đánh giá hiệu quả các mô hình nông nghiệp tại xã phú vinh huyện a lưới tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Trong xu thế hội nhập của đất nước để tiến lên xây dựng một xã hội giàu mạnh, thì
việc phát triển kinh tế vùng nông thôn, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi được quan
tâm hàng đầu. Chú trọng phát triển nông nghiệp, coi đó là một thế mạnh của vùng nông
thôn và thế vững chắc cho phát triển công nghiêp, dịch vụ nông thôn.
Phú Vinh là một xã thuộc huyện A Lưới, một huyện dân tộc miền núi. Đời sống
của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Các dịch vụ xã hội chưa tiếp cận được
nhiều với họ. Trình độ dân trí nói chung còn thấp gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc
chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Trong khi đó nông nghiệp
muốn phát triển thì cần phải áp dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật phù hợp
với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương.
Từ những đặc điểm trên của nguời dân xã Phú Vinh và đòi hỏi thực tiễn của kỹ
thuật nông nghiệp, việc xây dựng các mô hình nông nghiệp là hết sức cần thiết.
Thực tế đã khẳng định muốn làm giàu trong sản xuất nông nghiệp thì không thể sản
xuất theo lối quảng canh, tự cấp tự túc mà phải áp dụng những kỹ thuật tiến bộ, thâm
canh tăng năng suất và tiến đến sản xuất hàng hóa. Đáp ứng nhu cầu về chuyển đổi cơ
cấu cây trồng thích hợp với điều kiện sinh thái để đem lại hiệu quả kinh tế, hoặc phải
luồn lách theo thời vụ nhằm né tránh thời tiết khắc nghiệt, nhằm tạo cho người dân ý
thức về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên.
Để tạo ra những hình mẫu về sản xuất, tổ chức các chuyến tham quan học tập các
lớp tập huấn hay hội nghị đầu bờ nhằm chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật tiến bộ vào
sản xuất theo cách “Nông dân tự chuyển giao cho nông dân”. Đồng thời thử nghiệm
những kỹ thuật mới hoặc thuyết phục người dân trước khi phổ biến ra diện rộng. Góp
phần khẳng định tính khả thi của một phương án sản xuất. Để giai đoạn tiếp theo chỉ
cần tiếp tục bổ sung chứ không phải mày mò thử nghiệm mà có thể yên tâm phát triển
trên diện rộng khi có vốn đầu tư và có thị truờng tiêu thụ sản phẩm .
1
Nghiên cứu về phương pháp chuyển giao kỹ thuật tiến bộ tại 13 tỉnh miền núi phía
bắc cho thấy: Xây dựng mô hình trình diễn là phương pháp chủ đạo để chuyển giao các

những điều kiện nhất định. Hay nói cách khác hiệu quả chính là kết quả mà chủ thể
nhận được theo hướng mục tiêu của mình. [15]
Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích đánh giá và lựa chọn các phương án hành
động.
Hiệu quả được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau mà hình thành nên các khái niệm
khác nhau như: Hiệu quả kinh tế, Hiệu quả xã hội, Hiệu quả khuyến nông, Hiệu quả
môi trường ngoài ra còn có hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp.
- Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu đơn giản là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng
hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của các doanh
3
nghiệp. Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo tác giả
Nguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan phản
ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã xác định” [15]. Còn
tác giả Ngô Đình Giao lại cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi
sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
nhà nước.” [10]
Về mặt khái quát có thể hiểu rằng: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu
hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác
các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực
hiện mục tiêu đã đề ra. [10]
Hiện nay bất kỳ nền kinh tế nào cũng được phát triển theo hai chiều:
- Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng
thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây
dựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ra nhiều mặt hàng mới….
- Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và
công nghệ sản xuất, tiến nhanh lên hiện đại hóa, nâng cao cường độ sử dụng các nguồn
lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Phát triển theo chiều sâu là nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế, đây là phương hướng phát triển phù hợp với xu thế phát triển bền
vững của thế giới ngày nay.

