BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THUỶ SẢN
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
VÀ KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
CHUYỂN ĐỔI SANG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Lê Tiêu La
hoạch thuỷ sản
Thành viên
6 CN. Vũ thị Hồng Ngân Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
7 CN. Nguyễn Tiến Hưng Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
8 CN. Trần Hoài Giang Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
9 ThS. Phùng Giang Hải Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
10 CN. Vũ Thị Lành Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
11 KS. Vũ Nguyên Anh Viện Kinh tế và Quy
hoạch thuỷ sản
Thành viên
12 ThS. Đỗ Văn Hoàng Viện Nghiên cứu NTTS
II
Thành viên
13 ThS. Thiều Lư Viện Nghiên cứu NTTS
II
Thành viên 3
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
sinh thái ruộng trũng, bãi bồi ven sông, sau này bổ sung thêm phân hệ sinh thái
ao vườn; trong hệ sinh thái nước lợ bao gồm phân hệ sinh thái ruộng trũng
nhiễm mặn (RTNM), rừng ngập mặn (RNM) và bãi triều.
Các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở ĐBSCL rất đa dạng, trong khuôn
khổ của đề tài nghiên cứu không thể ti
ến hành đánh giá tất cả các mô hình. Trên
cơ sở nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, tham khảo ý kiến các chuyên gia về NTTS
và cán bộ quản lý NTTS của 13 tỉnh ĐBSCL, đề tài đã lựa chọn 14 mô hình
chuyển đổi phổ biến tại ĐBSCL thuộc 6 phân hệ sinh thái của hai hệ sinh thái
nước ngọt và nước mặn lợ để tiến hành nghiên cứu đánh giá theo bộ tiêu chí và
chỉ số ngư trại bền vững (ASI) bao g
ồm các khía cạnh về kinh tế-kỹ thuật, xã
hội, môi trường sinh thái.
4
Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả của các mô hình chuyển
đổi sang NTTS so với trước khi chuyển đổi, phân tích nguyên nhân những tồn
tại của các mô hình. Đề tài nghiên cứu cũng đưa ra các đánh giá ban đầu về khả
năng nhân rộng và chuyển đổi lại của các mô hình chuyển đổi sang NTTS theo
hệ sinh thái. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để phát triển bền vững các
mô hình chuyển
đổi sang NTTS nói riêng, phát triển bền vững ngành thủy sản
nói chung.
1.2 Hiệu quả chung về kinh tế 29
1.3 Hiệu quả chung về xã hội 32
1.4 Hiệu quả chung về môi trường sinh thái 35
2. Đánh giá hiệu quả từng mô hình chuyển đổi sang NTTS theo vùng sinh thái 36
2.1 Mô tả đặc điểm kinh tế-kỹ thuật các mô hình chuyển đổi 36
2.2 Hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 46
2.3 Hiệu quả môi trường các mô hình chuy
ển đổi 69
2.4 Hiệu quả xã hội các mô hình chuyển đổi 75
2.5 Tính bền vững của các mô hình chuyển đổi 90
6
3. Đánh giá các nguyên nhân thành công, thất bại và các bài học kinh nghiệm trong chuyển
đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL 96
3.1 Các khó khăn, tồn tại gặp phải trong quá trình chuyển đổi 96
3.2 Các nguyên nhân 99
3.3 Các bài học kinh nghiệm 102
4. Đánh giá khả năng nhân rộng và chuyển đổi lại của các mô hình trong vùng ĐBSCL. 103
4.1 Hệ sinh thái nước ngọt 103
4.2 Hệ sinh thái nước mặn lợ 106
5. Đề xuất các giải pháp phát triể
n bền vững 110
5.1. Giải pháp chung cho các vùng chuyển đổi 110
5.2 Giải pháp đặc thù theo các vùng sinh thái 123
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
LỜI CẢM ƠN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131 7
Bảng 16. Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 52
Bảng 17. Tỷ suất thu nh
ập/vốn đầu tư XDCB các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi bồi nước ngọt 53
Bảng 18. Doanh thu của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh
thái ruộng trũng nhiễm mặn 53
Bảng 19. Thu nhập của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh
thái ruộng trũng nhiễm mặn 54
Bảng 20. Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhi
ễm mặn 55
8
