Luận văn
Đánh giá hiệu quả của mô
hình thực hiện xã hội hoá
công tác thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải rắn
tại quận Tây Hồ
73
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 8
2.Mục tiêu nghiên cứu 9
3. Phạm vi nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 10
5. Cấu trúc của đề tài: 11
CHƯƠNG 1: XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN
VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN 11
1.1 Khái niệm Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nói chung, công tác
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn nói riêng. 11
1.2 Mô hình Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn.
14
1.2.1 Một số mô hình xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường tại Việt
Nam. 14
1.2.2 Một số mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý
chất thải rắn cụ thể đã triển khai tại Việt Nam 17
1.2.3 Các yếu tố đảm bảo tính bền vững của sự tham gia cộng đồng dân
cư (mô hình xã hội hoá) về vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
rắn: 26
1.3. Đánh giá hiệu quả mô hình Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển
và xử lý rác thải. 27
2.6.1 Xã hội hoá trong khâu thu gom rác thải tại quận Tây Hồ: 45
2.6.2 Xã hội hoá khâu vận chuyển tại quận Tây Hồ: 50
2.6.3 Xã hội hoá trong khâu xử lý rác thải: 50
73
2.7 Tiểu kết chương 2: 51
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH XÃ HỘI HOÁ
CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN, ĐỀ
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 52
3.1 Giới thiệu về công ty cổ phần môi trường đô thị Tây Đô: 52
3.1.1 Khái quát về công ty 52
3.1.2 Các hoạt động kinh doanh 53
3.2 Mô hình thực hiện xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất
thải rắn trên địa bàn quận Tây Hồ. 54
3.3 Đánh giá hiệu quả của mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận Tây Hồ 58
3.2.1 Hiệu quả về kinh tế 58
3.2.2 . Hiệu quả về xã hội: 68
3.2.3. Hiệu quả về môi trường: 69
3.4 Giải pháp và đề xuất: 71
3.4.1.Giải pháp 71
3.4.2. Đề xuất một số kiến nghị.: 76
3.5 Tiểu kết chương 3: 78
PHẦN KẾT LUẬN 72
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ TẠI CƠ SỞ THỰC TẬP …………………73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
73
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình tham gia cộng đồng vào quản lý rác trên bàn có đơn vị
môi trường hoạt động tại đô thị Tam Kỳ. 22
Sơ đồ 2.1: Chu trình thu gom rác thải của công ty 47
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ khâu thu gom, vận chuyển rác của công ty CPMTĐT Tây
Đô 48 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị qua các năm 38
Biểu đồ 2.2 : Thành phần rác thải trên địa bàn quận Tây Hồ. 41
Biểu đồ 2.3: Khối lượng rác thải phát sinh trên địa bàn quận Tây Hồ giai đoạn
2004-2008 43
Biểu đồ 3.1 : Tỷ lệ % khi lượng rác thu được từ các mô hình năm 2008 trên
địa bàn quận Tây Hồ năm 2008 57 73
DANH MỤC BẢNG BIỂU
công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận Tây
Hồ năm 2008………………………………………………………….……68 LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua, ô nhiễm môi trường đã và đang trở nên bức
xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, cảnh quan và sức khỏe cộng
đồng. Nó xảy ra trên diện rộng, khắp các khu vực công cộng hay các khu dân
cư, khu vực sản xuất. Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, hoạt động bảo
vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những
thành tựu khá to lớn trong những năm qua. Những kết quả chủ yếu nhận thức
chung của toàn xã hội về bảo vệ môi trường đã được nâng lên một bước từng
người dân, từng thành phần kinh tế đã có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường;
việc ngăn chặn sự gia tăng ô nhiễm môi trường đạt kết quả khích lệ, cải thiện
môi trường có những tiến bộ nhất định các giúp môi trường trong lành hơn
giảm bớt sự ô nhiễm trước đó; bên cạnh đó cũng đã hình thành tương đối đầy
đủ hệ thống văn bản pháp luật cũng như hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về
môi trường từ Trung ương đến địa phương và nâng cao vị thế của Việt Nam
trong công tác bảo vệ môi trường ở khu vực và thế giới. Để đạt được những
thành tựu này Đảng và toàn dân ta đã phải bỏ ra rất nhiều kinh phí vật chất,
của cải và sức lực. Đứng trước các thách thức to lớn và yêu cầu bức xúc đối
73
với công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa
phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước; công tác bảo vệ môi trường
trong thời gian tới cần thiết phải có những chuyển biến to lớn cả về lượng và
chất. Để tiến tới thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng
- Về thời gian nghiên cứu: năm 2008.
