đánh giá hiệu quả các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh bắc kạn - Pdf 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN MỸ HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 606260
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Nghĩa Biên.
THÁI NGUYÊN THÁNG 9 NĂM 2011
Thái Nguyên, năm 2011
i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỞ ĐẦU
Hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngƣ nghiệp là một

tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều
phƣơng pháp tiếp cận chuyển giao khoa học kỹ thuật khác nhau trong đó có
các mô hình khuyến lâm.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi với diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới
80% tổng diện tích tự nhiên. Khuyến lâm từ lâu đã trở thành tâm điểm của
tỉnh. Với những chủ trƣơng của nhà nƣớc đã đặt ra, hoạt động khuyến lâm của
Tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua đã tổ chức thực hiện các nội dung trên.
Trong suốt hơn một thập kỷ qua, khuyến lâm vẫn đang tìm kiếm để trả
lời các câu hỏi đặt ra là có những mô hình chuyển giao gì? phƣơng pháp, cách
thức làm nhƣ thế nào? hiệu quả làm ra sao? có những khó khăn, bất cập gì
trong quá trình chuyển giao? khả năng nhân rộng của mô hình? Sau nhiều
năm thực hiện song vẫn chƣa có các công trình điều tra nghiên cứu đầy đủ, có
tính hệ thống cung cấp cho các nhà quản lý có những thông tin đầu đủ, khách
quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch phù hợp với tỉnh. Xuất phát
từ yêu cầu thực tiễn này, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiệu quả của các mô
hình khuyến lâm trên địa bàn Tỉnh Bắc Kạn’’.
iii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
CHƢƠNG 1 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1. Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới 1
1.1.1. Quá trình phát triển khuyến nông 3
1.1.2. Lịch sử phát triển khuyến nông ở một số nƣớc 4
1.2. Khuyến nông Việt Nam 9
1.2.1.

3.3.5. Đánh giá các tác động về xã hội 57
4.26. Đánh giá chung 59
4.2.2. Về phát triển nguồn lực 61
4.2.3. Về cơ chế, chính sách 62
4.2.4. Về kỹ thuật 62
4.4. Nhóm giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình khuyến lâm thành công 63
CHƢƠNG 5 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1. Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4.1: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Keo tai tƣợng ở tuổi 3 ở
mô hình khuyến lâm và mô hình đại trà 43
v

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Bảng 4.2: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Mỡ ở tuổi 3 giữa mô hình
khuyến lâm và trồng đại trà 46
Bảng 4.3: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Trúc sào ở tuổi 3 giữa mô
hình khuyến lâm và đại trà 48
Bảng 4.4: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Mao trúc ở tuổi 3 với cây
Trúc sào của địa phƣơng 51
Bảng 4.5: Kết quả tác động xã hội của một số mô hình khuyến lâm 57
DANH MỤC CÁC ẢNH Ảnh 4.1: Cây Keo tai tƣợng tuổi 1 trong mô hình khuyến lâm 45
Ảnh 4.2: Cây Keo tai tƣợng tuổi 1 trồng đại trà 45
Ảnh 4.3: Cây Mỡ trồng đại trà tuổi 3 48
Ảnh 4.4: Cây Mỡ trong mô hình khuyến lâm tuổi 3 48
Ảnh 4.6: Trúc sào trồng đại trà 3 tuổi 50
Ảnh 4.7 Cây Mao trúc Mới trồng 52
Ảnh 4.8: Cây Trúc sào 1,5 tuổi 52
Ảnh 4.9: Cây Mao trúc 1,5 tuổi 52
Ảnh 4.10: Cây thảo quả sau trồng 4 năm 54
Ảnh 4.11: Cây thảo quả cho quả tại xã Thƣợng Giáo sau 4 năm trồng 54
Ảnh 4.12: Cây Dó trầm 3 năm tuổi ở mô hình khuyến lâm 56
Ảnh 4.13: Cây Mây nếp mô hình khuyến lâm tại Chợ Mới 3 năm tuổi 57
1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới
Bắt đầu vào thời kỳ phục hƣng (thế kỷ 14) khi khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển với tốc độ cao thì việc phổ biến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
nói chung, tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp nói riêng vào sản xuất ngày càng
quan tâm.
Khởi đầu là Rabelaiz đã làm công tác thống kê hiệu quả công tác của
những học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp ra trƣờng từ những cơ sở đạo tạo có
thực hành và không có thực hành. Từ kết quả điều tra ông đã kết luận học
sinh, sinh viên đào tạo ở những trƣờng coi trọng thực tế thực hành khi ra