Bảng 21. Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB của các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái ruộng trũng nhiễm mặn 56
Bảng 22. Doanh thu của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh
thái bãi triều 56
Bảng 23. Thu nhập của các mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh
thái bãi triều 57
Bảng 24. Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triề
u 58
Bảng 25. Tỷ suất thu nhập/vốn đầu tư XDCB của các mô hình chuyển đổi sang
NTTS thuộc phân hệ sinh thái bãi triều 59
Bảng 26. Doanh thu của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái
rừng ngập mặn 60
Bảng 27. Thu nhập của mô hình chuyển đổi sang NTTS thuộc phân hệ sinh thái
rừng ngập mặn 60
Bảng 28. Thu nhập/ngày công lao động gia đình các mô hình chuyển đổ
Bảng 45. Kết quả đánh giá ngư trại bền vững mô hình chuyển đổi từ đất làm
muối sang nuôi tôm 94
Bảng 46. Kết quả đánh giá ngư trại bền vững mô hình chuyển đổi từ đất rừng
ngập mặn sang kết hợp nuôi tôm 95
Bảng 47. Tổng hợp kết quả đánh giá ngư trại bền vững các mô hình CĐ 95
Bảng 48. Các khó khăn cơ bản trong NTTS 97 10
CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIÊT TẮT, KÝ HIỆU, ĐƠN VỊ ĐO ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
CĐ Chuyển đổi
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
TCX Tôm càng xanh
FAO Tổ chức Nông Lương Thế giới
ASI Chỉ số ngư trại bền vững
(Aquaculture Sustainable Index)
PTBV Phát triển bền vững
KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
PTBV
Phát triển bền vững
BS Bền vững sinh học
(Biology Sustainable)
sông, bãi triều, đất cát) sang nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã diễn ra mạnh mẽ
trên toàn qu
ốc, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Theo báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển nuôi trồng
thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010”: tổng
diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản của vùng ĐBSCL từ năm 1999
đến hết năm 2005 là 310.841 ha, chiếm 82,4% diện tích chuyển đổi của cả nước,
trong đó từ
đất trồng lúa là 297.187 ha, với các đối tượng nuôi chính là tôm sú,
nhuyễn thể cho hệ sinh thái nước lợ; cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh (TCX), cá
truyền thống cho hệ sinh thái nước ngọt.
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các vùng đất kém hiệu quả sang nuôi
trồng thuỷ sản đã đem lại hiệu quả tác động tích cực to lớn về kinh tế, xã hội và
môi trường nhưng bên cạnh đó cũng nảy sinh các tác động tiêu c
ực như phân
hoá giàu nghèo, mâu thuẫn trong sử dụng đất, ô nhiễm môi trường, Vì vậy
việc tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi
sang nuôi trồng thuỷ sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” là một yêu cầu cần
thiết.
Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu:
Đánh giá được tính ổn định và khả năng nhân rộng các mô hình nuôi
trồng thuỷ sản (NTTS) trong vùng chuyển đổi ở Đồng bằ
ng sông Cửu Long làm
cơ sở cho xây dựng các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển nuôi
trồng thuỷ sản cũng như phát triển kinh tế-xã hội của vùng.
Mục tiêu cụ thể của đề tài nghiên cứu:
- Đánh giá được hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường của các mô hình
nuôi trồng thuỷ sản trong vùng chuyển đổi theo từng vùng sinh thái
- Đưa ra các giải pháp phát triển và nhân rộng các mô hình nuôi trồng
thuỷ sản bền vữ
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC1. Tình hình nghiên cứu đánh giá hiệu quả chuyển đổi sang NTTS ở
ngoài nước
Phát triển bền vững, trong đó có phát triển NTTS bền vững, đang là mục
tiêu của toàn cầu. Ở một số nuớc có ngành NTTS phát triển như: Trung Quốc,
Thái Lan, In đô nê xi a, đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả
và tác động của NTTS về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường để nhằm mục
tiêu phát triển bền vững nh
ưng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá hiệu
quả của việc chuyển đổi sang NTTS.