tế được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối cường độ là quan hệ so sánh giữa đầu vào
(chi phí kinh tế) và đầu ra (kết quả kinh tế).
Việc xác định hiệu quả kinh tế tuân theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả, theo nguyên tắc
này, tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu.
Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôn dựa trên phân tích các mục
tiêu cần đạt được. Phương án có hiệu quả nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc
thực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất.
- Nguyên tắc về thống nhất các lợi ích: Theo nguyên tắc này một phương án được
xem là có hiệu quả nhất khi nó kết hợp trong đó các lợi ích.
5
- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Để đánh giá được hiệu quả các
phương án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được và không
lượng hóa được, tức là phải kết hợp phân tích định lượng và hiệu quả phân tích địng
tính. Không thể thay thế phân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tích
định lượng chưa đảm bảo tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích
cũng như mọi chi phí mà chủ thể quan tâm.
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi những căn cứ tính toán hiệu quả phải được xác định
chính xác, tránh chủ quan, tùy tiện.
- Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế: Theo nguyên tắc này những phương
pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu, thông
tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu.
Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn để nghiên cứu
chủ yếu được trình bày dưới một số dạng cơ bản sau đây:
- Dạng thuận: H = Q/C (1)
Trong đó:
H Là hiệu quả.
Q Là lượng kết quả đạt được.
C Là chi phí hoặc các yếu tố đầu vào.
Công thức (1) nói lên: 1 đơn vị chi phí sẽ tạo ra được bao nhiêu đơn vị hiệu quả.

∆C là lượng tăng hoặc giảm của chi phí.
Công thức (4) thể hiện: Để tăng thêm một đơn vị kết quả thì cần đầu tư thêm bao
nhiêu đơn vị chi phí.
Các chỉ tiêu này rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế, bởi vì nguyên
lý cận biên là phần lý thuyết cốt lõi trong kinh tế học hiện đại. Nó là cơ sở để định giá
các yếu tố đầu vào cho việc phân phối sản phẩm và thu nhập.
2.1.3. Khái niệm về mô hình
Trong thực tế để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan
hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình.
Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện
sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều
kiện sản xuất khác nhau.
Theo quan niệm của nhiều cơ quan chuyển giao, mô hình trình diễn kỹ thuật cần có
các đặc trưng sau:
- Là hình mẫu tối ưu cho một giải pháp sản xuất.
- Phải có tính đại diện cho vùng có điều kiện tương tự.
- Phải ứng dụng được các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất.
- Phải có tính hiệu quả: kinh tế, xã hội, môi trường. [18]
Mô hình trình diễn (cả trong trồng trọt và chăn nuôi) là nhân tố quan trọng trong
các dự án phát triển nông thôn tổng hợp do Chính phủ và các tổ chức song phương/đa
7
phương tài trợ. Những mô hình trình diễn này được xem như một công cụ quan trọng
để nâng cao thu nhập của các hộ nông dân và của những người nghèo trong nông thôn.
Ở hầu hết các chương trình của chính phủ trước kia, mô hình trình diễn tiếp cận từ trên
xuống, tức là Trung Tâm Khuyến Nông của tỉnh, huyện xây dựng các mô hình trình
diễn được cấp trên/cấp Trung ương giao.
Việc xây dựng các mô hình trình diễn này không tính toán đến nhu cầu của người
dân và thuờng dẫn tới hậu quả là các cây trồng, vật nuôi, hay công nghệ sản xuất được
trình diễn trong mô hình không được nhân rộng. Trong thời gian gần đây, với những
bài học được rút ra từ thất bại của những dự án theo kiểu tiếp cận từ trên xuống như