tích cây trồng tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi phong phú, săng suất, sản
lƣợng cây trồng vật nuôi cao và chất lƣợng nông sản phẩm tốt… và Phát
triển nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại, mối quan hệ giữa mọi ngƣời
dân trong cộng đồng ngày càng tốt đẹp [1].
Khuyến mại nông nghiệp chỉ quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận cho
những cá nhân hay nhóm doanh nhân nào đó mà không hoặc rất ít quan
tâm đến hiệu quả sản xuất của ngƣời nông dân. Ví dụ một đại lý kinh doanh
vật tƣ nông nghiệp họ chỉ quan tâm đến làm thế nào để mua rẻ, bán đắt; làm
thế nào bán đƣợc nhiều phân bón, bán đƣợc nhiều giống cây trồng vật nuôi
để có lợi nhuận cao. Trong khi đó, họ không quan tâm đến hƣớng dẫn và
theo dõi kết quả nông dân sử dụng những vật tƣ đó. Thậm chí những vật tƣ
phân bón đã mất chất lƣợng, giống bị lẫn, giống không đúng chủng loại vẫn
nói hay, tuyên truyền tốt, khuyến mại tốt để bán đƣợc nhiều, thu lời lớn.
Điều này trái ngƣợc hẳn với bản chất và mục đích của khuyến nông.
Trong khi đó, khuyến nông là khuyến khích, tạo mọi thuận lợi làm cho
nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển.
3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.1.1. Quá trình phát triển khuyến nông
Con ngƣời chúng ta đã biết cách hoạt động khuyến nông từ nhiều ngàn
năm nay ngay sau khi con ngƣời biết đến sản xuất nông nghiệp trồng trọt,
chăn nuôi … Để đạt đƣợc mục tiêu này mục tiêu khác, bằng cách này, cách
khác, con ngƣời đã hành động sao cho nông nghiệp ngày càng phát triển để
thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của con ngƣời, đó là thực tế ai cũng thừa
nhận. Để góp phần đắc lực cho nông nghiệp phát triển, một số nƣớc đã sớm
nhận thấy cần có hệ thống tổ chức khuyến nông. Mầm mống để hình thành
nên các tổ chức khuyến nông nhà nƣớc của các quốc gia từ một hoặc từ một số
các tổ chức nhƣ:

bộ khuyến nông trong biên chế.
1.1.2. Lịch sử phát triển khuyến nông ở một số nƣớc
Ở đây không đề cập tới tổ chức và nội dung hoạt động của hệ thống
khuyến nông các nƣớc. Tổ chức và nội dung hoạt động của hệ thống khuyến
nông các nƣớc thƣờng xuyên có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình hiện
tại. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu ở nội dung này chỉ giới thiệu đôi nét
nổi bật về hoạt động khuyến nông và kết quả sản xuất nông nghiệp trên thế
giới, trong đó có vai trò khuyến nông của một số nƣớc nổi bật [1].
Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn
kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân. Mỹ là một trong những nƣớc hoạt động
khuyến nông của Nhà nƣớc khá sớm. Năm 1843, ở NewYork nhà nƣớc cấp
nguồn kinh phí khá lớn cho phép Ủy ban nhà nƣớc (UBNN) bang thuê tuyển
những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên
khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực
hành nông nghiệp cho nông dân [3].
 Ở Mỹ: - Năm 1853, Edward Hitchcoch là chủ tịch trƣờng đại học
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công
lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên. Ông cũng là
ngƣời sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân [3].
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trƣớc Nhà nƣớc đã quan tâm đến
công tác đào tạo khuyến nông trong trƣờng đại học. Năm 1891 bang
NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học.
Những năm sau đó nhiều nhiều trƣờng đại học nhƣ
Đại
học Chicago, Đại
học Wicosin …cũng đƣa khuyến nông vào chƣơng trình đào tạo. Bộ thƣơng

