đông.
Tác giả Nguyễn Minh Thụ trường Đại học Nông nghiệp I “Nghiên cứu
biện pháp kỹ thuật hợp lý trên đất bạc màu”, tác giả đã nghiên cứu trên vùng
đất Đông Anh ngoại thành Hà Nội với các cơ cấu:
(1) Lúa xuân – Đậu tương hè – Thuốc lá – Khoai tây.
(2) Lúa xuân – Lúa mùa cực sớm – Cây vụ đông.
(3) Khoai lang xuân – Đậu tương thu – Cây vụ đông.
* Ở miền Nam nói chung có cơ cấu cây trồng đơn giản hơn miền Bắc vì
ở đây có những vùng ngập lụt kéo dài nên không thể gieo trồng quanh năm
như ở miền Bắc. Ở đồng bằng sông Cửu Long lúa là cây trồng chính, tuỳ vào
đặc điểm của đất mà cây trồng và giống cây trồng khác nhau. Đối với đất
phèn nhẹ có hệ thống tưới tiêu: Lúa cao sản (đông xuân) – Hoa màu (xuân hè)
– Lúa cao sản (hè thu), còn ở vùng nước trời với vùng nước ngập dưới 50 cm
có các công thức luân canh sau:
(1) Lúa cao sản hè thu – Lúa mùa lấp vụ thu đông – Hoa màu đông xuân.
(2) Lúa cao sản hè thu – Lúa trung mùa cao sản thu đông – Hoa màu
đông xuân.
* Ở miền Trung do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt nên cơ cấu cây
trồng đơn giản hơn các vùng khác. Vùng Bắc Trung bộ mùa mưa thường đến
chậm hơn ở miền Bắc nên giai đoạn đầu của vụ mùa đất thường khô, đến
lợi ích mà nó mang lại chủ yếu là lợi ích kinh tế và môi trường.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp được tìm hiểu từ các tài liệu: niên giám thống kê
huyện A Lưới năm 2010, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm
của xã Hồng Thái; báo cáo về tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở địa
bàn xã, tài liệu sách báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu liên quan. Qua đó thu được
một số thông tin sau: tình hình chung của địa phương “về dân số, kinh tế, văn
hoá, xã hội”; Diện tích đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; Các loại
cây trồng chính của địa phương; Các loại cây trồng được bố trí trên vụ; Lịch
thời vụ; Những khó khăn thuận lợi của địa phương trong việc chuyển dịch các
loại cây trồng.
10
3.4.2.Thu thập thông tin sơ cấp
Phỏng vấn sâu người am hiểu :phỏng vấn phó chủ tịch xã, 3 trưởng
thôn, hội nông dân, cán bộ khuyến nông viên thôn. Qua đó thu thập các thông
tin sau: tình hình canh tác sử dụng đất, cơ cấu cây trồng, diện tích – năng suất
của một số cây trồng chính tại địa phương, cơ cấu thu nhập của người dân từ
các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Phỏng vấn hộ: Phỏng vấn 40 hộ sản xuất nông nghiệp trên 3 thôn được
chọn ngẫu nhiên theo danh sách có sẵn. Qua đó thu thập các thông tin sau: cơ
cấu cây trồng của nông hộ, diện tích – năng suất của một số cây trồng chính
của nông hộ, chi phí đầu tư cho một số cây trồng chính của nông hộ qua đó đánh
giá hiệu quả kinh tế mà cây trồng đó đem lại từ đó xem xét cơ cấu cây trồng đó
đã hợp lí hay chưa, những thuận lợi và khó khăn của nông hộ trong sản suất
nông nghiệp.
3.4.3. Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập từ 40/316 hộ được tổng hợp và xử lý thông qua
phần mềm tính toán Microsoft Excel 2003.
11
không bồi tụ, đất vàng nhạt phát triển trên đá cát, và một ít đất xám bạc màu.
Ở ven sông, suối, tầng đất dày trên 80 cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt
trung bình, khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vườn.
