Đánh giá hiệu quả các mô hình khuyến lâm tại Quảng Ninh giai đoạn 2005 đến 2010 - Pdf 24



1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Nguyễn Văn Tuấn ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
KHUYẾN LÂM TẠI QUẢNG NINH GIAI
ĐOẠN 2005-2010 Chuyên ngành : Lâm học Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp
lâm…(Chủ yếu hỗ trợ nguồn cây giống) Quảng ninh đã trồng mới được
69.827 ha rừng góp phần nâng độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh từ 11,9%
năm 1992 lên 47,8% năm 2008 và 50,2 % năm 2010 (Báo cáo diễn biến tài
nguyên rừng năm 2010).
Để có được kết quả đó bên cạnh sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự
tham gia tích cực của người dân và các doanh nghiệp thì công tác khuyến lâm
có vai trò hết sức quan trọng nó đóng vai trò là cầu nối giữa 4 nhà; nhà nông,
nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp. Đồng thời thông qua các mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 hình khuyến lâm người dân có điều kiện giao lưu học hỏi những cách làm
hay, những mô hình sản xuất tiêu biểu, nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ
thuật mới, giống mới áp dụng vào thực tế sản xuất.
Mục tiêu của các mô hình khuyến lâm là “Tạo điều kiện cho nông dân
trong tỉnh học tập và làm theo những mô hình sản xuất tiêu biểu, tiếp cận
được những kiến thức khoa học mới, các giống cây trồng sinh trưởng phát
triển nhanh, kháng bệnh để quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng để bảo
vệ nguồn nước và đất cũng như cải thiện được nguồn thu nhập cho hộ gia
đình”. Trong 5 năm qua các chương trình khuyến lâm đã có những hoạt động
khá phong phú, phù hợp với mục tiêu đề ra và bước đầu đã giúp cho bà con
nông dân trong tỉnh nâng cao được hiểu biết về môi trường, kỹ thuật canh tác,
ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và nâng cao được thu nhập thông qua
việc trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển rừng.
Hoạt động của các mô hình khuyến lâm đã tập trung giải quyết những
vấn đề cơ bản và mấu chốt nhất của ngành Lâm nghiệp hiện nay, của vùng
nông thôn miền núi phía Bắc nước ta nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng,

sách phù hợp cho chương trình xây dựng mô hình khuyến lâm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học
- Khuyến lâm là công tác chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học
công nghệ ra thực tế, do vậy công tác khuyến lâm thường gắn liền với công
tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, khoa học kỹ thuật lâm nghiệp cùng với

phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất, đều đề cập đến phát triển
khuyến lâm. Ngày 26 tháng 4 năm 2005 thủ tướng chính phủ ban hành nghị định
số 56/2005/NĐ - CP nghị định của chính phủ về khuyến nông, khuyến ngư.
Ngày 10/10/2005 ban hành thông tư số 60/ TT- BNN về việc hướng
dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 56/2005/ NĐ-CP.
Ngày 6/4/2006 ban hành thông tư liên tịch số 30/2006/ TTLT - BTC -
BNN &PTNT - BTS, ngày 21/5/2007 ban hành thông tư 50/TTLT về việc
hướng dẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động khuyến nông,
khuyên ngư.
1.3. Lịch sử nghiên cứu khuyến nông
1.3.1. Trên thế giới
*
Mỹ
Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nước Mỹ được hình thành từ năm
1843 theo tác giả Alfred Charles True (1928) [22] viết trong cuốn Lịch sử
khuyến nông nước Mỹ Khởi đầu tại NewYork nhà nước cấp kinh phí cho
Hội đồng bang thuê những nhà khoa học nông nghiệp có kỹ năng thực hành
tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về
khoa học và thực hành nông lâm nghiệp cho nông dân.
- Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến
công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học. Năm 1891 bang
NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học.
Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại

học Chicago, Đại học
Wicosin …cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo. Bộ thương mại
cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho
các hoạt động khuyến nông. Đến năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường / 39 bang
có đào tạo khuyến nông. Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

