Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi gia súc và hiệu quả của mô hình hầm biogas trên địa bàn xã hoàng lâu, huyện tam dương, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường, các
thầy giáo, cô giáo đang giảng dạy trong trường và khoa đã dạy dỗ và truyền đạt
những kinh nghiệm quý báu cho em suốt những năm học ngồi trên giảng đường
đại học.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Hà Đình Nghiêm, người
đã tận tâm giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Banh lãnh đạo Trung tâm Tài nguyên và
bảo vệ môi trường cùng tập thể các cô, các chú, các anh, các chị đang công tác
tại phòng Công nghệ môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam
Dương, phòng địa chính – xây dựng xã Hoàng Lâu đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu trong đợt thực
tập tốt nghiệp vừa qua.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân những người
đã luôn theo sát và động viên em trong suốt quá trình theo học vào tạo mọi điều
kiện để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2014
Sinh Viên
Chu Thị Hương Ly
1
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BQ Bình quân
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐHNN Đại học Nông nghiệp Hà Nội
ĐVT Đơn vị tính
KSH Khí sinh học
FAO Tổ chức nông lâm thế giới
LPG Khí hóa lỏng

cơ gây nên bùng phát dịch bệnh. Chất thải chăn nuôi khi thải ra bị tích tụ bốc
mùi hôi thối, lắng đọng gây ách tắc dòng chảy, chất thải theo nguồn nước
ngấm xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người
dân.Vì vậy, phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường
chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường
sức khỏe các đàn giống.
Xuất phát từ yêu cầu đó, một số dự án, chương trình được triển khai tại
xã nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được tiến
hành trong đó có các dự án hỗ trợ xây dựng hầm biogas xử lý chất thải chăn
nuôi được triển khai. Tuy nhiên, việc quản lý, vận hành và sử dụng hầm
biogas như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, vừa đem lại lợi ích về kinh tế
3
vừa xử lý được chất thải, không gây ô nhiễm môi trường thứ cấp đang là vấn
đề khó khăn đối với của người dân.
Ở xã Hoàng Lâu, vấn đề môi trường nói chung và trong chăn nuôi nói
riêng thì môi trường mới chỉ được quan tâm trong vài năm trở lại đây khi mà
sự phát triển chăn nuôi hàng hoá ngày càng gia tăng và dân số phát triển mạnh
thu nhỏ khoảng cách giữa chuồng trại và khu dân cư. Môi trường và phát triển
hiện nay là hai vấn đề không thể tách rời nhau. Sự phát triển nhanh chóng của
ngành chăn nuôi gia súc đang đe doạ môi trường sống của chúng ta. Việc thải
ra các loại chất thải đa dạng, độc hại đã và đang là mối đe doạ lớn cho hệ sinh
thái và con người đồng thời làm cho nó trở nên bức bách và cần thiết phải có
biện pháp khắc phục. Bất kỳ hộ chăn nuôi nào đều phải có trách nhiệm xử lý
nguồn chất thải trước khi xả ra môi trường.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, được sự phân công của ban chủ
nhiệm Khoa Môi Trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: Th.S.Hà Đình
Nghiêm, tôi thực hiện đề tài: “
 !"#
$%&'()*+,-)./0123
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài


5
Công nghệ biogas là công nghệ sử dụng các quá trình phân huỷ các
chất hữu cơ (như: phân động vật, nước thải của các lò mổ) trong môi trường
yếm khí. Sản phẩm của quá trình phân huỷ kỵ khí là hỗn hợp các khí (gọi là
khí sinh học) và bã thải (Nguyễn Quang Khải, 2009).

Thành phần KSH tuỳ thuộc vào loại nguyên liệu tham gia vào quá trình
phân giải và các điều kiện môi trường trong quá trình đó. Nhìn chung thành phần
của KSH gồm rất nhiều chất, có thành phần chủ yếu là CH
4
và CO
2
(Cục Chăn
nuôi, 2011).
Bảng 2.1. Thành phần của khí sinh học
Loại khí Tỷ lệ (%) Loại khí Tỷ lệ (%)
Metan CH
4
50 – 70 Hidro H
2
0 – 3
Cacbonic CO
2
30 – 45 Oxy O
2
0 – 3
Nito N
2
0 – 3 Hidro sunfua H