12
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
* Dân số và lao động: mật độ bình quân dân số trên toàn huyện là 35
người/km
2
, trong lúc đó mật độ tại vùng nghiên cứu là 20 người/km
2
, xã Hồng
Thái có tổng số 321 hộ với 1.393 nhân khẩu, trong đó có là 627 người trong độ
tuổi lao động, trong đó có 340 nữ. Sự cân đối giữa nguồn nhân khẩu, nguồn lao
động hiện có với tư liệu sản xuất hiện nay cho thấy lao động hiện nay đang
thiếu việc làm, nảy sinh hiện tượng chia việc làm do đó năng suất lao động
không cao.
Tổng số lao động của xã Hồng Thái là 627 người, trong đó lực lượng
lao động theo thời vụ chiếm khoảng 80%. Theo kết quả điều tra, lao động chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp. Cuộc sống khó khăn nên sức khỏe người dân
hạn chế, ảnh hưởng đến tình trạng việc làm. Mặt khác trình độ dân trí, trình
độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề chưa cao. Số lao động được đào tạo ngành
nghề chính quy còn ít. Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến qúa
trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã.
* Đặc điểm chung về phát triển kinh tế xã hội và các ngành kinh tế
chủ yếu của xã Hồng Thái:
Xã Hồng Thái có điều kiện phát triển kinh tế tổng hợp: nông lâm
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Những năm gần đây cùng với sự phát
triển kinh tế của huyện, tỉnh, sự đầu tư của các dự án, nền kinh tế xã tăng
trưởng với tốc độ tương đối khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, đầu tư có
trọng điểm, tạo chuyển biến mới về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
DT
(Ha)
NS
(Tạ/ha)
SL
(Tấn)
DT
(Ha)
NS
(Tạ/ha)
SL
(Tấn)
DT
(Ha)
NS
(Tạ/ha)
SL
(Tấn)
Lúa 56,0 33,0 185,0 59,0 32,8 193,3 64,0 31,9 204,4
Ngô 46,0 39,1 180,0 44,0 39,3 172,8 20,0 36,0 72,0
Khoai lang 6,0 32,0 19,2 6,0 34,0 20,4 4,0 32,5 13,0
Sắn 75,0 95,0 712,5 60,0 95,0 570,0 60,0 135,0 810,0
Rau các loại 6,0 63,0 37,8 7,0 63,9 44,7 8,0 66,6 53,3
Đậu các loại 4,0 4,9 1,9 3,5 4,8 1,7 2,5 4,8 1,2
Nguồn: Niên giám thống kê huyện A Lưới, năm
2010
Qua bảng 1 ta có thể thấy, nhìn chung về số lượng các loại cây lương
thực được người dân ở đây đưa vào tiến hành gieo trồng khá đa dạng bao gồm
lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc và nhiều loại cây khác. Nhưng ta có thể thấy
14
giao rừng. Diện tích này hiện nay rất lớn (khoảng hơn 4000 ha) và vẫn tiếp
tục tăng tuy nhiên do điều kiện chăm sóc và khai thác khó khăn nên hiệu quả
15
vẫn còn hạn chế. Các mô hình trồng rừng hỗn hợp đang được đưa vào thử
nghiệm để thay thế cho các diện tích này sau khi đã khai thác. Bên cạnh đó,
hiện nay tại xã cũng đang dần xuất hiện một số mô hình như VAC, VACR với
sự hỗ trợ từ chính quyền cũng như các dự án. Đây hứa hẹn sẽ là một hướng đi
mới cho lĩnh vực canh tác trên diện tích đất dốc của xã. Nhìn chung, hệ thống
cây trồng của xã tuy đa dạng nhưng lại chưa được đầu tư đúng mức. Sản xuất
còn dàn trải, chưa xuất hiện những loại cây mang tính chủ lực, làm nền tảng
cho sự phát triển của xã. Tiềm năng về đất đai vẫn chưa được khai thác một
cách đúng mức và hiệu quả.
