MỤC LỤC
Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2008- Công ty CPMTĐT Tây Đô...................53
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2 CNH-HĐH Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
3 CPMTĐT Cổ phần môi trường đô thị
4 ĐTNCS Đoàn thanh niên cộng sản
5 HĐND Hội đồng nhân dân
6 HĐQT Hội đồng quản trị
7 RVAC Rừng- vườn- ao- chuồng
8 UBND Uỷ ban nhân dân
9 VSMT Vệ sinh môi trường
10 XHH Xã hội hoá
11 XNMTĐT Xí nghiệp môi trường đô thị.
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình tham gia cộng đồng vào quản lý rác trên bàn có đơn vị
môi trường hoạt động tại đô thị Tam Kỳ..............................................................
Sơ đồ 2.1: Chu trình thu gom rác thải của công ty...............................................
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ khâu thu gom, vận chuyển rác của công ty CPMTĐT Tây
Đô............................................................................................................................
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị qua các năm..........................
Biểu đồ 2.2 : Thành phần rác thải trên địa bàn quận Tây Hồ..............................
Biểu đồ 2.3: Khối lượng rác thải phát sinh trên địa bàn quận Tây Hồ giai đoạn
2004-2008...............................................................................................................
Biểu đồ 3.1 : Tỷ lệ % khi lượng rác thu được từ các mô hình năm 2008 trên
địa bàn quận Tây Hồ năm 2008.............................................................................
73
73
DANH MỤC BẢNG BIỂU
quận Tây Hồ năm
2008………………………………………………………….……
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua, ô nhiễm môi trường đã và đang trở nên bức
xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, cảnh quan và sức khỏe cộng
đồng. Nó xảy ra trên diện rộng, khắp các khu vực công cộng hay các khu dân
cư, khu vực sản xuất. Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, hoạt động bảo
vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những
thành tựu khá to lớn trong những năm qua. Những kết quả chủ yếu nhận thức
chung của toàn xã hội về bảo vệ môi trường đã được nâng lên một bước từng
người dân, từng thành phần kinh tế đã có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường;
việc ngăn chặn sự gia tăng ô nhiễm môi trường đạt kết quả khích lệ, cải thiện
môi trường có những tiến bộ nhất định các giúp môi trường trong lành hơn
giảm bớt sự ô nhiễm trước đó; bên cạnh đó cũng đã hình thành tương đối đầy
đủ hệ thống văn bản pháp luật cũng như hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về
môi trường từ Trung ương đến địa phương và nâng cao vị thế của Việt Nam
trong công tác bảo vệ môi trường ở khu vực và thế giới. Để đạt được những
thành tựu này Đảng và toàn dân ta đã phải bỏ ra rất nhiều kinh phí vật chất,
73
của cải và sức lực. Đứng trước các thách thức to lớn và yêu cầu bức xúc đối
với công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa
phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước; công tác bảo vệ môi trường
trong thời gian tới cần thiết phải có những chuyển biến to lớn cả về lượng và
chất. Để tiến tới thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng
và cơ bản đó là xã hội hoá bảo vệ môi trường.
Trong công tác bảo vệ môi trường đó phải nhắc tới một mảng rất quan
trọng đó là việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. Chất thải rắn nói
chung hay chất thải sinh hoạt hiện nay đang là một vấn đề rất cấp thiết được
đặt ra. Việc phát sinh chất thải rắn ngày càng nhiều, không công tác thu gom
dựng đề tài, lập đề cương hay đến khi hoàn thành chuyên đề. Có thể nói đây
là một phương pháp được sử dụng nhiều nhất và rất có hữu dụng. Nguồn
thông tin được thu thập rất phong phú từ nguồn khác nhau như trên mạng
Internet, báo, sách vở…hay từ cơ quan thực tập. Thông tin ở đây là những tài
liệu hay số liệu cần thiết phục vụ cho việc viết chuyên đề này.
-Phương pháp thực địa: Trong quá trình hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
này, một phương pháp không thể không nhắc đến là phương pháp thực địa.
Tác giả đã cùng giám sát viên của công ty cổ phần môi trường đô thị Tây Đô
giám sát công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn quận Tây
Hồ. Đây cũng là một phương pháp cần thiết và hữu ích.
-Phương pháp dự báo: Từ tài liệu thực tế về xu hướng phát sinh chất thải
rắn trong những năm trước mà tac giả đã dự báo về việc phát sinh chất thải
trong những năm tới.
