I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
H TH NGI Tờn ti:
Đánh giá hiệu quả của mô hình trồng Thanh Long ruột đỏ
tại xã Việt Tiến, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Khuyn nụng
Lp : K42B - Khuyn nụng
Khoa : KT - PTNT
Khoỏ hc : 2010 - 2014
Ging viờn hng dn : PGS.TS. inh Ngc Lan
Hà Thị Ngời DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Việt Tiến năm 2013 32
Bảng 4.2: Số lượng các hộ tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật làm trụ, trồng và
chăm sóc thanh long ruột đỏ 39
Bảng 4.3: Mức độ áp dụng kỹ thuật đã được tập huấn vào thực tế của các hộ được
phỏng vấn 39
Bảng 4.4: Ý kiến của các hộ về tác động của điều kiện tự nhiên, lao động đến quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây thanh long ruột đỏ 41
Bảng 4.5: Đánh giá chung của các hộ về quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
thanh long ruột đỏ 42
Bảng 4.6: So sánh chi phí vật tư của một sào Thanh long ruột đỏ 43
với một sào Cam địa phương 43
Bảng 4.7: So sánh chi phí công lao động một sào thanh long ruột đỏ với một sào
cam địa phương 44
Bảng 4.9: Số lượng các buổi tập huấn kỹ thuật của các xóm trồng thanh long ruột đỏ
xã Việt Tiến qua 3 năm 2011-2013. 47
Bảng 4.10: Ý kiến của các hộ được phỏng vấn về kết quả tập huấn 48
Bảng 4.11: Đánh giá khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập từ việc tham gia mô
hình 49
Bảng 4.12: Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho cây thanh long ruột đỏ ở hộ tham
gia mô hình 50
DANH MỤC CÁC HÌNH
23 VA Giá trị gia tăng
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
1.4. Giới hạn của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Lý luận chung về mô hình 4
2.1.2. Đánh giá khuyến nông 6
2.1.3. Hiệu quả 9
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
2.2.1. Nguồn gốc và sự phân bố thanh long ruột đỏ trên thế giới 13
2.2.2. Đặc điểm thực vật học và phân loại cây Thanh long ruột đỏ 14
2.2.3. Tình hình nghiên cứu thanh long trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.4. Tình hình sản xuất thanh long trên thế giới và ở Việt Nam 18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
3.3. Nội dung nghiên cứu 28
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, cung cấp nhiều loại sản
phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường tiêu thụ rộng lớn của nền
kinh tế. Cung cấp nguồn nhân lực và tạo nên tích lũy ban đầu cho sự nghiệp
phát triển của đất nước. Ở mỗi nước với các giai đoạn phát triển khác nhau thì
vai trò của ngành nông nghiệp cũng thể hiện khác nhau. Với một nước gần
70% dân số sống ở nông thôn và hơn 70% lao động xã hội làm nông nghiệp
như nước ta thì việc phát triển nông nghiệp là nền tảng hết sức quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Trải qua bao biến cố và thăng trầm của lịch sử nước nhà đến nay nông
nghiệp vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi là mặt trận hàng
đầu đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển, hội nhập nền kinh tế cả nước
vào nền kinh tế toàn cầu. Thông qua các chủ trương chính sách hợp lý đã và
đang giúp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển đa dạng theo hướng
sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng khó tính.
Trong đó, chuyển dịch cơ cấu cây trồng tập trung vào những cây trồng cho
năng suất, chất lượng cao, hình thành và phát triển vùng sản xuất tập trung
đang là hướng đi vững chắc góp phần xây dựng và phát triển nền nông nghiệp
bền vững.
Việt Tiến là một xã vùng 2 nằm ở vùng hạ huyện của Bảo Yên, là một
xã thuần nông có nhiều thành phần dân tộc sinh sống như Tày, Mông, Dao,
Nùng,… Là quê hương có truyền thống cách mạng.