Sự thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò
đóng góp đáng kể của khuyến nông. Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói
tới thành tựu 3 cuộc cách mạng:
- Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất khi nói đến
nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh
.
Thực chất của cuộc
cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc
biệt là cách mạng về giống cây lƣơng thực nhƣ lúa nƣớc, lúa cạn, lúa mỳ,
ngô khoai … Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời … đã
làm tăng vọt năng suất và sản lƣợng lƣơng thực của quốc gia này.
- Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu …
Mọi nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa. Khuyến nông có vai trò cực kỳ
quan trọng nhƣ vấn đề giải quyết đầu vào gồm vốn sản xuất, giống trâu bò
sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra gồm thu gom tiêu thụ sản phẩm,
chế biến sản phẩm sữa…
- Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng
nâu. Đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu [4].

Ở Thái Lan: Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số
sống bằng nghề nông nghiệp [1]. Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần
tƣơng đồng với Việt Nam. Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng
khá tiêu biểu. Hệ thống khuyến nông nhà nƣớc đƣợc thành lập năm 1967.
Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:
- Nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn 120-200 triệu USD/năm. Lƣợng
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nƣớc ta [8].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

quyết của Ban chấp hành trung ƣơng (BCHTW) Đảng khóa VIII rất coi trọng
khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu
sản xuất trình diễn; và đƣa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện
thực tế sản xuất nông nghiệp [8].
- Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển.
Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp đƣợc thế giới thừa nhận là:
+ Lúa lai: Trung Quốc nghiên cứu lúa lai từ năm 1964 và thành
công năm 1985. Đây là một thành công rực rỡ. Ngƣời ta nói sứ mạng lịch sử
của cuộc “Cách mạng xanh” đến nay đã đạt tột đỉnh. Khi mà sản xuất nông
nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dƣới 5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách
mạng xanh” đã giúp các nƣớc tăng năng suất sản lƣợng lúa bằng các giống
lúa thấp cây, chống đổ, chụi thâm canh tăng năng suất và sản lƣợng. Khi mà
năng suất lúa nhiều nƣớc đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8
tấn/ha thì hiệu qủa áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thƣờng không thể
có đƣợc. Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể năng cao năng
suất lúa nƣớc đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn [5].
+ Thú y và dụng cụ thú y: Công nghệ sản xuất dụng cụ thú y của
Trung Quốc phát triển mạnh, sản xuất số lƣợng nhiều, sử dụng tiện lợi, giá
hợp lý. Cũng nhƣ y học cổ truyền, khoa học thú y Trung Quốc có nhiều thành
tựu. Trung Quốc sáng tạo ra nhiều loại thuốc có tác dụng phòng chống dịch
hại ứng dụng trong chăn nuôi, tăng sức đề kháng, kích thích cho các vật nuôi
sinh trƣởng phát dục mạnh.
+ Nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của
Trung Quốc. Nuôi Trai lấy ngọc, nuôi các loài thủy sản quí hiếm nhƣ Ba ba,
Lƣơn, Ếch… Nhiều loài thủy sản Trung Quốc độc quyền sản xuất giống nhƣ
công nghệ nuôi Trai lấy ngọc, sản xuất cá Giò, cá Song
9