Những cố gắng sử dụng tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá độ bền vững của
nuôi trồng thuỷ sản được phác thảo lần đầu tiên bởi Tổ chức Nông Lương Thế
giới (FAO) năm 1997. FAO đề xuất các tiêu chí gồm:
- Khả năng cấp nước và cân bằng nước
- Sử dụng đấ
t/độ che phủ
- Đặc trưng đất đai và thổ nhưỡng
- Đầu tư
- Cơ sở hạ tầng
- Thị trường
- Thời tiết / khí hậu
Đây mới chỉ là những tiêu chí được đề xuất có tính hướng dẫn, chưa được
áp dụng trên thực tế.
Gần đây nhất (năm 2002), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã
công bố trên mạng Internet tài liệu Bách khoa thư v
ề các chỉ thị môi trường đô
vùng chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản. Trong đó có những đề tài liên quan
nhiều đến đề tài nghiên cứu có sự tham gia của một số thành viên đề tài như sau:
(1) Đề tài “Đánh giá tác động của ngành Thuỷ sản tới nền kinh tế quốc
dân” đã đưa ra được hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và thực hiện đánh giá tác động
của toàn ngành Thuỷ sản tới nền kinh tế
quốc dân bao gồm:
- Tác động về mặt kinh tế:
1/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới thu nhập quốc dân toàn quốc.
2/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới thu nhập xuất khẩu và phát triển
thương mại Quốc tế.
3/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp và nông thôn ven biển.
- Tác động về mặt kinh tế-xã hộ
i:
1/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới giải quyết lao động, việc làm.
2/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới xoá đói giảm nghèo.
3/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới cung cấp dinh dưỡng và an ninh
thực phẩm
4/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới phát triển nguồn nhân lực
5/ Tác động của phát triển thuỷ sản tới đổi mới cơ chế chính sách và
đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Tác động về mặt môi trường sinh thái và tài nguyên thuỷ sản: Tác động
của phát triển thuỷ sản tới môi trường.
(2) Đề tài “Xây dựng hồ sơ các mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam”
đã đưa ra được các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của 20 mô hình nuôi trồng thuỷ sản
trên phạm vi toàn quốc, các mô hình này không mang đặc điểm chuyển đổi.
(3) Đề tài “Đánh giá tác
động tiêu cực về mặt xã hội của NTTS mặn lợ và
15
của Việt Nam", bộ chỉ tiêu nói trên được nâng cấp thành bộ chỉ thị về PTBV của
Việt Nam gồm:
Nhóm phát triển xã h
ội: 14 chỉ thị
Nhóm phát triển kinh tế: 4 chỉ thị
Nhóm bảo vệ môi trường: 5 chỉ thị
Những sáng kiến để xây dựng và phát triển phương pháp đánh giá PTBV
của Bộ KH&ĐT mới chỉ là những gợi ý về phương pháp luận. Trong số các "chỉ
thị" hoặc " chỉ tiêu" được đề xuất, có những chỉ tiêu được định lượng hoá và đáp
ứng đủ yêu cầu của một ch
ỉ thị, tuy nhiên vẫn còn không ít chỉ tiêu chí là các
tiêu chí định tính. Trên thực tế, chưa có địa phương nào áp dụng toàn bộ các chỉ
tiêu này trong đánh giá PTBV của địa phương mình.