- Về mặt học thuật: Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội- môi trường của mô
hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt.
4. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thu thập thông tin: tác giả đã sử dụng phương pháp thu
thập thông tin này trong suốt quá trình thu thập tài liệu từ khi bắt đầu xây
dựng đề tài, lập đề cương hay đến khi hoàn thành chuyên đề. Có thể nói đây
là một phương pháp được sử dụng nhiều nhất và rất có hữu dụng. Nguồn
thông tin được thu thập rất phong phú từ nguồn khác nhau như trên mạng
Internet, báo, sách vở…hay từ cơ quan thực tập. Thông tin ở đây là những tài
liệu hay số liệu cần thiết phục vụ cho việc viết chuyên đề này.
-Phương pháp thực địa: Trong quá trình hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
này, một phương pháp không thể không nhắc đến là phương pháp thực địa.
Tác giả đã cùng giám sát viên của công ty cổ phần môi trường đô thị Tây Đô
giám sát công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn quận Tây
Hồ. Đây cũng là một phương pháp cần thiết và hữu ích.
-Phương pháp dự báo: Từ tài liệu thực tế về xu hướng phát sinh chất thải
rắn trong những năm trước mà tac giả đã dự báo về việc phát sinh chất thải
trong những năm tới.
-Phương pháp nội suy: phương pháp này sở dụng để xử lý một vài chi phí
của công ty vì công ty cổ phần môi trường Tây Đô thực hiện công tác thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bạn quận Tây Hồ và hai
73
phường của quận Cầu Gíấy, chính vì thế mà cần tính riêng cho quận Tây Hồ
đã phải xử dụng phương pháp này.
5. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo phần nội
dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
của các tổ chức này trong công tác bảo vệ môi trường. Một trong những
chương trình bảo vệ môi trường ưu tiên thực hiện trong giai đoạn từ nay đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020 là chương trình xã hội hoá hoạt động
bảo vệ môi trường với thời gian hoàn thành vào năm 2010, cơ quan thực hiện
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh liên quan.
Xã hội hoá bảo vệ môi trường là sự kết hợp hài hoà vai trò của cộng đồng
và sự quản lý của nhà nước vào các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế tham
gia góp sức vào bảo vệ môi trường, chia sẻ gánh nặng với nhà nước trong lĩnh
vực này để nhà nước tập trung và phát triển vào các lĩnh vực khác đòi hỏi đầu
tư lớn và kỹ thuật cao hơn như công nghệ thông tin, y tế, giáo dục, kết cấu hạ
tầng…Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và lợi ích của toàn thể cộng đồng,
của các thành phần kinh tế chứ không phải của riêng ai hay của riêng nhà
nước. Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về mô hình xã
hội hoá công tác bảo vệ môi trường mặc dù mô hình đã được thực hiện khá
thành công, đạt hiệu quả cao ở nhiều quận, huyện. Sau đây là một vài quan
niệm về xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
Theo Tiến sỹ Trần Thanh Lâm: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
là quá trình chyển hoá tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới
trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai
73
thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường để đạt mục tiêu phát triển bền vững.