triều đình đảm nhiệm. Hà đê sứ là tổ chức chuyên chăm lo đắp đê phòng
chống lũ lụt. Đồn điền sứ là tổ chức chuyên lo việc quản lý đất đai. Khuyến
nông sứ chăm lo công tác giúp dân sản xuất nông nghiệp.
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Giai đoạn 1444-1493, Vua Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông có 17 lần ra
chiếu dụ khuyến nông để khuyến khích nông dân ra sức tăng gia sản xuất [4].
Năm 1778, Nguyễn Công Trứ là vị quan rất có công lao phát triển
nông nghiệp của đất nƣớc. Ông ra sức nạo vét kênh mƣơng, dẫn thủy nhập
điền, đắp đê phòng chống lũ lụt. Nguyễn Công Trứ còn thực hiện khẩu
hiệu “Khẩn ruộng hoang, an nghiệp dân nghèo”, ra sức quai sông lấn biển.
ông là ngƣời có công tạo lập nên 2 huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn,
Ninh Bình ngày nay.
Năm 1789, Vua Quang Trung chẳng những là nhà vua thực hiện nhiều
chính sách khuyến khích nông dân sản xuất nhƣ miễn, giảm thuế nông
nghiệp; tăng cƣờng nạo vét kên mƣơng dẫn thủy nhập điền; tăng cƣờng phát
triển chợ nông thôn; xóa bỏ ngăn sông cấm chợ Vì thế nông nghiệp thời
kỳ này phát triển khá mạnh [4].
Tháng 4 năm 1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn
cán bộ tại Việt Bắc, Ngƣời đã căn dặn các cán bộ ta trƣớc khi ra về: “Các
chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp,
chống giặc đói, diệt giặc dốt”, ngƣời ngƣời thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm” [4].
Những năm 1950-1957, chủ yếu năm 1955-1956 chúng ta thực hiện
cải cách ruộng đất (CCRĐ), thực hiện khẩu hiệu “Ngƣời cày có ruộng”. Đây
là cuộc cách mạng lớn chƣa từng có trong lịch sử nông nghiệp nƣớc ta. Tịch
thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ, 106.448 trâu bò cùng với
1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao động
(72,8% hộ nông thôn miền Bắc) tạo điều kiện cho nông dân tăng gia sản xuất [4].

Từ những năm 1963-1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ
đạo sản xuất nông nghiệp giúp các tỉnh. Các Đoàn chỉ đạo sản xuất nông
nghiệp là tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và
quản lý nhƣng hoạt động giúp các địa phƣơng. Hoạt động của Đoàn chỉ đạo
sản xuất nông nghiệp thực chất làm các công việc khuyến nông nhƣ giúp
các địa phƣơng thực hiện các chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc
về nông nghiệp, đƣa các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất. Phấn đấu
thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha [8]. Năm 1966, Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở
miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha. Năm 1974 toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha. Năm
1988 huyện Hƣng Hà (Thái Bình) đạt 10 tấn thóc/ha [8].
12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Giai đoạn 1964-1980, nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển,
đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân có nhiều nhƣng chủ
yếu do chiến tranh. Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu
tranh giải phóng miềm Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nƣớc.
Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn
duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa
quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản suất…
Trƣớc thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp
nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban CHTW Đảng:
“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngƣời lao động”, còn gọi là
“Khoán 100” đƣợc ra đời. HTX nông nghiệp chỉ quản lý 5 khâu: Đất - nƣớc -
giống - phân bón và bảo vệ thực vật còn toàn bộ các khâu khác khoán cho
nhóm và ngƣời lao động. “Khoán 100” đã có tác dụng to lớn khích lệ nông
dân sản xuất. Ngoài sản lƣợng nông sản phải nộp HTX còn lại ngƣời nông
dân đƣợc tự do sử dụng. Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét
rút kinh nghiệm: “Khoán 100” có nhiều ƣu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát

thành lập Trung tâm Khuyến nông. Năm 1992, để điều phối và lãnh đạo công
tác khuyến nông của đất nƣớc, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối
Khuyến nông”. Do nhu cầu của sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tƣớng Chính
phủ ra
Nghị quyết
13/CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến
lâm, Khuyến ngƣ của đất nƣớc [1].
1.2.2
Lịch sử ra đời và phát triển từ 1993 trở lại đây
Một loạt chính sách ra đời nhằm thúc đẩy công tác khuyến nông lâm
nhƣ
Nghi định
13/CP năm 1993 của Chính phủ về việc thành lập hệ thống
Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngƣ, Thông tƣ 02/LB-TT cụ thể hóa
việc thực hiện
Nghị định
13/CP ra đồi năm 1993. Nhƣ vậy cuối năm 1993
nƣớc ta chính thức có Hệ thống Khuyến nông Quốc gia.
Thực hiện
Nghị định
số 86/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003, Bộ Nông
nghiệp và PTNT đã ban hành
Quyết định
số 118/2003/QĐ-BNN ngày
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3/11/2003 về thay đổi cơ cấu tổ chức Cục Khuyến nông, thành lập Trung
tâm khuyến nông Quốc gia. Tiếp theo, thực hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