Do điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho việc hình thành vùng trồng
cây ăn quả. Việt Tiến là một trong những xã điểm được lựa chọn để triển khai
thực hiện và nhân rộng nhiều mô hình nông nghiệp trọng điểm nhằm tạo ra
bước đột phá cho sự phát triển một xã thuần nông tập trung chủ yếu các hoạt
động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Đến nay, diện mạo Việt Tiến đã
có nhiều khởi sắc.
2
để nâng cao hiệu quả mô hình.
3
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Việt Tiến,
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá được thực trạng mô hình trồng thanh long ruột đỏ tại xã
Việt Tiến.
- Đánh giá được hiệu quả của mô hình trồng thanh long ruột đỏ.
- Tìm hiểu được những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình.
- Đề xuất được giải pháp để nâng cao hiệu quả mô hình.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp có vai trò quan trọng trong quá
trình học tập của mỗi sinh viên là cơ hội cho sinh viên làm quen dần với việc
nghiên cứu khoa học, biết gắn kết những kiến thức đã học vào thực tiễn một
cách sáng tạo và khoa học. Quá trình nghiên cứu giúp cho sinh viên có điều
kiện tự khẳng định mình sau 4 năm học. Thời gian thực tập củng cố cho sinh
viên những kiến thức còn thiếu sót cần bổ sung để sau này trở thành một kỹ
sư Khuyến nông có năng lực chuyên môn tốt đáp ứng nhu cầu của công việc.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài về mô hình trồng Thanh long ruột đỏ giúp
cho huyện nhìn nhận đánh giá được hiệu quả của cây Thanh Long ruột đỏ và
là cơ sở để người dân so sánh hiệu quả cây thanh long ruột đỏ mang lại so với
cây trồng khác, cân nhắc có nên tiếp tục sản xuất cây thanh long nữa không?
Hay có nên đưa cây thanh long ruột đỏ vào sản xuất là cây trồng chính nữa
không? Những phân tích, đánh giá trong đề tài có thể làm tài liệu là cơ sở cho
các cấp chính quyền và hệ thống Khuyến nông đưa ra những hướng đi mới,
những định hướng cho việc chỉ đạo phát triển giống cây trồng chủ đạo.
1.4. Giới hạn của đề tài
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài mới chỉ phỏng vấn 40 hộ. Vì vậy chưa
chúng ta trao đổi các ý tưởng trong một hình thức cụ thể, không mơ hồ. [10]
Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó
tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô
hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng
nghiên cứu. [2]
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình,
các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng
mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng
5
cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc
vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để
mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng
đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được
thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng
nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được
bản chất của đối tượng nghiên cứu. [8]
* Khái niệm về Mô hình trình diễn
Mô hình trình diễn là một hình thức hoạt động cụ thể nào đó được tái
tạo lại hoặc mới được tạo ra tại một điểm trong khu vực nhất định nhằm
làm mẫu để nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tham quan học tập, từ đó có thể
nhân ra diện rộng.
Xây dựng các mô hình trình diễn (MHTD) nhằm chứng minh lợi ích và
tính khả thi của một kỹ thuật mới, đồng thời trình bày các bước áp dụng kỹ thuật
đó là một phương pháp được các cơ quan nghiên cứu và khuyến nông thường áp
dụng trong chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ (KTTB) cho người dân. [7]
Xây dựng mô hình trình diễn gồm 9 bước với sự tham gia tích cực của
cán bộ và nông dân vào tất cả các hoạt động của mô hình. Tuy nhiên hình
thức và mức độ tham gia ở mỗi bước là khác nhau. Tiến trình xây dựng mô
- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:
+ Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không.
+ Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông
qua các hoạt động đã chỉ ra.
- Đánh giá sử dụng các phương pháp để điều tra một cách có hệ thống
các kết quả và hiệu quả của mô hình. Nó cũng điều tra những vấn đề có thể
làm chậm tiến độ thực hiện mô hình nếu như các vấn đề này không được giải
quyết kịp thời.
- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có khoa
học, lấy mẫu theo phương pháp thống kê.
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn.
- Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động. 7
2.1.2.2. Các loại đánh giá
Đánh giá có nhiều loại khác nhau. Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành
3 loại chính như sau:
* Đánh giá tiền khả thi/khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô
hình, để xem xét xem liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay
không trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức
tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô
hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem mô hình hay hoạt động
có được đưa và thực hiện hay không.
* Đánh giá thực hiện
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là
đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh
giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định.
Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho mô hình dài hạn. Tùy
thể áp dụng rộng rãi hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không.
* Tổng kết
Thông thường sau khi kết thúc một mô hình hay hoạt động, người ta tổ
chức hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện, đánh giá về
những thành công hay chưa thành công, phân tích các nguyên nhân gây thất
bại, lấy đó làm các bài học để tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình sau này.
2.1.2.3. Tiêu chí đánh giá
* Khái niệm tiêu chí
- Khái niệm tiêu chí: Tiêu chí như là một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số
có thể định lượng được dùng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay
một mô hình nào đó.
* Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá
- Đối với các tiêu chí mang tính định lượng
Là các tiêu chí đo đếm được cụ thể, các chỉ tiêu này thường được sử
dụng để kiểm tra tiến độ công việc. Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể
được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra hoặc phỏng
vấn,… Cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng hoặc trên hiện trường:
Sự sinh trưởng của cây trồng, tăng trọng của vật nuôi, năng suất cây trồng,…
- Đối với các chỉ tiêu định tính
Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được. Nhóm chỉ tiêu này thường phản
ánh chất lượng của công việc dựa trên định tính nhiều hơn: Cây sinh trưởng
9
chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu. Việc xác định các chỉ tiêu này thường
thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của những người tham gia giám
sát cũng như của người dân.
* Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá
Các loại chỉ tiêu dùng cho hoạt động đánh giá là các chỉ tiêu mang tính
toàn diện hơn. Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá phải căn cứ vào mục đích
và hoạt động của mô hình, thường có các nhóm chỉ tiêu sau đây:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông theo mục
giữa hai đại lượng đó. Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ
thuật hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
+ Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối
(thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Với cách biểu hiện này nó đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng
có hiệu quả các nguồn lức sản xuất khác nhau. Từ đó so sánh được hiệu quả
kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh
giá này là không thể hiện được quy mô hiệu quả kinh tế nói chung.
Cách đánh giá khác về hiệu quả kinh tế nữa là được đo bằng hiệu số
giữa kết quả sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
+ Cách xem xét khác về hiệu quả kinh tế là so sánh giữa mức độ biến
động của kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó. Biểu hiện của cách đánh
giá này có thể so sánh chênh lệch về số tương đối và tuyệt đối giữa hai tiêu
thức đó. Cách đánh giá này có ưu thế khi xem xét hiệu quả kinh tế của việc
đầu tư theo chiều sâu hoặc trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tức là nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Tuy nhiên hạn
chế của cách đánh giá này là không xem xét đến hiệu quả kinh tế của tổng chi
phí bỏ ra.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt
chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản
xuất xã hội. Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế xã hội khác
nhau sẽ không giống nhau. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, mục đích
và yêu cầu của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể được đánh
giá theo những góc độ khác nhau.
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện
những yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các
11
nguồn lực xã hội. Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác
định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được và được
Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó.
+ Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần tuý
của người sản xuất bao gồm cả công lao động và lợi nhuận trong một thời
kỳ sản xuất.
GO
=
∑
=
n
i
PiQi
1
*
IC
=
∑
=
n
j
Cj
1
12
MI = VA - (A + T)
Trong đó :
VA là giá trị tăng thêm (gia tăng)
T là thuế nông nghiệp
A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định
+ Lợi nhuận:
thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho
các thế hệ tương lai. [4]
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Nguồn gốc và sự phân bố thanh long ruột đỏ trên thế giới
Cây thanh long (tên tiếng Anh: Dragon fruit) thuộc họ xương rồng
(Cactaceae), có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mêxicô và Colombia.