kế hoạch của mô hình và phải định lượng hoặc định tính được. Các chỉ tiêu dùng so
sánh phải đồng nhất giữa thực tế và kế hoạch đạt được của mô hình. Phương pháp này
đòi hỏi việc lập kế hoạch phải được làm tốt và việc đánh giá kết quả đạt được của mô
hình phải khách quan, khoa học.
- So sánh giữa lợi ích và chi phí
So sánh giữa lợi ích và chi phí cũng là phương pháp rất cơ bản, thường được dùng
để đánh giá tác động của mô hình.
Chi phí là những gì mà cá nhân hay xã hội bị mất đi hay phải chi tốn khi tiến hành
mô hình. Khi xem về chi phí cần phải chú ý đến cả ba loại chi phí về kinh tế đó là chi
phí đầu tư ban đầu, chi phí đầu tư và chi phí hoạt động. Ngoài ra, cũng cần phải quan
tâm đến các chi phí khác như chi phí về xã hội và môi trường. Đó là các chi phí phát
sinh do tác động xấu của mô hình đến môi trường sinh thái, tác động xấu đến xã hội.
Lợi ích của mô hình là những gì mà cá nhân hay xã hội được lợi khi tiến hành mô
hình. Lợi ích cũng có thể được phân thành ba loại khác nhau: lợi ích về kinh tế, về xã
hội và về môi trường. Có lợi ích trực tiếp (là những sản phẩm hay kết quả trực tiếp).
Và lợi ích gián tiếp (là những kết quả tổng thể lâu dài có thể thấy ngay sau khi hoàn
thành mô hình nhưng cũng có thể một thời gian sau mới phát huy tác dụng).
Lợi ích kinh tế thuờng được biểu hiện ở các mặt như: mức tăng thu nhập, mức tăng
sản phẩm, năng suất và chất lượng, mức giảm chi phí sản xuất, mức tăng vụ, đa dạng
sản xuất…
Lợi ích xã hội của mô hình có thể được xem xét ở các mặt: mức độ cải thiện sức
khỏe của dân, giảm về tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, giảm về chi phí thuốc men để
9
điều trị bệnh, mức tăng cao về đời sống văn hóa, về số học sinh được đến trường, sự
nâng cao về năng lực và tính tự lập của cán bộ và người dân, nâng cao các cơ hội cho
phụ nữ, giảm lao động nặng nhọc cho trẻ em, mức giảm đói nghèo, mức tăng việc
làm…
Lợi ích môi trường có thể là: tăng đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên, cải thiện về điều kiện môi trường (đất, nước, không khí…).
- So sánh trước và sau khi xây dựng mô hình

thông tin truyên truyền sau khi mô hình có kết quả. Trong giai đoạn 2000 - 2006, mô
hình trình diễn được thực hiện trong các chương trình sau:
+ Chương trình an ninh lương thực (ANLT) tại chỗ cho vùng sâu, vùng xa, vùng
dân tộc ít người thông qua các chương trình KN lúa lai, ngô lai và một số chương trình
khác:
- Mô hình trình diễn giống lúa mới: Chương trình này sản xuất hạt giống lúa lai
F1 đã từng triển khai ở 26 tỉnh, thu hút trên 88.200 hộ nông dân tham gia với tổng diện
tích mô hình trên 8000 ha. Mô hình lúa lai thương phẩm đã triển khai ở 39 tỉnh với
hơn 250.000 hộ nông dân tham gia trên tổng diện tích mô hình là 2.258.355 ha. Kết
quả của các mô hình lúa lai F1 và lùa lai thương phẩm đã góp phần phát triển mạnh mẽ
diện tích lúa lai từ vài ha ở những năm đầu thập kỷ 90, đến nay diện tích trên 600.000
ha/năm góp phần tăng sản lượng lương thực của cả nước. Mười năm qua, sản lượng
lương thực luôn tăng năm sau cao hơn năm trước trên 1 triệu tấn thóc. Đặc biệt chương
trình lúa lai đã góp phần quyết định giữ vững ANLT cho các tỉnh Trung du miền Núi
phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung. Tham gia vào vic tự túc sản xuất lúa lai F1
trong nước khoảng 25% và khống chế được giá giống nhập nội.
- Mô hình phát triển Ngô lai: Các mô hình ngô lai được triển khai hầu hết ở các
tỉnh, nhiều nhất là ở vùng Trung du miền Núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và Tây nguyên
với sự tham gia của hơn 9000 hộ nông dân trên 12.000 ha mô hình, góp phần tăng
năng suất từ 21,1 tạ/ha lên 32 tạ/ha. Giá thành sản xuất hạt giống trong nước chỉ bằng
50% so với giá nhập nội, góp phần tiết kiểm được 20 triệu USD nhập giống hàng năm.
- Mô hình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ: được triển khai ở hầu hết các tỉnh trong
nước với tổng diện tích 6.410 ha. Chương trình đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện
tích, chuyển đổi trên 600.000ha từ cây trồng kém hiểu quả, chế độ canh tác cũ sang
11
cây trồng chế độ canh tác hiệu quả cao làm tăng thu nhập trên mỗi ha từ 1,3 đến 5 lần,
thẩm chí có nơi lên đến 100 lần với giá tương đương từ 5 đến 200 triệu đồng. Chương
trình góp phần né tránh thiên tai bất hại cho cây trồng. [8]
- Mô hình phát triển cây công nghiệp dài ngày: Các mô hình trình diễn cây công
nghiệp dài ngày đã được xây dựng trên nhiều tỉnh, nhất là vùng Tây Nguyên và Trung