cá nhân trong và ngoài nƣớc có tham gia hoạt động khuyến nông trên lãnh thổ
Việt Nam. Tổ chức khuyến nông khác thực hiện các nội dung hoạt động
khuyến nông theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật liên
quan. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến
nông khác thuộc tổ chức, cá nhân nào do tổ chức, cá nhân đó quy định.
Từ 1989 đến nay dƣới sự lãnh đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự
tăng cƣờng hoạt động của Khuyến nông đã thúc đẩy nền nông nghiệp của
đất nƣớc ngày càng phát triển. Bình quân hàng năm tăng 1 triệu tấn lƣơng
thực và vƣơn lên từ nƣớc thiếu lƣơng thực đến đủ và thừa lƣơng thực. Nếu
nhƣ những năm trƣớc 1980 chúng ta còn thiếu lƣơng thực thì từ năm 1989
chẳng những chúng ta tự tức đủ lƣơng thực mà còn dƣ thừa bắt đầu xuất
khẩu lƣơng thực từ hơn 1 triệu đến gần 2 triệu tấn lƣơng thực/năm. Nhiều
năm gần đây chúng ta đã là nƣớc đứng vị trí thứ 2 xuất khẩu lƣơng thực
vào thị trƣờng thế giới. Hàng năm xuất khẩu vào thị trƣờng lƣơng thực thế
giới trên dƣới 4 triệu tấn/năm, năm 2005 xuất khẩu 5,2 triệu tấn gạo đạt kim
ngạch xuất khẩu 1,4 tỷ USD.
1.2.3. Kết quả hoat động và định hƣớng khuyến nông nƣớc ta hiện nay
1.2.3.1 Kết quả hoạt động
Hoạt động khuyến nông - khuyến ngƣ đã bám sát các chƣơng trình phát
triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật
mới, góp phần làm tăng sản lƣợng nông, lâm, ngƣ nghiệp trên cả nƣớc.
Nhiều giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản năng suất, chất lƣợng cao và
các biện pháp tổ chức sản xuất phù hợp đã đƣợc khuyến nông, khuyến ngƣ
chuyển giao tới bà con nông, ngƣ dân, góp phần tăng năng suất, chất lƣợng và
sản lƣợng nông, lâm, ngƣ nghiệp. Các chƣơng trình khuyến nông khuyến ngƣ
(KNKN) cũng đã quan tâm chỉ đạo theo định hƣớng tạo ra sản phẩm nông
16


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Nhạy bén trƣớc sự thay đổi về kinh tế xã hội để đáp ứng nhu cầu và
ƣu tiên trong sản xuất nông nghiệp của địa phƣơng. Phƣơng pháp tiếp cận và
cơ chế hoạt động khuyến nông đã từng bƣớc thay đổi và dần dần phân cấp về
địa phƣơng để tăng tính trách nhiệm và làm chủ ở địa phƣơng. Hoạt động
cung cấp dịch vụ khuyến nông có thu đã đƣợc đề cập đến và nghiên cứu cơ
chế vận hành nhƣ một xu thế phát triển tất yếu trong thời gian tới của khuyến
nông.
1.2.3.2 Định hướng thời gian tới
Xây dựng và phát triển hệ thống khuyến nông khuyến ngƣ Việt Nam
ngày càng năng động, vững mạnh để đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất và phát
triển nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu.
Tăng cƣờng mối liên kết giữa hệ thống khuyến nông khuyến ngƣ nhà
nƣớc và các tổ chức khuyến nông khuyến ngƣ ngoài nhà nƣớc nhằm huy động
và sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu tƣ cho khuyến nông theo phƣơng
châm xã hội hoá, thiết thực và hiệu quả.
Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ và các dịch vụ kỹ
thuật khác nhằm tạo sự đột phá về năng suất, chất lƣợng, hiệu quả trong phát
triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.
Xây dựng kế hoạch chiến lƣợc và giải pháp cụ thể trong công tác
khuyến nông - khuyến ngƣ phục vụ đa mục tiêu với các đối tƣợng hƣởng lợi,
các vùng miền khác, đặc biệt đối với chƣơng trình “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn” "Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn" và
"Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và giảm nghèo".
1.2.4. Chức năng nhiệm vụ của khuyến nông lâm của Việt Nam
Hệ thống khuyến nông lâm Việt Nam có những chức năng sau:

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn Kinh tế xã hội Đánh giá hiệu quả của từng mô hình Nhóm giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình khuyến lâm thành công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status