Theo Giáo sư Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá bảo vệ môi trường là việc
huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của
đất nước. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là phải
biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng
lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới
mọi người dân trong xã hội.
giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng, tổ chức và năng
lực quản lý môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhận thức được tầm quan
trọng của công tác bảo vệ môi trường Đảng và nhà nước ta đã đưa ra nhiều
biện pháp thiết thực nhằm cải thiện các thách thức môi trường nêu trên. Một
trong số đó chính là biện pháp không ngừng đầu tư cho công tác bảo vệ môi
trường nói chung hay cụ thể là trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý
rác thải sinh hoạt khi vấn đề này đã và đang rất bức xúc. Tuy nhiên, chúng ta
cũng biết rằng Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trong quá trình
CNH-HĐH đất nước cần tập trung đầu tư lớn vào các chỉ tiêu kinh tế hơn là
các mục tiêu về môi trường. Cũng chính vì lý do này mà việc huy động toàn
thể cộng đồng tham gia vào việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
là vô cùng cần thiết và nó sẽ giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Có
như thế thì nhà nước mới có thêm ngân sách đầu tư cho phát triển kinh tế.
1.2.1 Một số mô hình xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường tại Việt
Nam.
Một trong những kết quả lớn nhất từ việc kí kết và thực hiện các Nghị
quyết liên tịch chính là việc triển khai thành công một số mô hình bảo vệ môi
73
trường có sự tham gia tích cực của cộng đồng và các đoàn thể nhân dân tại
một số địa phương. Đến nay, một số mô hình đã được các đoàn thể nhân dân
phối hợp với các Bộ, ngành chức năng, chính quyền địa phương xây dựng và
thực hiện đạt hiệu quả cao cả về khía cạnh xã hội và môi trường. Có thể tổng
hợp các mô hình này theo 4 loại hình sau:
1.2.1.1 Mô hình xã hội hoá bảo vệ môi trường trong đời sống sinh hoạt:
Bảo vệ môi trường trong đời sống sinh hoạt là một yêu cầu không thể
thiếu được vì môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta như
về mỹ quan, sức khoẻ cộng đồng. Chính vì vậy mà bảo vệ môi trường là vô
cùng quan trọng. Bảo vệ môi trường trong việc thu gom rác thải sinh hoạt là
một mảng rất quan trọng và đang được nói đến rất nhiều và cần được đưa vào
nông nghiệp được cải thiện, kinh tế tăng lên rõ rệt, tỷ lệ các hộ nghèo giảm đi
đáng kể, tạo việc làm cho nhân dân nông thôn và miền núi, góp phần xóa đói
giảm nghèo, diện tích rừng được phục hồi nhanh chóng, chấm dứt tình trạng
khai thác rừng bừa bãi. Đó chính là các mô hình làng sinh thái, mô hình trồng
cây gây rừng kết hợp với bảo vệ môi trường, mô hình RVAC ở Quảng Trị,
Hải Dương, Bắc Kạn, Lào Cai.
1.2.1.3. Mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường trong công nghiệp:
Hiện nay với một thực trạng thực tế là môi trường trong các ngành công
nghiệp bị ô nhiễm rất nặng nề. Với mục tiêu giải quyết vấn đề môi trường
trong công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, việc áp
dụng sản xuất sạch hơn đã góp phần giảm lượng chất thải, bảo đảm vệ sinh,
cải thiện đáng kể môi trường lao động; kích thích doanh nghiệp đầu tư cải tiến
công nghệ, thay đổi thiết bị, xây dựng các hệ thống xử lý chất thải; giảm đáng
kể mức tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng, tiết kiệm chi phí sản xuất; nâng
73
cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường;
nâng cao nhận thức của cán bộ, công nhân về tiết kiệm nguyên vật liệu, năng
lượng về bảo vệ môi trường; tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện mối
quan hệ giữa công nhân viên và lãnh đạo doanh nghiệp. Đến nay, các mô hình
này đã và đang tiếp tục được nhân rộng ở nhiều nhà máy, doanh nghiệp công
nghiệp như: mô hình áp dụng tiếp cận sản xuất sạch hơn trong công nghiệp;
mô hình áp dụng chương trình cải tiến doanh nghiệp (FIP) tại Việt Nam
1.2.1.4 Các phong trào xã hội hóa bảo vệ môi trường:
Hiện nay, các phong trào xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là rất
cần thiết và phát huy tác dụng. Các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị xã
hội các cấp với thế mạnh lực lượng đông đảo và nhiệt tình như Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ đã tích cực xây dựng
và duy trì các phong trào bảo vệ môi trường đạt hiệu quả cao, góp phần làm
sạch môi trường nông thôn, sử dụng hợp lý phân hữu cơ bón ruộng; tiết
phẩm vi sinh EM, sau đó chuyển giao kỹ thuật xử lý cho xã để tổ chức thực
hiện và nhân rộng. Kết quả đã giảm được khối lượng lớn rác hữu cơ do được
chế biến thành mùn và phân hữu cơ, khử được mùi hôi thối từ rác thải và
nước cống rãnh, môi trường sống được cải thiện và ý thức BVMT của người
dân được nâng lên. Với kỹ thuật đơn giản, người dân có thể tự sản xuất ra chế
phẩm vi sinh để xử lý rác, đem lại lợi ích thiết thực cho các hộ gia đình, vì
vậy nhiều người đã hưởng ứng và tham gia thực hiện mô hình.