-Phương pháp nội suy: phương pháp này sở dụng để xử lý một vài chi phí
của công ty vì công ty cổ phần môi trường Tây Đô thực hiện công tác thu
73
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bạn quận Tây Hồ và hai
phường của quận Cầu Gíấy, chính vì thế mà cần tính riêng cho quận Tây Hồ
đã phải xử dụng phương pháp này.
5. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo phần nội
dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
rắn..
Chương 2: Hiện trạng thực hiện mô hình xã hội hoá công tác thu gom,
vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận Tây Hồ.
Chương 3: Đánh giá hiệu quả của mô hình xã hội hoá công tác thu
gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận Tây Hồ, đề xuất các
giải pháp kiến nghị.
CHƯƠNG 1: XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN
của các thành phần kinh tế chứ không phải của riêng ai hay của riêng nhà
nước. Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về mô hình xã
hội hoá công tác bảo vệ môi trường mặc dù mô hình đã được thực hiện khá
thành công, đạt hiệu quả cao ở nhiều quận, huyện. Sau đây là một vài quan
niệm về xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
Theo Tiến sỹ Trần Thanh Lâm: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
là quá trình chyển hoá tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới
73
trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai
thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường để đạt mục tiêu phát triển bền vững.
Theo Giáo sư Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá bảo vệ môi trường là việc
huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của
đất nước. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là phải
biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng
lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới
mọi người dân trong xã hội.
Theo Sở giao thông công chính Thành phố Hà Nội năm 2000: Xã hội hoá
công tác bảo vệ môi trường là việc vận động và tổ chức toàn xã hội và nhân
dân tham gia một cách rộng rãi vào công tác bảo vệ môi trường nhằm cải
thiện môi trường và từng bước nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần
của người dân.
Qua các quan niệm trên cho chúng ta thấy được mô hình xã hội hoá công
tác vệ sinh môi trường là mô hình cho thấy bảo vệ môi trường là nhiệm vụ,
trách nhiệm, lợi ích của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng
đồng và mọi người dân. Bảo vệ môi trường đem lại lợi ích cho từng người
nhưng đòi hỏi mỗi người phải tham gia vào công tác bảo vệ môi trường. Chỉ
có sự tham gia tích cực của mọi cấp, mọi ngành, mọi người dưới sự lãnh đạo
của các cấp uỷ đảng và sự quản lý của nhà nước thì công tác bảo vệ môi
trường mới có hiệu quả và thành công. Hiệu quả đạt được thể hiện thông qua
Nam.
Một trong những kết quả lớn nhất từ việc kí kết và thực hiện các Nghị
quyết liên tịch chính là việc triển khai thành công một số mô hình bảo vệ môi
73
trường có sự tham gia tích cực của cộng đồng và các đoàn thể nhân dân tại
một số địa phương. Đến nay, một số mô hình đã được các đoàn thể nhân dân
phối hợp với các Bộ, ngành chức năng, chính quyền địa phương xây dựng và
thực hiện đạt hiệu quả cao cả về khía cạnh xã hội và môi trường. Có thể tổng
hợp các mô hình này theo 4 loại hình sau:
1.2.1.1 Mô hình xã hội hoá bảo vệ môi trường trong đời sống sinh hoạt:
Bảo vệ môi trường trong đời sống sinh hoạt là một yêu cầu không thể
thiếu được vì môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta như
về mỹ quan, sức khoẻ cộng đồng. Chính vì vậy mà bảo vệ môi trường là vô
cùng quan trọng. Bảo vệ môi trường trong việc thu gom rác thải sinh hoạt là
một mảng rất quan trọng và đang được nói đến rất nhiều và cần được đưa vào
đây các mô hình xã hội hoá trong công tác này để đạt những hiệu quả về các
mặt môi trường hay về kinh tế… Các mô hình loại này đã góp phần cải thiện
môi trường sống của nhân dân, tạo việc làm cho một số lao động địa phương,