Chỉ số dùng để đánh giá độ bền vững cấp ngư trại được Nguyễn Đình Hoè
và Vũ Văn Hiếu đề xuất lần đầu năm 2002. Các tác giả trên cơ sở khai triển
16
phương pháp bền vững sinh học (BS - biology sustainable) đã xây dựng chỉ số
bền vững ngư trại ASI và ứng dụng ASI để đánh giá độ bền vững của một số
ngư trại của tỉnh Khánh Hoà. Nghiên cứu này là thử nghiệm bước đầu. Tiếp sau
đó, chuyên đề “Xây dựng chỉ số ngư trại bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản” là
một bộ phận của đề
tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho
qui hoạch chi tiết sử dụng hợp lý vùng nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất muối huyện
Nghĩa Hưng” do Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản chủ trì. Mục tiêu của
chuyên đề là xây dựng các chỉ số tổng hợp để đánh giá ở cấp trang trại và cấp
vùng nuôi thuỷ sản ven biển, thử nghiệm ở vùng nuôi tôm c
ửa sông châu thổ
Nghĩa Hưng – Nam Định. Bộ chỉ số được nghiên cứu xây dựng gồm 4 chỉ số: 2
chỉ số đánh giá cấp vùng và 2 chỉ số đánh giá cấp trang trại cho vùng sinh thái
khép kín.
Mặt khác, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của Việt nam hiện nay là hoạt
động của con người tác động vào hệ sinh thái, hiệu quả hoạt động nuôi trồng
thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của hệ sinh thái. Theo tính chất vùng
nước, hệ sinh thái có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong các vùng chuyển đổi
của Đồng Bằng sông Cửu long bao gồ
m hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái
nước lợ; trong hệ sinh thái nước ngọt bao gồm hệ sinh thái ruộng trũng và hệ
sinh thái bãi bồi ven sông; trong hệ sinh thái nước lợ bao gồm hệ sinh thái ruộng
trũng nhiễm mặn (RTNM), rừng ngập mặn (RNM) và bãi triều.
Vì vậy để đánh giá được hiệu quả tổng hợp về kinh tế-xã hội-môi trường
của các mô hình chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản theo vùng sinh thái,
phương pháp ti
ếp cận chủ đạo là tiếp cận hệ thống kín và tiếp cận hệ sinh thái.
Dựa trên cách tiếp cận này sẽ thấy được mối quan hệ biện chứng giữa
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của con người và hiệu quả tác động tới chính con
người của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trong từng hệ sinh thái, từ đó thấy rõ
được các nguyên nhân gây ra hiệu quả tác động để làm cơ s
ở cho việc hình
thành các giải pháp khả thi để phát huy các tác động tích cực, giảm thiểu các tác
động tiêu cực góp phần nhân rộng và phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản
phù hợp với các hệ sinh thái vùng.
Để đánh giá một hệ thống phức tạp (hoạt động chuyển đổi sang NTTS)
gồm nhiều chức năng (kinh tế, xã hội, môi trường) người ta phải chọn mỗi chức
năng một hoặc vài đặ
c điểm đặc trưng làm cơ sở để đánh giá. Những đặc điểm
đặc trưng đó được gọi là tiêu chí đánh giá. Kết quả của các tiêu chí phản ánh quá
trình đang xảy ra trong một hệ thống, cho chúng ta biết hướng phát triển (biến
đổi) của một hệ thống: tăng, giảm hay ổn định.
Nuôi trồng thuỷ sản ven biển Việt Nam đã và đang trở thành nghề
a) Đánh giá hiệu quả chung về chuyển đổi sang NTTS của cả vùng
ĐBSCL
1. Chuyển đổi diện tích: Sự biến động diện tích chuyển đổi, chuyển đổi
lại.
2. Hiệu quả kinh tế:
- Sản lượng và giá trị sản lượng
- Đóng góp vào tăng tr
ưởng kinh tế: tỷ trọng giá trị sản lượng của chuyển
đổi sang NTTS trong tổng giá trị sản lượng thuỷ sản
- Thu nhập xuất khẩu và phát triển thị trường
- Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn vùng
3. Hiệu quả xã hội
- Tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý: theo các mô hình hộ gia đình-trang
trại, hợp tác xã, nông trường.