Trên thế giới thanh long thương phẩm thường được trồng với các loại khác
nhau là: Thanh long ruột trắng (Hylocereus undatus) và thanh long ruột đỏ
hay tím (H. costaricensis) trồng ở Nicaragua và Guatemala và H. polyhizus
được trồng ở Israel. Dòng thanh long vàng (H. undatus) được trồng ở Mexico
và châu Mỹ Latinh và một loại thanh long vàng khác là Selenicereus magalani
có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ, được trồng với diện tích giới hạn tại
Colombia, quả được xuất khẩu sang châu Âu và Canada.
Thanh long ruột đỏ hay còn được gọi là thanh long Nữ Hoàng (tên khoa
học là Hylocereus) chỉ mới xuất hiện gần đây nhưng cũng được rất nhiều
người ưa chuộng vì màu sắc đẹp và chứa nhiều vitamin rất tốt cho sức khỏe.
Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam cho biết, thanh long ruột đỏ là kết
quả lai giống theo phương pháp cổ điển giữa giống thanh long ruột trắng từ
Bình Thuận và giống thanh long ruột đỏ từ Colombia. Đây là giống được
chọn lọc từ 188 cá thể lai qua quá trình đánh giá nhanh cá thể lai, khảo sát
năng suất, chất lượng các cá thể lai tuyển chọn và trồng thử nghiệm trên diện
rộng tại Tiền Giang, Long An và Bình Thuận. [11]
Hiện nay thanh long ruột đỏ đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ và với kỹ
thuật sản xuất tiên tiến thanh long ruột đỏ là sản phẩm được chứng nhận
Global GAP,… đã được các đối tác Mỹ, Nhật, Châu Âu tin dùng. [12]
Thanh long ruột đỏ là cây trồng rất phổ biến hiện nay ở các nước trên
thế giới, đặc biệt các nước ở châu Âu và châu Á như: Úc, Đài Loan, Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, vậy nên đây là mặt hàng có sự cạnh tranh rất lớn trên
thị trường xuất khẩu thanh long của Việt Nam.
14
rào ở nông thôn và vùng ven biển, đất có tỷ lệ hạt dính 20%, hạt cát 40%, hạt
15
đất 40% sẽ giúp cho cây hấp thụ dinh dưỡng, hàng tháng lượng mưa từ 50 -
100 mm cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt. [29]
2.2.2.2. Phân loại
Đặc tính giống là một vấn đề quan trọng, hiểu biết đầy đủ sẽ giúp
chúng ta chủ động trong sản xuất và vận dụng được những thuận lợi để đem
lại kết quả cao. Hiện nay ở nước ta trồng chủ yếu hai giống là: Ruột trắng vỏ
đỏ và ruột đỏ vỏ đỏ.
Thanh long ruột trắng vỏ đỏ: Hiện được trồng rải rác khắp các tỉnh từ
Bắc tới Nam nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền
Giang,…
Thanh long ruột đỏ vỏ đỏ: Có hai loại khác nhau là: Thanh long ruột đỏ
giống Đài Loan và thanh long ruột đỏ lai tạo của 2 giống thanh long ruột trắng
Việt Nam và thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Côlômbia.
Giống thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Đài Loan được Chi nhánh
TCty Rau quả Việt Nam tại Lạng Sơn trồng khảo nghiệm, bước đầu được
đánh giá cho kết quả khá. Quả thanh long rất sai, ruột đỏ tím, ăn ngọt (độ
đường 16 - 18%), hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu vitamin và chất khoáng,
Bộ NN - PTNT đã cho phép Viện Rau quả trồng thí điểm để nhân giống ra
diện rộng.
Quả thanh long Đài Loan có 3 loại: Thanh long vỏ đỏ ruột đỏ, thanh
long vỏ đỏ ruột trắng, thanh long vỏ vàng ruột trắng, đều có tên quốc tế
Hylocereas; tên khoa học H. Undatus Britton & Rose, S. Megelanthus moran.
Giống cây thanh long Đài Loan có 4 loại:
- Ruột trắng vỏ đỏ: Là giống cây của Việt Nam được đem về từ Đài
Loan năm 1988.