4.2.3. Thời vụ một số cây trồng chính tại xã Hồng Thái.
Việc nắm bắt thời vụ của các loại cây trồng sẽ là cơ sở cho việc lựa
chọn và bố trí cây trồng được hợp lí hơn, tận dụng được tối đa quỹ đất hiện
có, từ đó tạo tiền đề cho việc định hướng hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Thời vụ cây trồng là một yếu tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng. Bố trí thời vụ gieo trồng
hợp lý sẽ tránh được các yếu tố bất lợi như nhiệt độ qúa cao hoặc qúa thấp,
thời kỳ bão lụt, thời kỳ khô hạn; bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý sẽ sử dụng
được tối đa nguồn nhân lực sẵn có. Trên cơ sở thực tế về tình hình một số thời
kỳ bất lợi cho hoạt động trồng trọt của địa phương như: thời kỳ khô hạn tập
trung vào các tháng 6, 7 và 8; thời kỳ bão lụt tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến
tháng 11. Thời kỳ gió Tây Nam tập trung từ khoảng tháng 6 đến tháng 8 và
thời kỳ gió mùa Đông Bắc tập trung vào cuối tháng 11 đến cuối tháng 01 năm
sau. Kết hợp với đặc điểm của từng loại cây, chính quyền địa phương và
người dân của xã đã bố trí lịch thời vụ của một số cây trồng chủ yếu tại địa
phương như sau:
Đối với vụ lúa Đông - Xuân bố trí gieo sạ sao cho lúa trổ sau Lập Xuân
sẽ tránh được khí hậu lạnh, sương mù, ẩm độ và nhiệt độ thấp, ít bệnh đạo ôn,
hạn chế. Nhìn chung thì trang thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở đây
rất nghèo nàn, người dân chủ yếu sử dụng các công cụ thô sơ làm bằng tay
như cắt bằng liềm, tuốt lúa bằng máy đạp chân và khi thu hoạch thì vận
chuyển về nhà bằng xe ba gác có trâu kéo.
Nhìn chung các hộ dân nơi đây đều gặp khó khăn chung trong sản xuất,
bên cạnh đó, về khách quan còn do ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, điều kiện
nông hoá thổ nhưỡng…Tuy nhiên, với sự cố gắng khắc phục khó khăn của
17
các hộ nông dân, sự phân bố đầu tư ngày càng hợp lý nên năng suất ngày
càng được cải thiện. Như vậy việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng là
vấn đề đặt lên hàng đầu trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng cho việc tăng
trưởng kinh tế và phát triển nông thôn mới.
4.3.1. Tình hình dân số vào lao động xã Hồng Thái năm 2011.
Lực lượng lao động của các hộ có vai trò quan trọng đối với thu nhập
từ sản xuất nông nghiệp theo kết quả điều tra ở 40 hộ thì có 185 nhân khẩu
trong đó có 87 người trong độ tuổi lao động (chiếm 47,0 %), trong đó số lao
động nông nghiệp là 69 người (chiếm 37,3%). Tình hình số lượng, chất lượng
lao động và tỷ trọng lao động so với nhân khẩu được phản ánh qua bảng 2.