nâng cao được nhận thức và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho nhân
dân đồng thời kết hợp được phương thức Nhà nước và nhân dân cùng bảo vệ
môi trường. Với kỹ thuật đơn giản, người dân có thể tự thu gom và xử lý rác
thải tại hộ gia đình. Hình thức tổ chức hợp tác xã (tổ, đội) nhỏ gọn, sử dụng
các phương tiện thu gom và xử lý đơn giản, đặc biệt là những nơi có đường
giao thông nhỏ mà không thể đưa xe có kích thước lớn vào. Do vậy, người
dân đồng tình đóng góp và thấy rõ hiệu quả và các mô hình này cũng dễ áp
dụng tại các thị trấn, thị tứ. Điển hình là các mô hình như: đội thu gom rác
dân lập; dân cư tham gia xử lý rác thải tại hộ gia đình; phát triển kinh tế gắn
với bảo vệ môi trường; xử lý các chất thải sinh hoạt và chăn nuôi góp phần
cải thiện môi trường sống và bảo vệ môi trường; xã hội hoá thu gom vận
chuyển rác thải; tổ dịch vụ môi trường; hợp tác xã vệ sinh môi trường; xây
nâng cao nhận thức của cán bộ, công nhân về tiết kiệm nguyên vật liệu, năng
lượng về bảo vệ môi trường; tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện mối
quan hệ giữa công nhân viên và lãnh đạo doanh nghiệp. Đến nay, các mô hình
này đã và đang tiếp tục được nhân rộng ở nhiều nhà máy, doanh nghiệp công
nghiệp như: mô hình áp dụng tiếp cận sản xuất sạch hơn trong công nghiệp;
mô hình áp dụng chương trình cải tiến doanh nghiệp (FIP) tại Việt Nam...
1.2.1.4 Các phong trào xã hội hóa bảo vệ môi trường:
Hiện nay, các phong trào xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là rất
cần thiết và phát huy tác dụng. Các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị xã
hội các cấp với thế mạnh lực lượng đông đảo và nhiệt tình như Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ... đã tích cực xây dựng
và duy trì các phong trào bảo vệ môi trường đạt hiệu quả cao, góp phần làm
sạch môi trường nông thôn, sử dụng hợp lý phân hữu cơ bón ruộng; tiết
kiệm kinh phí mua phân vô cơ, nâng cao năng suất cây trồng; tạo dựng thói
quen, nếp sống vệ sinh, sạch sẽ; giúp người dân được tiếp cận, sử dụng, tiết
kiệm nước sạch, giữ gìn vệ sinh môi trường sống, cảnh quan xung quanh…
Các phong trào đến nay đã đạt được những kết quả nhất định như: Phong
trào thiếu nhi màu xanh quê hương; chuyển giao ứng dụng khoa học công
nghệ của thanh niên nông thôn; xây dựng trang trại trẻ; làng thanh niên lập
nghiệp; hợp tác xã và hợp tác xã thanh niên; công trình thanh niên điện,
đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, trồng rừng; thanh niên xung phong bảo
vệ môi trường; hỗ trợ vốn làm công trình; sạch làng tốt ruộng của nhân dân
nông thôn... tại các tỉnh, thành phố trên cả nước.
73
1.2.2 Một số mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý
chất thải rắn cụ thể đã triển khai tại Việt Nam
1.2.2.1 Thành lập Đội thu gom rác dân lập thị xã Cửa Lò, Nghệ An:
Đội thu gom rác dân lập thực hiện các hoạt động thu gom rác sinh hoạt tại
các gia đình và đưa đến địa điểm tập kết để Công ty Môi trường đô thị chở ra
bãi rác. Nguồn kinh phí thu được của Đội một phần do Công ty Môi trường
240 hộ gia đình có hố xí tự hoại và hầm biogas, 1.208 gia đình có phương tiện
phân loại rác, 10 trạm xử lý rác hữu cơ bằng chế phẩm EM, 7.700 tấn 20 rơm
được chế biến thành thức ăn gia súc và nấm rơm.
1.2.2.4 Thu gom, vận chuyển rác thải tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà
Nội
Là một đề tài nghiên cứu khoa học theo quyết định của UBND thành phố
Hà Nội, mô hình bao gồm các hoạt động: Phân loại rác tại gia đình, sau đó
nhà thầu tư nhân đảm nhiệm việc thu gom rác thải vận chuyển đến bãi rác của
xã; tổ chức các chiến dịch làm sạch dòng sông, cống rãnh; tổ chức xử lý chất
thải hữu cơ tại hộ gia đình bằng chế phẩm vi sinh EM. Những hoạt động này
đã góp phần cải thiện môi trường sống của nhân dân, nâng cao được nhận
thức và ý thức trách nhiệm BVMT cho nhân dân trong xã; đồng thời kết hợp
được phương thức Nhà nước và nhân dân cùng bảo vệ môi trường.