v t trng so vi khụng khớ l
0,94. Nh vy KSH nh hn khụng khớ, nhit tr ca KSH ch yu c xỏc
nh bng hm lng metan trong thnh phn ca nú. Vi hm lng metan
60% thỡ KSH cú nhit tr l 5.146 Kcal/m
3
(Nguyn Quang Khi, 2009
5343:3DCE*!FGE"H <
-.%/)
Hỡnh 2.1: Cu to hm biogas
Hin nay cú rt nhiu kiu xõy dng hm biogas khỏc nhau: hm chung
vi bỡnh gas, hm cú bỡnh gas ni, hm cú bỡnh gas ri, loi xõy bng gch, loi s
dng bng nha, nhng cu to chung ca hm cú ba phn chớnh (Nguyn Quang
Khi, 2009):
- H thng np nguyờn liu dn cht thi t chung tri chn nuụi
n hm khớ. Tu thuc vo tng mụ hỡnh biogas m h thng np cú th
thng qua mỏng dn hoc dn trc tip.
- Hm phõn hu l b phn chớnh ca hm, ni cha hn hp vt cht v
Mặt đất
Hố thu phân
Bể áp lựcChẹn đá
ống vào
Cửa thăm
7
nước. Tại đây xảy ra hai giai đoạn của quá trình lên men, sản phẩm tạo thành là
khí biogas.
- Bể thuỷ lực (bể áp) là một bộ phận chứa nguyên liệu đã phân huỷ rồi
xả ra ngoài, đồng thời đóng vai trò điều áp (Nguyễn Quang Khải, 2009)
-012)/%!
Khi một lượng sinh khối được lưu giữ trong môi trường kín vài ngày sẽ
chuyển hóa và sản sinh ra các chất khí (khí sinh học) có khả năng cháy được

Protein
Cacbonhydrat
Chất béo
Axit acetic
Axit
HC yếu
Rượu
Axit acetic
Biogas CH
4

và CO
2
1 2 3
CH
3
COOH; Rượu và các axit hữu cơ yếu.
-3 !)/7 4%
Trong bước này vi khuẩn acetogleic sẽ chuyển hóa rượu và các axit
hữu cơ yếu thành các sản phẩm sau: Hidro, H
2
O, CO
2
; Axit acetic CH
3
COOH.
-3 !)/%/)&
'
Trong giai đoạn cuối cùng của quá trình chuyển hóa, axit acetic được
hình thành ở bước 1 và 2 sẽ chuyển hóa thành CH

tiểu) của gia súc, gia cầm và chất thải của người,…
Các loại chất thải này đã được xử lý sơ bộ trong bộ máy tiêu hoá của
9
động vật nên dễ phân giải và nhanh chóng tạo khí sinh học. Tuy vậy, thời gian
phân giải của phân dài (khoảng 2 – 3 tháng), tổng sản lượng khí thu được từ 1
kg phân không lớn. Chất thải của gia súc như trâu, bò, lợn phân giải nhanh
hơn chất thải của gia cầm và chất thải của người, nhưng sản lượng khí của
chất thải gia cầm và chất thải người lại cao hơn.
- Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật: Các nguyên liệu thực vật gồm lá cây
và cây thân thảo như phụ phẩm cây trồng (rơm, rạ, thân lá ngô, khoai, đậu,…), rác
sinh hoạt hữu cơ (rau, quả, lương thực bỏ đi), các loại cây xanh hoang dại (rong,
bèo, các cây phân xanh). Gỗ và thân cây già rất khó phân giải nên không dùng làm
nguyên liệu được.
Nguyên liệu thực vật thường có lớp vỏ cứng rất khó bị phân giải. Để quá
trình phân giải kỵ khí diễn ra được thuận lợi, người ta thường phải xử lý sơ bộ
(cắt nhỏ, đập dập, ủ hiếu khí) trước khi nạp chúng vào hầm biogas để phá vỡ
lớp vỏ cứng và tăng diện tích tiếp xúc cho vi khuẩn tấn công. Thời gian phân
giải của nguyên liệu thực vật thường dài hơn so với chất thải động vật
2.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
Luật bảo vệ môi trường 2005
89'::;<= - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải
công nghiệp
QCVN 05:2009/BTNMT – Quy chuẩn về chất lượng không khí xung quanh.
QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn về một số chất độc hại trong
không khí xung quanh.
QCVN 01-15:2010/BNNPTNT - Quy chuẩn Quốc gia điều kiện trại
chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
QCVN 08:2008 - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng môi
trường nước mặt
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ

11
Hình 1.3. Mười nước có sản lượng lợn lớn nhất thế giới năm 2009 (con)
<))!@%C??::D!EFA?
:B?%@%$)<GHD::#
Cũng theo đánh giá FAO, Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu
dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn nuôi ở Việt Nam, giống như các
nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu. Trong những
năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng kể. Hiện nay,
ngành chăn nuôi nước ta có sản lượng thịt lợn đứng thứ nhất khu vực Đông
Nam Á (chiếm 42,2%), thứ 2 châu Á (chiếm 5%), thứ 6 thế giới (chiếm
2,8%). Sản lượng thịt vịt đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á (chiếm 22,4%).
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp của nước ta đạt
khá, giai đoạn 2006 – 2010 tốc độ chăn nuôi đạt 8,5%/năm, trồng trọt đạt
4,1%/năm (Công Phiên, 2013).
Bảng 2.23 Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam hàng năm
/+LMN
Giai đoạn
Ngành
4OPQR4OOS
4OOSR
4OOQ
4OOTR5SSU
4OOQR
5SSU
5SSQR
5S4S
Nông nghiệp khác 3,4 6,0 5,5 5,2 4,1
Trồng trọt 3,4 6,1 5,4 5,2 5,5
12