- Công bằng xã hội : khoảng cách giàu nghèo, xoá đói giảm nghèo, tiếp
c
ận các dịch vụ xã hội, sử dụng đất
- An ninh lương thực và thực phẩm: diện tích, sản lượng lương thực và
NTTS
- Phát triển nguồn nhân lực: Trình độ văn hoá, khoa học công nghệ
19
- Đổi mới cơ chế chính sách và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp
4. Hiệu quả môi trường sinh thái:
- Đa dạng sinh học
- Nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên
- Ảnh hưởng tới môi trường xung quanh
b) Đánh giá hiệu quả theo từng mô hình chuyển đổi sang NTTS theo 4
nhóm tiêu chí:
1. Hiệu quả kinh tế: hiệu quả sử dụng đất và nguồn nhân lực: doanh
phần mềm tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2 cho các mô hình chuyển đổi trên
cơ sở phát triển phương pháp tính chỉ số ngư trại bền vững ASI1 (Xem chi tiết ở
phần sau).
20
3. Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Các mô hình chuyển đổi sang NTTS ở ĐBSCL rất đa dạng, trong khuôn
khổ của đề tài nghiên cứu không thể tiến hành đánh giá tất cả các mô hình. Trên
cơ sở nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, tham khảo ý kiến các chuyên gia về NTTS
và cán bộ quản lý NTTS của 13 tỉnh ĐBSCL, đề tài đã lựa chọn 14 mô hình
chuyển đổi phổ biến tại ĐBSCL thuộc hai hệ sinh thái nướ
c ngọt và nước mặn
lợ để tiến hành nghiên cứu đánh giá.
Sơ đồ cách tiếp cận
hợp lúa-cá, luân
canh lúa-TCX,
kết hợp lúa-
TCX, chuyên
TCX theo TC
và BTC)
Hệ sinh thái bãi
bồi ven sông
(1 mô hình CĐ
từ đất bãi bồi
sang: Nuôi
chuyên cá vùng
bãi bồi ven
sông)
Hệ sinh thái
ruộng trũng
nhiễm mặn
(4 mô hình
CĐ từ RTNM
sang: chuyên
tôm theo các
PT nuôi TC,
BTC, QCCT;
luân canh lúa-
tôm)
Hệ sinh thái
bãi triều
(2 mô hình
CĐ từ đất làm
c hiện ký hợp đồng với 13
tỉnh thuộc ĐBSCL để cung cấp tư liệu về tình hình chuyển đổi theo đề cương.
- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp (chuyên khảo): Tiến hành thu thập các báo
cáo, tài liệu của địa phương, của trung ương liên quan đến tình hình NTTS và
chuyển đổi sang NTTS.
b) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
b.1) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp mang tính định tính:
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tậ
p trung có sự tham gia của
người dân: Đã thực hiện 14 cuộc họp thảo luận nhóm có sự tham gia của người
dân thực hiện mô hình chuyển đổi. (Xem phụ lục số 3. Bộ câu hỏi thảo luận
nhóm người dân chuyển đổi sang NTTS)
- Sử dụng phương pháp chuyên gia: Đã thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu
để thu thập ý kiến các cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện và cấp xã. (Xem
phụ lục số 2. Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ quản lý).
b.2) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp mang tính định lượng:
- Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua phỏng vấn trực tiếp
theo bảng hỏi cấu trúc. (Xem Phụ lục số 4. Bảng phỏng vấn hộ gia đình chuyển
đổi sang NTTS). Phương pháp điều tra chọn mẫu này được được sử dụng nh
ằm
đo lường thực trạng về hiệu quả kinh tế-kỹ thuật, xã hội, môi trường của hoạt
động chuyển đổi sang NTTS của năm 2006 so với trước khi chuyển đổi. Phương
pháp điều tra chọn mẫu đã được thử nghiệm tại Sóc Trăng trước khi sử dụng
chính thức.
Phương pháp chọn mẫu: Để thu thập được thông tin chính xác, có tính
đại diện cao và có thể so sánh,
đề tài đặc biệt coi trọng việc sử dụng các phương
pháp thích hợp để chọn mẫu nghiên cứu. Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn
theo phương pháp phân vùng sinh thái - hành chính kết hợp với phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên có định hướng tại cấp cơ sở. Trên cơ sở phân tích các đặc
01 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang luân
canh lúa - cá
52 Cần Thơ
02 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang kết hợp
nuôi cá
47 Cần Thơ
03 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi
luân canh lúa - tôm càng xanh
50 Cần Thơ,
Hậu Giang
04 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa sang nuôi
chuyên canh tôm càng xanh theo phương thức
nuôi bán thâm canh
30 Cần Thơ,
Hậu GiangPhân hệ sinh thái ao vườn nước ngọt05 Mô hình chuyển đổi từ đất vườn sang nuôi chuyên
cá tra
50 Cần Thơ,
Hậu Giang
06 Mô hình từ đất vườn sang kết hợp nuôi cá truyền
QCCT.