mô hình trình diễn giống bò ngoại Red Sindhi, Sahiwal, Barahman đã được lai với Bò
vàng Việt Nam đã làm tăng tỷ lệ bò lai cả nước từ 10% lên 25%. Để nâng khối lượng
bò cái từ 170 kglên 220 - 250kg, tỷ lệ thịt xẻ tăng từ 40% lên 47%. Chương trình cải
tạo đàn bò góp phần nâng cao tầm vóc đàn bò vàng việt nam làm cơ sở cho việc lai tạo
tiếp theo hướng chuyên thịt hoặc sữa và giúp gần 1/2 số hộ có chăn nuôi bò thu nhập
tăng trên 1000 tỷ đồng. [8]
- Mô hình chăn nuôi bò sữa năng suất cao: Mô hình này được triển khai trên 20
tỉnh và một số đơn vị, có trên 2000 hộ nông dân tham gia với 5.340 bò cái sữa. Kết quả
năng suất sữa của bò trong mô hình cao hơn bò sữa đại trà từ 15% đến 20%, tỷ lệ bò
cái đẻ thương xuyên cho sữa đạt 60%, năng suất sữa từ 400 - 450kg/con/chu kỳ lên
1.200kg/con/chu kỳ. Sản lượng sữa của các mô hình chăn nuôi bò đạt trên 10.000 tấn.
Chương trình mô hình bò sữa đem lại hiệu quả đáng kể, số lượng bò sữa Việt Nam
tăng lên đếïn nay đã có gần 100.000 con trong đó nhập khẩu trên 10 ngàn con, tổng sản
lượng sữîa đạt trên140.000 tấn/năm.hình thành vùng chăn nuôi bò sữa ở Thành phố Hồ
Chí Minh, Lâm Đồng, Mộc Châu, Sơn La, và nhiều tỉnh khác để cung cấp nguyên liệu
cho các nhà máy chế biến sũa, từng bước hạn chế nhập nội. Phát triển chăn nuôi bò sữa
đã góp phần tạo thêm nghề mới là trồng cỏ nuôi trâu, bò. [8]
- Mô hình chăn nuôi gia cầm: Mô hình được triển khai trên toàn quốc và
đãchuyển giaođược trên 650.000 gia cầm giống mới cho các hộ nông đân, nâng coa tỷ
lệ nuôi sống và tốc độ tăng trọng của gia cầm; cung cấp con giống tại chỗ cho các tỉnh
miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho bà con nông dân.
Qua thực tế cho thấy nuôi 100 con gà, vịt, ngan giống mới có thể thu lại 0,3 - 0,5
triệu đồng sau 2 - 3 tháng chăn nuôi, thậm chí có những hộ lại 0,9 - 1 riệu đồng. Thông
qua việc trình diễn mô hình chăn nuôi đã góp phần nâng cao trình độ dân rí, trình độ kỹ
thuật, đưa ngành chăn nuôi từ manh mún, nhỏ lẻ dần dần trở thành ngành sản xuất
13
hàng hóa chính, tập trung, có hiệu quả kinh tế và tính cảnh tranh cao, nhất là nông dân
ở các tỉnh khó khăn miền núi. [8]
Sau đây là thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng mô hình trình
diễn ở đồng bằng, miền núi và ven biển bao gồm bốn tỉnh: Hà Tĩnh, Hà Giang Bắc