rừng, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô
rừng cụ thể. Đặc biệt, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của người dân. Đến
năm 1992, mười bảy tiểu bang của Ấn Độ tham gia vào quản lý rừng. Năm
2006, Luật chủ rừng được ban hành [26].
*
Thái Lan
Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng
nghề nông nghiệp. Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 nam. Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu. Hệ
thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967. Về mặt thành tựu
của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:
- Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120-150-và
thậm chí 200 triệu USD. Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí
khuyến nông hàng năm của nước ta.
- Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu
lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm).
- Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản
xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản .v.v
Hiện Thái lan có 3 tổ chức chính hoạt động có liên quan đến khuyến
lâm, đó là Cục lâm nghiệp Hoàng gia, Hội nông dân, Hội phát triển cộng
đồng. Hoạt động khuyến lâm được thực hiện và chỉ đạo bởi các Phòng lâm
nghiệp Quốc gia, bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh [6].
*
Trung Quốc

các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng. Theo Thom R Waggener
(2000) để phát triển các mô hình trồng rừng theo hướng sản xuất hàng hoá với
hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu tư tập trung về kinh tế
và kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề có liên quan
đến chính sách và thị trường. Chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ,
Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay
được tập trung vào 2 vấn đề lớn và đóng vai trò quyết định đối với quá trình
sản xuất là thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Theo quan điểm
thị trường các nhà kinh tế Lâm nghiệp cho rằng thị trường sẽ là chìa khoá của
quá trình sản xuất, thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì? cho ai? Khi thị
trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì động cơ lợi
nhuận và thu nhập sẽ thúc đẩy họ tăng cường đầu tư vào sản xuất, thâm canh
tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội.
Liu Jinlong (2004) dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế
trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân
phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:
i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá;
ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản;
iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
v) Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát
triển trồng rừng [24].
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm
chung về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ

ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ…, 106.448 trâu bò
cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân
lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc). Kết quả này đã tạo điều kiện và
khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất.
Từ năm 1956-1958, kế tiếp ngay sau CCRĐ

nông dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng, Chính phủ thực hiện “đổi công, vần công”, nông dân tương
thân tương ái giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp.
Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
(HTX) bậc thấp-1968 HTX bậc cao.
Năm 1974 HTX toàn xã. Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai
đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao. Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp
nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ quan trọng giúp
cho đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của
phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu
nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất

nước.
Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX. Phương
pháp khuyến nông chủ yếu đưa TBKT nào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX
sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng Thái Bình.
Năm 1961 sinh viên các trường Đại

học nông nghiệp tham gia đi
thực tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là một
trong những nội dung đào tạo quan trọng của Nhà trường nhằm thực hiện
phương châm đào tạo “Học kết hợp với hành”; thực hiện thực tiễn hóa tay
nghề của các sinh viên nông nghiệp.
Từ năm 1963-1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ đạo sản

ất- nước-
giống- phân bón và bảo vệ thực vật còn toàn bộ các khâu khác khoán cho
nhóm và người lao động. “Khoán 100” đã có tác dụng to lớn khích lệ nông
dân sản xuất. Ngoài sản lượng nông sản phải nộp HTX còn lại người nông
dân được tự do sử dụng.
- Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh
nghiệm: “Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển
nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất
kinh doanh có hiệu quả.
Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa
có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống,
phân bón nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX.
Mảnh đất họ trồng trọt vụ này vụ sau có thể thay đổi nên không ai
nghĩ đến thâm canh bảo vệ và duy trì độ phì của đất để vụ sau năng suất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 cao hơn vụ trước …Thứ nữa nông dân còn phải đóng góp nhiều khoản như
nộp sản của 5 khâu HTX quản lý và đóng góp quỹ phúc lợi …Những hộ
nông dân có vốn, có lao động, có trình độ dân trí cao sản xuất có hiệu quả.
Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi
nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc
sống; do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ
sản nhiều vụ, nhiều năm.
Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra
NQ 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán
10”. NQ 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 KL, thành lập Trung tâm khuyến nông Quốc gia. Tiếp sau năm 2005 thực
hiện