Bảng 2 : Tình hình dân số và lao động của các hộ năm 2011
Chỉ tiêu
Bình quân chung
Số lượng Tỷ lệ %
Bình quân số nhân khẩu/hộ 4,625 100
Bình quân số lao động chính/hộ 2,175 47.0
Bình quân số lao động nông nghiệp/hộ 1,725 37,3
Nguồn: Số liệu điều tra phỏng vấn hộ, năm 2011
Qua bảng 2 ta thấy, số nhân khẩu ở các gia đình ở đây là ở mức trung
bình với 4,625 khẩu/hộ và tỷ lệ số lao động chính trong gia đình cũng ở mức
trung bình khi chiếm 47% số lao động trong gia đình. Như vậy, số khẩu phụ
thuộc không quá lớn, gần như một lao động phải làm việc để nuôi thêm một
Kết quả thu được ở bảng 3 cho thấy diện tích canh tác của các hộ
không quá thấp với 8,55 sào/hộ tuy nhiên, với kỹ thuật canh tác và hiệu quả
sản xuất còn thấp như hiện nay thì diện tích này rất khó có thể đảm bảo nhu
cầu lương thực cho các hộ nếu việc bố trí cơ cấu cây trồng không hợp lý. Cây
lúa là cây lương thực chủ yếu nên diện tích trồng lúa vẫn được người dân chú
trọng với 3,72 sào/hộ. Nhưng nếu chỉ tập trung vào sản xuất lúa thì nguồn
lương thực vẫn bị hạn chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro khi đó ngô và rau các loại là
nguồn cung cấp chủ yếu nhưng diện tích dành cho ngô còn quá ít với chỉ 0,57
sào/hộ và rau chỉ là 0,81 sào/hộ. Cây lạc là cây có giá trị kinh tế cao và giúp
cải tạo đất nhưng diện tích trồng lạc tại đây vẫn thấp với 1,05 sào/hộ cho nên
cần có những biện pháp tăng diện tích và tăng năng suất để mang lại hiệu quả
kinh tế cao ở nhóm các hộ và địa phương. Nhìn chung, diện tích bình
quân/Lao động chỉ đạt 1,48 sào thì đó sẽ là một khó khăn lớn cho việc đảm
bảo đời sống cũng như sinh kế của người dân. Việc tận dụng diện tích đất và
cải tạo các diện tích hoang hóa, bạc màu và chưa sử dụng là rất cần thiết để
19
đảm bảo sinh kế cho các hộ dân ở đây. Cùng với đó việc chuyển dịch cơ cấu
cây trồng theo hướng phát triển mới vừa đảm bảo nguồn lương thực, vừa tạo
đà phát triển mới là việc làm cấp bách và không thể chậm trễ.
20
4.4. Thực trạng cơ cấu cây trồng tại xã Hồng Thái.
Như đã trình bày ở trên, hiện nay tại xã Hồng Thái đang trồng một số loại
cây trồng chủ yếu như cây lương thực, thực phẩm bao gồm lúa, ngô, khoai, sắn,
các loại rau… cho năng suất không cao nhưng tương đối ổn định. Bên cạnh đó
người dân nơi đây còn trồng một số loại cây ăn quả như cam, xoài, mít, buổi,
nhãn và một số loại cây lâm nghiệp như keo, tràm, bạch đàn…diện tích này khá
lớn nhưng lại không tập trung mà manh mún, nhỏ lẻ, không được đầu tư đúng
mức nên năng suất không cao, hiệu quả kinh tế thấp và hiện vẫn chưa thực sự
mang lại sự ổn định cho đời sống của người dân nơi đây.
4.4.1. Cơ cấu hệ thống cây trồng tại xã Hồng Thái năm 2010.
mỗi nông hộ. Thêm vào đó, hiện nay nhờ sự hỗ trợ của chính quyền các cấp
hệ thống kênh mương và giống cây trồng ngày càng được hoàn thiện đủ sức
đáp ứng cho hoạt động sản xuất lúa nước của người dân nơi đây. Trước đây,
diện tích được tưới tiêu còn rất hạn chế nên cây lúa nước tỏ ra không mấy
hiệu quả nên người dân chủ yếu trồng thêm các loại ngô, khoai để bổ sung
thêm lương thực. Với những điều kiện về kỹ thuật và vật chất ngày càng được
cải thiện như hiện nay thì việc mở rộng diện tích trồng lúa là một hướng đi
cần thiết và rất có lợi cho việc tạo nền tảng vững chắc cho việc hướng tới làm
giàu dựa vào những loại cây chủ lực khác mà địa phương đang có tiềm năng
như Sắn, Cà phê, keo, bạch đàn và trồng rừng theo mô hình VAC, VACR…