Bảng 1: Các loại mô hình trình diễn hiện tại
(% Tổng số mô hình được điều tra)
Loại mô hình Miền núi Miền trung Chung
Nuôi cá 4.00 4.26 4.35
Nuôi gia cầm 4.00 14.29 8.70
Nuôi gia súc 24.00 19.05 21.74
Cây ăn quả 4.00 28.57 15.22
Cây công nghiệp 8.00 0.00 4.35
Lâm nghiệp 20.00 4.76 13.04
Lúa 20.00 9.52 15.22
Cây rau màu 16.00 19.05 17.39
Tổng 100.00 100.00 100.00
(Nguồn: [3])
+ Hiện tại, việc lựa chọn các mô hình chủ yếu là dựa vào chỉ đạo từ trên xuống
theo kế hoạch hàng năm với mục tiêu là xác định bao nhiêu mô hình trình diễn, những
dạng nào được triển khai. Vì vậy, các cán bộ thực địa được yêu cầu lựa chọn địa điểm
và nông dân tham gia vào các mô hình đã được xác định trước này. Phương pháp lựa
chọn từ trên xuống này tập trung chủ yếu vào những loại cây trồng quen thuộc của địa
phương như ngô, lúa. Việc xác định lợi thế so sánh của một địa phương để xem xét cây
rau hay cây ăn quả nào tốt hơn đối với nông dân do vị trí địa lý của địa phương hay do
lợi thế so sánh ít được đề cập đến. Cách xác định mô hình trước theo kiểu từ trên
xuống này cũng làm mất đi chức năng của khuyến nông sở trong việc giúp đõe cộng
đồng điều chỉnh, xác đinh hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện mới được cải thiện
về thủy lợi, giao thông, truyền thông…[3]
15
• Thiết kế mô hình trình diễn
- Thực trạng
Trong quá trình thiết kế mô hình trình diễn, các dự án trhường quan tâm đến các
yếu tố như phạm vi, địa điểm, mức độ hỗ trợ, kế hoạc thực hiện,….Các mô hình trình
diễn thường được trình diễn thường được phân bố trên phạm vi rộng lớn với mức độ tài

rất quan trọng quyết định sự thành công của mô hình.
Kết quả điều tra hộ gia đình (phụ lục 2) cho thấy các dự án thường tập trung lựa
chọn những hộ khá giả có nhiều đất và có thu nhập đáng kể từ hoạt động phi nông
nghiệp. Số liệu trong bảng cũng cho thấy rằng các hộ gia đình có thành viên tham gia
vào các hoạt động phi nông nghiệp hoặc là cán bộ chính quyền xã thường có tỷ lệ tham
gia cao hơn, điều nay có thể là do họ có nhận thức tốt hơn và tiếp cân tốt hơn với cán
bộ xã và cán bộ khuyến nông. Họ cũng có đầu tư cho mô hình tốt hơn theo hướng của
họ. Những hộ nghèo ít tiếp cận với cán bộ xã, cán bộ khuyến nông và dẫn đến họ ít
tham gia vào mô hình. Một vấn đề cần chú ý khác là các cán bộ dự án và cán bộ
khuyến nông không nổ lực cố gắng để làm cho mọi người đều nhận thức rỏ về lợi ích
của dự án, vì vậy chỉ những người có thông tin về dự án và lợi ích mang lại mới tham
gia. Các vấn đề về việc họ có là những đối tượng mục tiêu hay không, xứng đáng hay
không dường như chưa được quan tâm đầy đủ.
Vấn đề đặt ra
+ Những tiêu chí lựa chọn các hộ gia đình có kinh nghiệm, kiến thức về khoa học
kỹ thuật mới rất khó áp dụng trong thực tế. Kết quả điều tra cho thấy các hộ nông dân
tham gia và không tham gia mô hình ở hầu hết các địa phương đều có độ tuổi và kinh
nghiệm giống nhau. Tiêu chí lựa chọn chính trong thực tế được chỉ ra trong phụ lục 2
dường như là dựa trên mức thu nhập của hộ gia đình.
+ Kỹ năng truyền tải thông tin nên là một trong những yêu cầu chính đối với việc
lựa chọn nông dân tham gia vào mô hình áp dụng kỹ thuật mới để họ có khả năng
truyền đạt những kỹ thuật, thông tin mới một cách có hiệu quả cho những người nông
dân khác. Tuy nhiên điều này kkông được quan tâm trong quá trình lựa chọn. [3]

17
• Yếu tố cơ sở hạ tầng trong quá trình thiết kế
- Thực trạng
Hai loại cơ sở hạ tầng thường được xem xét trong việc lựa chọn mô hình và địa
điểm thực hiện là hệ thống thủy lợi và giao thông. Tất cả các dự án được điều tra đều
có hợp phần nâng cấp hệ thống thủy lợi và giao thông. Ngoài lợi ích về kinh tế xã hội