1.2.2.5. Thành lập Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới, huyện
Quế Võ, Bắc Ninh
Được thành lập từ năm 2001, Hợp tác xã (trước đó là tổ vệ sinh môi
trường) đã tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày của thị trấn và đưa
đến địa điểm tập kết, vệ sinh quét dọn nơi công cộng, khơi thông cống rãnh
thoát nước, trồng và chăm sóc cây xanh... Sau khi thực hiện, lượng rác thải
73
được thu gom tăng gấp đôi, môi trường sạch hơn, qua đó tạo niềm tin trong
cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT của người dân, số dân tự
nguyện đóng góp phí vệ sinh ngày càng tăng từ đó mua sắm thêm được các
phương tiện phục vụ công tác vệ sinh môi trường. Do tổ chức theo phương
thức nhỏ gọn, các phương tiện sử dụng đơn giản, nên hoạt động của Hợp tác
xã rất hiệu quả và dễ áp dụng tại các thị trấn, thị tứ.
1.2.2.6. Mô hình xã hội hoá thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đô thị
ở Tam Kỳ, Quảng Nam (Mô hình có sự tham gia của cộng đồng)
Năm 2000, thị xã Tam Kỳ có 127.224 khẩu (40.005 hộ), lượng rác thải
sinh hoạt hằng ngày trên 200 khối, khu vực nội thị là 80 khối. Rác thải sinh
Song song với các quyền trên người dân địa phương có trách nhiệm
không thải đổ rác ra nơi công cộng; thực hiện phân loại rác, rác chứa trong sọt
và để nởi thuận lợi trong nhà, giao rác cho người thu gom đúng thời gian,
đúng phương thức; đóng tiền hàng tháng; phát hiện và tố giác hành vi thải đổ
rác không đúng nơi quy định.
Hội phụ nữ tham gia công tác quản lý bồ rác và thu tiền hàng tháng (được
hưởng 4% trên tổng doanh thu) trang bị sọt rác đồng bộ. Kết hợp với xí
nghiẹp đô thị Tam Kỳ tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội viên
một cách thường xuyên; phát động và duy trì hàng tuần làm vệ sinh trước,
xung quanh nhà, tham gia tổng dọn vệ sinh nơi công cộng; giám sát hoạt động
của tổ vệ sinh môi trường.
Mặt trận tổ quốc phường đưa công tác vệ sinh môi trường là một trong các
nội dung chính của việc xây dựng tổ văn hoá mới, có kế hoạch thực hiện và
kiểm tra đôn đốc thực hiện.
73
Đoàn thanh niên phường tổ chức Đội tình nguyện xanh, hoạt động vào ngày
chủ nhật hàng tuần về giải quyết rác công cộng, tổ chức tuyên truyền công tác
rác thải và tuần tra, phát giác các trường hợp đổ rác bừa bãi với UBND
phường.
Công an, y tế phường thực hiện công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi
phạm theo quy định của nhà nước.
Tổ chức vệ sinh môi trường địa phương thực hiện việc thu nhận rác từ hộ
dân một cách thường xuyên, đúng giờ, khi thu rác phải có kẻng hiệu, hướng
dẫn việc tuyển rác hộ nhân dân đảm bảo chất lượng phục vụ, xác định tuyến
đường, khu phố cần quét rác hộ dân, để thực hiện theo lịch được duyệt.
Kết quả hoạt động của mô hình này là lượng rác quản lý được nhiều hơn,
rác công cộng được giải quyết, rác công nghiệp, rác y tế bước đầu đưa vào
quản lý đúng theo quy định. Công tác thu gom rác tốt sẽ góp phần giảm ô
nhiễm môi trường. Mặt khác, nhận thức của cộng đồng, các cấp chính quyền,
đoàn thể về môi trường được nâng lên và về kinh tế tăng thu từ cộng đồng,
nhận
Nơi công cộng
-đường phố do đơn
vị nhận VSMT
đảm nhận
-các tụ điểm do
đoàn thể
ĐIỂM TẬP KẾT RÁC
(phường quản lý)
Giao nhận hợp lý, đảm
bảo VSMT
BÃI RÁC
(XNMTĐT quản lý)
-tái chế, tái sinh
-chôn lấp
Xí nghiệp môi trường đô thị Tam Kỳ
Chú thích:
chỉ đạo
phối hợp
VSMT phường thực hiện
XNMTĐT Tam Kỳ thực hiện
Tương quan giám sát
Nguồn: XNMTĐT Tam Kỳ.