Bên cạnh cây lúa thì sắn cũng là loại cây có cơ cấu khá cao với 38%
trong cơ cấu cây trồng của xã. Với diện tích đất tự nhiên khá rộng và chất đất
khá phù hợp cho việc trồng sắn thì cây sắn khá được ưa chuộng tại địa
phương. Tuy nhiên, so với trước đây thì hiện nay cây sắn cũng đang có chiều
hướng giảm sút về diện tích một phần cũng do nhường đất cho làm thủy điện
A Lưới phần khác là do cây sắn là cây sử dụng chất dinh dưỡng rất nhiều, đòi
hỏi đầu tư khá lớn nên trong những năm đầu tiên cây sắn tỏ ra phù hợp và cho
hiệu quả tốt nhưng càng về những năm sau này, khi đất đai đã cằn cỗi trong
khi mức độ đầu tư của người dân lại không tương xứng thì hiệu quả kinh tế
của cây sắn ngày càng giảm xuống nên số lượng người dân chuyển từ trồng
sắn qua các loại cây trồng khác ngày càng nhiều. Cũng theo người dân nơi
đây thì do thị trường của sản phẩm sắn cũng khá bấp bênh, giá cả thường
xuyên biến động và vị trí của địa phương lại không thực sự thuận lợi nên hiệu
quả sản xuất sắn ngày càng thấp. Sự suy giảm về cơ cấu cây sắn hiện nay là
hợp lý và nó sẽ tạo điều kiện để phát triển các loại cây khác.
Cùng với đó là cơ cấu của cây ngô cũng khá đáng kể khi chiếm 13% cơ
cấu các cây lương thực của xã. Trước đây ngô là một trong những cây chủ lực
về lương thực của địa phương do nó dễ trồng và thuận lợi trồng trên diện tích
đất đồi, đất dốc cũng như tập quán canh tác của người dân. Nhưng hiện nay
22
trình độ kiến thức khá tốt nên hiện nay số hộ dân tại đây có đủ khả năng để áp
dụng mô hình này là không nhiều mà chủ yếu vẫn là trồng các vườn tạp hoặc
23
rừng thuần loài là chủ yếu nên hiệu quả không cao và chưa thể áp dụng
phương thức lấy ngắn nuôi dài đẻ phát triển kinh tế gia đình.
4.4.2. Tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng xã Hồng Thái từ năm 2008 -
2010
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là một hướng đi đúng đắn và cần thiết
đối với hầu hết các địa phương để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội của địa phương mình. Hồng Thái là một xã miền núi, trình độ canh tác
của người dân nơi đây còn thấp, cơ cấu cây trồng còn chưa hợp lý và chủ yếu
phục vụ cho nhu cầu của hộ gia đình là chủ yếu nên nó sẽ kìm hãm sự phát
triển chung của địa phương. Nắm bắt được tầm quan trọng của việc chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, chính quyền và người dân nơi đây đã và đang từng
bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phương theo hướng ngày càng phù
hợp, không chỉ đảm bảo nhu cầu cho người dân địa phương mà đang hướng
tới việc phụ vụ cho các nhu cầu của các thị trường xung quanh và xa hơn.
Mức độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương được phản ánh
rõ nhất trong 3 năm trở lại đây (từ 2008 – 2010). Sự chuyển dịch này được thể
hiện ở biểu đồ 2.
Biểu đồ 2: Sự chuyển dịch cơ cấu các loại cây lương thực chủ yếu
của xã Hồng Thái (từ 2008 – 2010).
24
Qua biểu đồ 2 ta có thể thấy, cơ cấu cây trồng của xã Hồng Thái trong
vòng 3 năm trở lại đây có sự chuyển dịch rất đáng kể. nếu như năm 2008 cơ
cấu các loại cây trồng tính theo hướng từ cao đến thấp là sắn – lúa – ngô – rau
các loại – khoai lang và đậu cá loại thì sang năm 2010 cơ cấu này có sự
chuyển dịch khá mạnh khi chuyển thành lúa – sắn – ngô – rau các loại – khoai
và đậu các loại. Sự vươn lên mạnh mẽ của cơ cấu cây lúa cho thấy có một
bước tiến mạnh trong kỹ thuật canh tác lúa nước của người dân và cũng