- Ruột trắng vỏ đỏ: Dòng từ Mêhicô, được đem vào Đài Loan năm 1995.
- Ruột trắng vỏ vàng: Được đưa vào từ Mêhicô.
- Ruột đỏ vỏ đỏ: Là thanh long được lai từ giống thanh long ruột trắng
Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam) nhận được của một người bạn Pháp
hơn chục cành thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Colombia. Cô đem về
trồng khảo nghiệm.
Hai năm sau, thanh long ra hoa, kết trái. Cô thấy giống này ra hoa rất
mạnh nhưng trái không đẹp, lại nhỏ nhưng có ruột đỏ. Sau đó, cô cùng các
đồng sự (gồm Th.S Phạm Ngọc Liễu và Trần Kim Cương) chọn giống thanh
17
long Bình Thuận để chuẩn bị cho tiến trình “mai mối”. Một kế hoạch lai tạo
giữa thanh long ruột đỏ Colombia và thanh long ruột trắng Việt Nam bắt đầu
được thực hiện
Năm 1998 bắt đầu lai tạo, Th.S Oanh Yến chọn ra hai giống thanh long
ruột đỏ và ruột trắng làm bố mẹ. Thanh long ruột trắng thường 10h - 12h đêm
mới thụ phấn, còn ruột đỏ thì mãi tới 3h - 4h sáng. Khi đến thời điểm tung
phấn, cô cho thụ phấn giữa hai giống trắng và đỏ.
Khi trái chín hoàn toàn, Th.S Oanh Yến bổ ra. Ồ, thanh long ruột đỏ,
màu thịt đỏ tím hồng trông rất đẹp. Cô lại trích lấy hạt, những hạt giống thanh
long ruột đỏ đầu tiên.
Hạt thanh long nhỏ như hạt mè, cô gieo trong nhà lưới, nâng niu cả
năm trời trong đó như nuôi trẻ sơ sinh trong lồng kính. Rồi niềm vui đến với
cô: Những “chú” thanh long ra hai lá mầm đầu tiên rồi từ từ vươn lên
Cô chọn được 96 cây trắng lai đỏ, 92 cây đỏ lai trắng trồng khảo
nghiệm trên các vùng đất Tiền Giang, Long An và Bình Thuận. Lại phải tiếp
tục tuyển chọn, theo dõi thêm bốn năm nữa, đến 2002 mới chọn được 12 cá
thể lai vượt trội để trồng so sánh năng suất. Sau đó, Th.S Oanh Yến lại dành
thêm ba năm nữa mới tuyển chọn được dòng thanh long ruột đỏ nổi trội nhất
đưa ra sản xuất.
Năm 2005, sau khi phân tích độ chắc thịt, độ brix, năng suất cao, hình
dạng bên ngoài đẹp, chất lượng tốt, hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu cây
ăn quả miền Nam mới tuyển chọn và phóng thích, đưa ra sản xuất đại trà, đặt
tên là “Thanh long ruột đỏ (H14) Long Định 1”.
Gần 80% thanh long Việt Nam được xuất khẩu sang Trung Quốc
nhưng nước này lại đang có chính sách mở rộng phát triển loại trái cây này.
Mới đây, Trung Quốc đang có chính sách khuyến khích người dân phát
triển trồng thanh long trên diện tích lớn. Cụ thể là ở hai tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây phía Nam Trung Quốc. Việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ngành
xuất khẩu thanh long của Việt Nam những năm tới vì Trung Quốc là thị
trường tiêu thụ lớn nhất của Việt Nam về loại trái cây này.
Tìm hiểu sâu hơn vấn đề mới biết không phải bây giờ Trung Quốc mới
trồng thanh long mà họ đã trồng được vài năm ở đảo Hải Nam nhưng giờ mới
bắt đầu phát triển rộng.
“Không chỉ Trung Quốc, một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác như Thái
Lan, Hàn Quốc, Đài Loan cũng trồng thanh long với diện tích lớn từ nhiều