51 Cà Mau23
Mã mô
hình
Tên mô hình Số
phiếu
Địa điểm
thu mẫu
11 Mô hình chuyển đổi từ đất trồng lúa nhiễm mặn
sang nuôi luân canh lúa - tôm
50 Bạc LiêuPhân hệ sinh thái bãi triều12 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi bán thâm canh
46 Trà Vinh
13 Mô hình chuyển đổi từ đất làm muối sang nuôi
chuyên tôm theo phương thức nuôi thâm canh
52 Trà VinhPhân hệ sinh thái rừng ngập mặn
, P-PO
4
, tảo, vi
khuẩn được phân tích tại Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường
và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ - Viện NCNTTS II.
- Lựa chọn, phân tích, tổng hợp các tiêu chí liên quan đến phát triển bền
vững đề xuất và áp dụng tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2, hiệu chỉnh phần
mềm tính chỉ số ngư trại bền vững ASI2 cho các mô hình chuyển đổi:
Chỉ số ASI (Aquacultural Sustainability Index) do Nguy
ễn Đình Hoè
và Vũ Văn Hiếu xây dựng dựa trên biểu đồ BS (biology sustainable) của
IUCN, quan tâm đến hai mảng phúc lợi sinh thái và phúc lợi nhân văn
(ASI1), chỉ số này phù hợp trong quá trình đánh giá tính bền vững của các mô
hình nuôi tôm trong các vùng sinh thái nhạy cảm, vấn đề bảo tồn là quan
trọng nhất. Tuy nhiên, chỉ số này không phù hợp trong việc đánh giá tính bền
vững các mô hình chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản với mục tiêu kinh tế-xã hội
24
cũng rất quan trọng. Vì vậy, trên cơ sở kiến tạo chỉ số ASI1, chỉ số ASI2
được phát triển và kiến tạo dựa trên 3 mảng chỉ số là các phúc lợi kinh tế, xã
hội và môi trường (3 nhóm tiêu chí cơ bản của PTBV), phù hợp với đánh giá
tính bền vững cho các mô hình chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản.
Sự phát triển đồng đều giữa 3 mảng chỉ số trên sẽ đảm bảo cho sự phát
tri
ển bền vững của cả hệ thống. Sự mất cân bằng giữa 3 mảng chỉ số sẽ gây
nên sự phát triển không bền vững của hệ thống. Nếu phát triển chỉ quan tâm
đến một trong 3 mảng sẽ tạo ra các hệ thống không bền vững.
Trên cơ sở xác định được các vấn đề cốt lõi trong hệ thống nuôi thuỷ sản,
các chỉ thị đơn để
đánh giá mức độ bền vững của hệ thống nuôi thuỷ sản được
Mức độ bền vững được đánh giá theo thang điểm như sau:
00 > 0.2 Không bền v
ững
0.2 > 0.4 Kém bền vững
0.4 > 0.6 Bền vững trung bình
0.6 > 0.8 Khá bền vững
0.8 – 1,0 Bền vững
Trên cơ sở phần mềm tính ASI1 và các phát triển chỉ số ASI2, nhóm
nghiên cứu cùng với sự hỗ trợ của chuyên gia phần mềm đã tiến hành hiệu chỉnh
25
phần mềm để tính chỉ số ASI2 để thuận tiện trong việc đánh giá mức độ bền
vững cho các ngư trại thực hiện chuyển đổi sang NTTS.
3) Phương pháp chuyên gia: tổ chức các hội thảo khoa học, xin ý kiến
chuyên gia góp ý cho các báo cáo.