số 56/2005/NĐ-CP và TT số 60/2005/TT-BNN cụ thể hoá công
tác khuyến nông, khuyến ngư trong giai đoạn hiện nay.
-Từ 1989 đến nay dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự
tăng cường hoạt động của Khuyến nông đã thúc đẩy nền nông nghiệp của
đất nước ngày càng phát triển. Bình quân hàng năm tăng 1 triệu tấn lương
thực và vươn lên từ nước thiếu lương thực đến đủ và thừa lương thực.
Nếu như những năm trước 1980 chúng ta còn thiếu lương thực thì từ
năm 1989 chẳng những chúng ta tự tức đủ lương thực mà còn dư thừa bắt
đầu xuất khẩu lương thực từ hơn 1 triệu đến gần 2 triệu tấn lương
thực/năm. Nhiều năm gần đây chúng ta đã là nước đứng vị trí thứ 2 xuất
khẩu lương thực vào thị trường TG: Hàng năm xuất khẩu vào thị trường
lương thực thế giới trên dưới 4 triệu tấn/năm, năm 2005 xuất khẩu 5,2 triệu
tấn gạo đạt kim ngạch xuất khẩu 1,4 tỷ USD.
Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ Nông nghiệp và
PTNT với Bộ Thuỷ sản thành Bộ Nông nghiệp và PTNT và theo Nghị định
số 01/2008/NĐ-CP, ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã cho phép thành lập Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc
gia trên cơ sở hợp nhất giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm
Khuyến ngư Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB ngày
28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT. Chức năng, nhiệm vụ

Khuyến nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND
huyện với tổng số 4.600 người.
Ở cấp xã: Đa số các xã có cán bộ khuyến nông xã với tổng số 10.543 người.
Ở cấp thôn, bản: Hiện cả nước có 15.749 khuyến nông viên thôn, bản.
Một số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như
Hà Giang, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu.
* Chức năng nhiệm vụ của khuyến Nông lâm
- Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến
nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiền tiến cho nông dân.
- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để
sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 thị trường giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu
quả cao.
*
Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, NĐ

số 56/2005/NĐ-
CP ngày 24/6/2005 và TT số 60/2005/TT/BNN đã qui định mục tiêu khuyến
nông-khuyến ngư:
- Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến
thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất
- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo

(Nguồn Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2011)
Từ nguồn ngân sách địa phương, đã huy động được 4.361 hộ tham gia
xây dựng mô hình, trồng được 4.977 ha rừng trình diễn, tập huấn 5.395 hộ
nông dân. Công tác khuyến lâm được nhiều tổ chức Quốc tế và phi Chính phủ
quan tâm trong các dự án phát triển lâm nghiệp. Nhiều cách tiếp cận và
phương pháp khuyến lâm mới đã được áp dụng và bước đầu được thể chế hoá
ở một số địa phương.
Nguyễn Xuân Quát (1985-1990) [13] đã đánh giá ảnh hưởng của cây
phù trợ Đậu tràm tới cây trồng rừng chính là Tếch và Muồng đen ở Tây
Nguyên và cho nhận xét "bước đầu cho thấy chưa rõ hiệu quả sinh trưởng
của Tếch tốt hoặc xấu hơn nhưng đã tạo được cấu trúc rừng kết hợp giữa cây
rụng lá mùa khô, cây phù trợ là Đậu tràm và cây bạn Muồng đen thường
xanh". Phạm Đình Tam (1995 –1999) đã tiến hành thí nghiệm và đánh giá
rừng trồng hỗn loài giữa Trám trắng, Lim xẹt và Keo lai đã kết luận chưa
thấy ảnh hưởng rõ rệt sinh trưởng của Trám trắng ở các phuơng thức trồng
hỗn giao khác nhau. Sau 4 năm mô hình hỗn loài Trám + Keo + Lim xẹt đã
thấy Keo lai bắt đầu che bóng Lim xẹt [15]. Tuy nhiên các thí nghiệm này
không được theo dõi và điều chỉnh tàn che thích hợp cho cây trồng chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 sinh trưởng. Đây cũng là tồn tại chung của các công trình nghiên cứu về
trồng rừng hỗn loài có sử dụng cây phù trợ ban đầu ở nước ta trong những
năm qua.
Để tổng kết và đánh giá các mô hình sử dụng đất vùng xung yếu ven
hồ sông Đà, Đặng Thịnh Triều (2005) [19] đã áp dụng cách tiếp cận có sự
tham gia theo 3 bước:

(IRR = 43,78%). Các mô hình khác có IRR = 9,58% - 22,24%.
Năm 1996, Đoàn Hoài Nam [9] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh
thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương – Hàm Yên – Tuyên
Quang, trong đó tác giả đã đặc biệt chú ý đến hiệu quả tổng hợp của một số
mô hình rừng trồng chủ yếu. Tiếp đó năm 1997, Đoàn Thị Mai (1997) [7] đã
đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường về mục tiêu phát triển bền vững cho
một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp vùng nguyên
liệu giấy. Đây có thể nói là những công trình bước đầu đánh giá về hiệu quả
kinh tế – sinh thái, kinh tế – môi trường ở nước ta làm cơ sở cho những công
trình tiếp theo.
Năm 1998, Cao Danh Thịnh [18] đã tiến hành đề tài “Thử nghiệm ứng
dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế
và môi trường của một số dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn
sông Đà” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp kinh tế – môi trường, trong đó tác
giả đã sử dụng phương pháp định lượng có trọng số các chỉ tiêu bằng tương
quan để đánh giá và cho biết phương pháp này đạt độ chính xác cao. Phạm
Xuân Nam (2004) [10] cũng đã áp dụng phương pháp này và cho kết quả
tương tự.
Nguyễn Hữu Thiện (2004) [17] đã đánh giá hiệu quả xã hội các mô
hình lâm nghiệp xã hội xây dựng ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh
Hoà Bình và cho biết thông qua việc xây dựng các mô hình đã giúp cho
người dân địa phương hiểu biết hơn về các kỹ thuật gây trồng các loài cây,
đặc biệt là có cơ hội tiếp cận được với các tiến bộ kỹ thuật như giống mới có
năng suất và chất lượng cao, kỹ thuật trồng thâm canh, hiểu biết thêm các
chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước ta về đổi mới cơ chế quản lý
lâm nghiệp, đặc biệt là giao đất giao rừng tới tập thể và cá nhân. Tác giả
cũng cho biết để tiến đến xã hội hoá nghề rừng thì bên cạnh việc hỗ trợ vốn,
kỹ thuật gây trồng, công tác tuyên truyền, tập huấn và đào tạo giữ một vai trò
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


miền Trung và Tây Nguyên đến một số yếu tố môi trường nhằm đề xuất cơ
sở để xây dựng tiêu chuẩn môi trường lâm nghiệp. Đây là công trình nghiên
cứu khá tổng hợp về đánh giá môi trường lâm nghiệp, nghiên cứu đã kết hợp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 bố trí những ô tiêu chuẩn định vị quy mô nhỏ với việc nghiên cứu quy mô
lớn trên lưu vực sông và sử dụng các phần mềm chuyên dụng để xử lý số
liệu, đánh giá kết quả. Công trình đã đưa ra được các tiểu chuẩn đánh giá
môi trường cho một số dạng rừng trồng và rừng tự nhiên.
Trong báo cáo tổng kết đề án “nghiên cứu đề xuất một số giải pháp
kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở lòng hồ huyện Mộc
Châu tỉnh Sơn La. Đỗ Đức Bảo cùng các cộng sự đã sử dụng phương pháp
ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và
phương án canh tác lâm nghiệp. Các loại hình canh tác được đánh giá ở đây
là vườn tạp, nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên,… Trong phương pháp ma trận
môi trường, việc phân tích số liệu được thể hiện thông qua các hàng và cột.
Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc
các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường, phương án
được đánh giá qua tổng điểm. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này chỉ
mang tính tương đối vì phương pháp cho điểm phụ thuộc vào nhiều yế tố chủ
quan, kinh nghiệm và trình độ người cho điểm nên khả năng chính xác
không cao.
- Năm 2010 Lê Sỹ Trung và các cộng sự đã thực hiện công trình "
Đánh giá hiệu quả chuyển giao khoa học và kỹ thuật của các mô hình khuyến
lâm". Kết quả:[20]
+ Các mô hình khuyến lâm tại khu vực nghiên cứu gồm: Trồng cây gỗ