1.2.2.7 Mô hình cộng đồng tham gia thu gom chất thải rắn ở Thạch Kim,
Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Thạch Kim là một xã ven biển, nghề sản xuất chính là khai thác cá biển,
chế biến hải sản, đóng và sửa chữa tàu thuyền, máy móc cơ khí và buôn bán
dịch vụ. Bình quân thu nhập đầu người hàng năm đạt 1.600.000 đồng/người.
73
Tuy nhiên, hiện tại số hộ dân trong diện đối nghèo của xã vẫn chiếm 17,6%
Bảng 1.1: Ma trận đánh giá chung về hiệu quả của các mô hình xã hội
hoá công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn thực hiện tại
Việt Nam.
STT Mô hình
Hình thức Hiệu quả
Tự
quản
Nhà
nước
Kinh
tế
Quản
lý
Xã
hội
Môi
trường
1
Đội thu gom rác dân lập Cửa
Lò, Nghệ An × TB TB T T
2
Xử lý rác tại hộ gia đình Từ
Liêm, Hà Nội × T TB TB T
3
Xử lý chất thải sinh hoạt và
chăn nuôi tại xã Quan Lộc, An
Định, Thanh Hoá × T X T T
4
Thu gom, vận chuyển rác tại xã
Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. × TB T T T
quả rất tốt, ý thức người dân về bảo vệ môi trường được nâng cao, trách
nhiệm của mỗi người ngày càng cao hơn. Qua đó, việc triển khai mô hình xã
hội hoá công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn là cần thiết và
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường tại Việt Nam. Cũng từ đó
việc triển khai mô hình này tại quận Tây Hồ sẽ mang lại nhiều hiệu quả và sẽ
được phân tích cụ thể trong các phần tiếp theo.
1.2.3 Các yếu tố đảm bảo tính bền vững của sự tham gia cộng đồng dân
cư (mô hình xã hội hoá) về vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
rắn:
Tính bền vững của sự tham gia cộng đồng thể hiện ở việc nâng cao năng
lực của cộng đồng tham gia vào các dự án liên quan đến vấn đề thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải và sự duy trì phát triển sự tham gia của cộng đồng vào
các hoạt động đó sau khi các nhà đầu tư, các nhà tài trợ rút khỏi dự án hoặc
cộng đồng đưa ra các sáng kiến xây dựng và thực hiện hoạt động kinh tế chất
thải mà không còn có sự đầu tư hoặc chỉ đầu tư một phần của chính phủ hay
73
của nhà tài trợ. Ví dụ như các cộng đồng ở phường tự tổ chức thu gom, vận
chuyển rác trong nhiều năm nay mà không cần đến sự hoạt động của các công
ty môi trường đô thị địa phương. Họ tổ chức các đội thu gom và huy động dân
cư đóng góp kinh phí để đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho việc thu gom và
vận chuyển. Sau một vài năm, độ thu gom của phường đã đảm nhiệm được
việc thu gom gần 100% chất thải rắn phát sinh trên địa bàn phường.
Các yếu tố đảm bảo tính bền vững cho mô hình xã hội hoá công tác thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn:
• Chiến lược truyền thông tạo ra được nhận thức rộng rãi về các vấn đề
chất thải trong cộng đồng và trách nhiệm của các bên liên quan đối với yêu
cầu của cộng đồng thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải.
• Lãnh đạo địa phương và các tổ chức công đồng cần khuyến khích và
quan tâm đến các nhu cầu của cộng đồng.
• Cần có sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương nhất là cấp gần với cộng
Chi phí thuê xử lý 1 tấn chất thải rắn của Công ty môi trường Đô thị.
1.3.1.2 Phân tích hiệu quả:
Hiệu quả tiết kiệm từ thu gom chất thải rắn của các mô hình cộng đồng
tự quản và các đợt vệ sinh phong trào.
Hiệu quả tiết kiệm được từ việc thuê phong trào vận chuyển bên ngoài.
Hiệu quả tiết kiệm được từ việc cộng đồng tự chôn lấp 1 phần chất thải
rắn thu gom được trong các đợt vệ sinh phong trào và mô hình cộng
đồng tự quản.
1.3.1.3 Tiêu chí đánh giá chi phí- hiệu quả :
73