Qua bình bầu trong cuộc họp 44.00 33.33 39.13
Tự đăng ký 12.00 4.76 8.70
Tổng số 100.00 100.00 100.00
( Nguồn: [3])
Vấn đề đặt ra
Mỗi cách lựa chọn mô hình (bình xét và chỉ định) đều dẫn đến việc lựa chọn các hộ
gia đình khá giả và các gia đình có mối liên hệ tốt mà các hộ này có thể sẽ không cần
thiết phải có nhiều quan tâm chú ý như vậy, hoặc các hộ đó không cần phải tham gia
vào các mô hình.việc cung cấp miễn phí các yếu tố đầu vào dường như là điều hấp dẫn
nhất vì vậy các gia đình khá giả hoặc các hộ có mối liên hệ tốt sẽ có được cơ hội tốt
hơn trong việc bình xét hoặc chỉ định. [3]
• Tập huấn.
Thực trạng
Thường có hai khóa tập huấn trước và sau khi thực hiện mô hình. Những người
tham gia không phải đóng một khoản chi phí nào và hơn nưa họ được trả một khoản
bồi dưỡng nhỏ nhất định cho việc tham gia tập huấn Những khóa tập huấn này được
nông dân đánh giá cao. Trong nhiều trường hợp những người tham gia không chỉ là
những người sẽ được mời tham gia vào mô hình mà còn có cả những người khác có
quan tâm đến kỹ thuật sản xuất mới. Các cuộc tập huấn nhận được sự quan tâm và hổ
trợ đáng kể của chính quyền xã. Ở Hà Tĩnh, ngoài những cuộc tập huấn đã có trong kế
hoạch của dự án nhiều xã còn đóng góp thêm kinh phí để tăng số lượng người tham
gia. Trong một vài trường hợp, họ thậm chí còn tự đứng ra để tổ chức khóa học.
19
Năng lực của nông dân về kỹ năng sản xuất và hiểu biết về khoa học kỹ thuật được
nâng cao một cách đáng kể. Có lẽ, đây là kết quả có ý nghĩa nhất của mô hình trình
diễn với các khóa tập huấn đi kèm. Nông dân không chỉ là những người hưởng lợi duy
nhất ở các khóa tập huấn này. Một số cán bộ khuyến nông của các xã cũng được hưởng
lợi từ khóa đào tạo bởi vì họ có cơ hội để chia sẽ kinh nghiệm và kỹ năng sản xuất với
những người đồng nghiệp có trình độ khác khi họ đến tổ chức khóa học.
Vấn đề đặt ra

trình diễn dưới dạng cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu, bằng tiền hoặc hiện vật.
Trong một số trường hợp mô hình trình diễn của các hộ nghèo ví dụ như nuôi lợn
móng cái, ban đầu các yếu tố đầu vào được hỗ trợ toàn bộ kinh phí và nông dân chỉ
phải trả một phần kinh phí đầu tư ban đầu bằng tiền hoặc lợn con sau khi đã thu được
lứa lợn đầu tiên. Thông thường các mô hình trồng trọt được hổ trợ 60-70% tổng chi phí
đầu vào. 100% các cán bộ dự án cho biết hỗ trợ đầu vào là cần thiết để kích thích sự
tham gia của nông dân trong mô hình trình diễn, đặc biệt là khi họ được yêu cầu tham
gia vào các mô hình trình diễn những loại giống mới, kỹ thuật sản xuất mới mà chưa
được thử nghiệm trong vùng.
+ Thực tế cho thấy hầu hết nông dân không thực sự quan tâm đến mục tiêu của mô
hình và cũng không cảm thấy tự hào khi được chọn làm những người đi tiên phong
trong việc áp dụng kỹ thuật công nghệ sản xuất mới trong địa phương của họ bởi vì họ
quá chú ý tới khía cạnh tài chính do có sự hổ trợ đầu vào. Một kết quả không thể tránh
khỏi của cơ chế hổ trợ này là người nông dân rất có thể từ bỏ sự tham gia của họ nếu
như không được hổ trợ, không có sự kích thích bằng tài chính, thậm chí tồi tệ hơn họ
không quan tâm đến việc quảng cáo, giới thiệu mô hình thành công cho các hộ nông
dân khác.
+ Trong trường hợp tồi tệ nhất, cơ chế hổ trợ này có thể kích thích gieo rắc tư tưởng
ỷ lại. [3]
21
Bảng 3: Những người không tham gia mong muốn gì từ mô hình?
Đơn vị tính: % số người được phỏng vấn
Chỉ tiêu Miền núi Ven biển Chung
Tín dụng ưu đãi 16,37 45,77 36,42
Hỗ trợ đầu vào 10,91 7,63 8,67
Giống, kỹ thuật 50,91 30,51 37,00
Bảo hiểm đầu ra 3,64 6,78 5,78
khác 18,17 9,31 12,13
(Nguồn: [3])
Qua bảng số liệu thể hiện ý kiến của những người nông dân không tham gia mô