đánh giá đã được được chuẩn hoá nên độ chính xác của kết quả cao.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về đánh giá các mô hình lâm
sinh, trồng rừng hoặc đánh giá tác động môi trường, dự án,… được đặc biệt
quan tâm chú ý trong những năm gần đây khi quan điểm phát triển bền vững
được đưa vào các đề tài, dự án nghiên cứu như một điều bắt buộc. Nội dung
đánh giá các mô hình liên quan đến đề tài hoặc là được đánh giá lồng ghép
trong các chương trình, đề tài/dự án hoặc được tiến hành một cách riêng rẽ. 3
vấn đề trong đánh giá được các tác giả nghiên cứu quan tâm là: i) Hiệu quả về
kinh tế, ii) hiệu quả về môi trường và iii) hiệu quả về xã hội. Phương pháp
đánh giá cũng dần được hoàn thiện và tiếp cận được với khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, việc đánh giá các mô hình ở nước ta thường mới chỉ dừng lại ở
bước đầu vì khi tiến hành đánh giá cây trồng trong các mô hình thường còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23 nhỏ, chưa mang lại đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường; khi các dự
án/đề tài kết thúc công việc chăm sóc theo dõi và đánh giá các mô hình sau
này gần như không được quan tâm. Đây là một trong những tồn tại lớn nhất
hiện nay ở nước ta cần được khắc phục trong thời gian tới.
Những kết quả nghiên cứu, đánh giá mô hình, các phương pháp áp
dụng trên thế giới và trong nước có liên quan là những tài liệu thảm khảo có
giá trị của đề tài trong việc đánh giá các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng
Ninh giai đoạn 2005-2010.

CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG, GIỚI HẠN,
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Về khoa học
Đánh giá được các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn
2005-2010 về các mặt khối lượng công việc thực hiện, kỹ thuật áp dụng, tình
hình sinh trưởng của cây trồng và hiệu quả kinh tế, xã hội.
2.1.2. Về thực tiễn
- Lựa chọn và đề xuất được các loài cây, kỹ thuật và các mô hình
khuyến lâm có triển vọng cho việc phát triển mở rộng ở tỉnh Quảng Ninh.
2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình khuyến lâm ở tỉnh
Quảng Ninh thực hiện trong giai đoạn 2005-2010.
2.3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
- Về địa điểm: Đề tài giới hạn trong phạm vi 03 huyện mỗi huyện 02
xã đại diện cho vùng sinh thái khác nhau là:
+ Huyện Hoành Bồ: xã Sơn Dương, xã Đồng Lâm.
+ Huyện Vân Đồn: xã Vạn Yên, xã Bản Sen.
+ Huyện Ba Chẽ: xã Thanh Sơn, xã Nam Sơn.
- Về nội dung:
+ Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình, phương pháp tổ chức thực
hiện, khó khăn trong quá trình xây dựng.
+ Đánh giá hiệu quả của các mô hình: Đề tài chỉ đánh giá hiệu quả về
kinh tế, mặt xã hội.
2.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các nội

số tổ chức chính quyền địa phương, vì vậy phương pháp đánh giá được áp
dụng là có sự tham gia.
+ Cán bộ khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở.
+ Cán bộ quản lý địa phương các cấp, tỉnh, huyện, xã, thôn.
+ Các hộ dân tham gia thực hiện mô hình.
- Vì đối tượng đánh giá khá đa dạng từ loài cây, biện pháp gây trồng, sinh
trưởng cho tới các yếu tố xã hội, nên phương pháp chuyên gia sẽ được áp dụng.
2.5.2. Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện xây dựng mô hình Địa chất thổ nhƣỡng Hiện trạng đất lâm nghiệp Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý Hiện trạng tổ chức quản lý lâm nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status