1.2.2.3. Xử lý các chất thải sinh hoạt và chăn nuôi góp phần cải thiện
môi trường sống tại xã Quan Lộc, huyện An Định, Thanh Hóa
Đây là một hợp phần của đề tài Xây dựng mô hình phát triển nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Thanh Hóa với phương thức
73
Nhà nước hỗ trợ kinh phí 10%, nhân dân đóng góp 90%. Dự án đã tổ chức tập
huấn nâng cao nhận thức BVMT và sức khỏe cộng đồng; xây dựng quy trình
xử lý phân người và phân vật nuôi; tổ chức phân loại rác thải gia đình thành 2
loại và xử lý rác hữu cơ bằng chế phẩm EM; chế biến phụ phế phẩm nông
nghiệp thành thức ăn gia súc; xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước trong
thôn, xóm. Sau 2 năm thực hiện, môi trường xã được cải thiện đáng kể với
240 hộ gia đình có hố xí tự hoại và hầm biogas, 1.208 gia đình có phương tiện
phân loại rác, 10 trạm xử lý rác hữu cơ bằng chế phẩm EM, 7.700 tấn 20 rơm
được chế biến thành thức ăn gia súc và nấm rơm.
1.2.2.4 Thu gom, vận chuyển rác thải tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà
Nội
Là một đề tài nghiên cứu khoa học theo quyết định của UBND thành phố
Hà Nội, mô hình bao gồm các hoạt động: Phân loại rác tại gia đình, sau đó
nhà thầu tư nhân đảm nhiệm việc thu gom rác thải vận chuyển đến bãi rác của
xã; tổ chức các chiến dịch làm sạch dòng sông, cống rãnh; tổ chức xử lý chất
thải hữu cơ tại hộ gia đình bằng chế phẩm vi sinh EM. Những hoạt động này
đã góp phần cải thiện môi trường sống của nhân dân, nâng cao được nhận
đường phố.
Đảng uỷ phường ra nghị quyết về nhiệm vụ quản lý chất thải trên địa bàn
phường không để tình trạng vứt rác ra đường hay không tập trung để thu gom.
UBND phường đề ra chương trình quản lý chất thải rắn trong phường, trong
đó có thống kê tình hình rác thải, các điểm thu gom, lập tổ vệ sinh môi
trường.
UBND phường lập ban vệ sinh do đồng chí chủ tịch phường trực tiếp chỉ
huy gồm các thành phần: mặt trận, phụ nữ, thanh niên, y tế, công an, phường
73
đội. Giúp việc cho ban có 2 tổ chuyên trách gồm lực lượng công an và dân
phòng phường, mỗi tổ có 4 người.
Cộng đồng dân cư tham gia vào chương trình này được tham khảo ý
kiến về lượng rác thải ra, giờ thu gom rác, mức phí nộp, đóng góp ý kiến để
hoàn thiện cách quản lý rác thải trong phường thông qua các buổi sinh hoạt tổ
dân phố.