đề này xẩy ra ở nhiều nơi và sự tham gia của nông dân những nơi đó trong các mô hình
trình diễn ở các chương trình khuyến nông của chính phủ giảm dần bởi vì các chương
trình này yêu cầu nông dân đóng góp nhiều hơn so với các dự án được tài trợ khác. [3]
• Tiêu thụ sản phẩm
Thực trạng
Bảng 4. Tiêu thụ sản phẩm
( % Số người trả lời)
Chỉ tiêu Miền núi Ven biển Chung
Không có ý kiến 7.14 13.33 10.34
Tiêu thụ tại địa phương 42.86 80.00 62.07
Tự tiêu dùng 50.00 6.67 27.59
Tổng 100.00 100.00 100.00
(Nguồn: [3]).
Nhìn chung các mô hình ít khi gặp phải những vấn đề khó khăn trong việc tiêu thụ
sản phẩm trong khi triển khai. Lý do chủ yếu là do hầu hết các mô hình đều tập trung
cào các cây trồng hàng năm và các sản phẩm thông thường mhư: lúa, ngô,… mà có thể
được bán ngay tại địa phương hoặc được tiêu thụ ngay trong gia đình. Hơn nữa, khối
lượng sản phẩm được sản xuất ra từ các mô hình còn quá nhỏ để có thể gây ra những
khó khăn trong vấn đề tiêu thụ
23
Trong một số mô hình đặc biệt trồng cây lâu năm như cam, cây lâm nghiệp thì
trồng vẩn chưa đến thời kỳ kinh doanh. Một số cây như chè, măng, thì trồng có cơ chế
đảm bảo thu mua của các doanh nghiệp tại địa phương. 62% ý kiến cho rằng sản phẩm
dễ dàng bán ngay tại địa phương, 27% cho biết họ tiêu dùng sản phẩm trong gia đình
(Bảng 4).
Vấn đề đặt ra
+ Không có sự đảm bảo cho cho việc tiêu thụ sản phẩm của mô hình. Khoảng 85%
cho biết họ không không nhận được bất kỳ một sự đảm bảo nào cho tiêu thụ sản phẩm
sản xuất ra từ mô hình trình diễn. 100% các dự án đều cho biết họ không có bất kỳ
chiến lược gì để giúp đỡ nông dân tiêu thụ sản phẩm. Vấn đề này có liên hệ chặt chẻ

láng giềng của họ là một điều quan trọng. [3]
• Đánh giá kết quả mô hình
Thực trạng
Cán bộ dự án và cán bộ khuyến nông đều nhất trí rằng những tiêu chí sau đây được
dùng để đánh giá sự thành công của mô hình Là khá hữu ích (1) có tiềm năng, năng
suất cao hơn so với đối chứng; (2) nông dân tham gia mô hình sẵn lòng áp dụng, nhân
rộng mô hình một cách thường xuyên và liên tục; (3) thu hút được các nông dân klhác
đến tham quan và làm theo mô hình.
Về mặt thực tế việc đánh giá sự thành công của mô hình được thực hiện bởi khuyến
nông. Hoạt động này được tiến hành thông qua một cuộc họp tổng kết được tổ chức bởi
chính quyền xã/hoặc cơ quan khuyến nông. Cũng trong cuộc họp này, trưởng thôn/bản
trong xã là người có trách nhiệm quan sát và thông báo sự thành công của mô hình đến
những người dân trong thôn, bản thường được mời tham dự.
Vấn đề đặt ra
+ Chỉ tiêu “ số người đến tham quan mô hình” mà được sử dung rộng rãi trong các
báo cáo nên được xem xét một cách thân trọng. Rất nhiều những chuyến viếng thăm đó
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status