Người dân sống trong địa bàn có tổ chức vệ sinh môi trường hoạt động,
được quyền giao rác thải của hộ gia đình mình cho tổ chức vệ sinh môi
trường; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường, giám sát việc giải quyết
rác thải của các đơn vị đóng trên địa bàn; kiến nghị với các cấp chính quyền
về công tác quản lý rác thải, quản lý rác tại các khuôn viên nhà mình.
Song song với các quyền trên người dân địa phương có trách nhiệm
không thải đổ rác ra nơi công cộng; thực hiện phân loại rác, rác chứa trong sọt
và để nởi thuận lợi trong nhà, giao rác cho người thu gom đúng thời gian,
đúng phương thức; đóng tiền hàng tháng; phát hiện và tố giác hành vi thải đổ
rác không đúng nơi quy định.
Hội phụ nữ tham gia công tác quản lý bồ rác và thu tiền hàng tháng (được
hưởng 4% trên tổng doanh thu) trang bị sọt rác đồng bộ. Kết hợp với xí
nghiẹp đô thị Tam Kỳ tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội viên
một cách thường xuyên; phát động và duy trì hàng tuần làm vệ sinh trước,
HĐND Phường
UBND phường
Trạm y Công an phường tổ
tế đội dân
UBMTTQ phường
Hội phụ nữ ĐTNCS
Chi hội Chi đoàn Hội viên Đoàn
viên
Đảng uỷ
phường
Chi b
ộ khu
vực
Đảng viên
Hộ dân
Nguồn: XNMTĐT Tam Kỳ.
1.2.2.7 Mô hình cộng đồng tham gia thu gom chất thải rắn ở Thạch Kim,
Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Thạch Kim là một xã ven biển, nghề sản xuất chính là khai thác cá biển,
chế biến hải sản, đóng và sửa chữa tàu thuyền, máy móc cơ khí và buôn bán
dịch vụ. Bình quân thu nhập đầu người hàng năm đạt 1.600.000 đồng/người.
Tuy nhiên, hiện tại số hộ dân trong diện đối nghèo của xã vẫn chiếm 17,6%
và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm 1,4%.
73
Do đặc thù sản xuất nơi đây mà người dân đang phải đối mặt với một
thực trạng môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm hết sức nặng nề. Tính trung
bình mỗi người dân mỗi ngày thải ra 0,4 kg, mỗi tháng ó tới 120 kg rác, đó là
chưa kể đến một khối lượng lớn chất thải của nghề chế biến hải sản, dầu mỡ
và phế thải trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh. Số chất thảỉ này
không được công ty môi trường địa phương thu gom và vận chuyển tới nơi
chôn lấp.
Để giải quyết vấn đề bức xúc trên sáng kiến lập ra một đội vệ sinh môi
trường đã được Đảng bộ, HĐND, UBND xã chấp nhận và nhân dân nhiệt tình
ủng hộ. Đội vệ sinh môi trường có 9 người hàng ngày làm việc mỗi ca từ 5
giờ sáng đến 8 giờ tối, vừa thu gom, phân loại để xử lý, vận chuyển tới bãi
thải.
Xã đã thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư vào chương trình này
bắt đầu bằng việc nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về nhiệm vụ và
quyền lợi của mình trong công tác vê sinh môi trường. Thông qua hệ thống
lý
Xã
hội
Môi
trường
1
Đội thu gom rác dân lập Cửa
Lò, Nghệ An
×
TB TB T T
2
Xử lý rác tại hộ gia đình Từ
Liêm, Hà Nội × T TB TB T
3
Xử lý chất thải sinh hoạt và
chăn nuôi tại xã Quan Lộc, An
Định, Thanh Hoá × T X T T
4
Thu gom, vận chuyển rác tại xã
Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. × TB T T T
5
Hợp tác xã VSMT thị trấn Phố
Mới, Quế Võ, Bắc Ninh × T T T T
6