Lợn
")#
Gia cầm
%+)#
2000 2.897,2 4.127,9 126,5 543,9 20.193,8 196,1
2001 2.807,9 3.988,7 113,4 571,9 21.800,1 218,1
2002 2.814,5 4.062,9 110,9 621,9 23.169,5 233,3
13
2003 2.834,9 4.394,4 112,5 780,4 24.884,6 254,6
2004 2.869,8 4.907,7 110,8 1022,8 26.143,7 218,2
2005 2.922,2 5.540,7 110,5 1314,1 27.435,0 219,9
2006 2.921,1 6.510,8 87,3 1525,3 26.855,3 214,6
2007 2.996,4 6.724,7 103,5 1777,7 26.560,7 226,0
2008 2.897,7 6.337,7 121,2 1483,4 26.701,6 248,3
2009
2.886,6 6.103,3 102,2 1375,1 27.627,7 280,2
2010
2.877,0 5.808,3 93,1 1288,4 27.373,3 300,5
IJK0D0%K0::NO:#
>""@%C5 ?P9% 
Ngày nay vấn đề ô nhiễm môi trường trong nông nghiệp ngày càng
được quan tâm nhiều, nhất là ngành chăn nuôi. Chất thải chăn nuôi có mùi hôi
thối đặc trưng, chứa nhiều chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh.
Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay, phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn
chiếm tỷ lệ lớn, vì vậy việc xử lý và quản lý chất thải chăn nuôi ngày càng
khó khăn. Hiện nước ta có gần 9 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và
khoảng 18 nghìn trang trại chăn nuôi tập trung nhưng chỉ có 8,7% số hộ xây
dựng hầm biogas và chỉ có 0,6% số hộ gia đình cam kết bảo vệ môi trường.
Nhiều báo cáo nghiên cứu đều đã khẳng định là hầu hết các chất thải
trong chăn nuôi đều chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường. Số phân

;#
Phân Nước tiểu
Bò 5 4 – 5 15 – 20
Trâu 5 4 – 5 18 – 25
Lợn 2 3 1,2 – 4,0
Dê/ cừu 3 1 – 1,5 0,9 – 3,0
Gà 4,5 - 0,02 – 0,05
Người 1 2 0,18 – 0,34
 !"#
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi
và khẩu phần ăn. Đối với gia súc ở các lứa tuổi khác nhau thì lượng phân thải
ra khác nhau. Theo Hill và Tollner (1982), lượng phân thải ra trong một ngày
đêm của lợn có khối lượng dưới 10 kg là 0,5 – 1 kg, từ 15 – 40 kg là 1 – 3 kg
phân, từ 45 – 100 kg là 3 – 5 kg. Như vậy lượng chất thải rắn biến động rất
lớn và còn phụ thuộc vào cả mùa vụ trong năm (Bùi Hữu Đoàn, 2011).
Bảng 2.5. Lượng phân thải ra ở gia súc, gia cầm hàng ngày
Loại gia súc, gia cầm
Phân tươi
;#
Tổng chất rắn
T%FU#
Bò sữa (500kg) 35 13
15
Bò thịt (400kg) 25 13
Lợn nái (200kg) 16 9
Lợn thịt (50kg) 3,3 9
Cừu 3,9 32
Gà tây 0,4 25
Gà đẻ 0,12 25
Gà thịt 0,1 21

trong đó vi khuẩn thuộc họ W%$+)( %$+ $ chiếm đa số với các giống điển
hình như W$+ DX 1)$11 DX$11 DH+)%$D1$($11 . Trong 1 kg
16
phân có chứa 2.000 – 5.000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Y +
DZ$) )%)D+)$ 1(Nguyễn Thị Hoa Lý, 2005).
(#FA%C
Nước thải chăn nuôi là một loại nước thải rất đặc trưng và có khả năng
gây ô nhiễm môi trường cao. Lượng nước thải ra lớn, lượng nước sử dụng cho
nhu cầu uống, rửa chuồng và tắm cho lợn là 30-50 lít nước/con/ngày đêm (Hồ
Thị Kim Hoa và cs, 2005). Nước thải có mùi hôi thối, khó vận chuyển đi xa
để sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Lượng
nước thải quá lớn, không thể sử dụng hết cho diện tích đất canh tác xung
quanh, do đó thường được thải trực tiếp ra môi trường.
Nước thải chăn nuôi gồm hỗn hợp phân, nước tiểu và nước rửa chuồng.
Vì vậy, nước phân chuồng rất giàu chất dinh dưỡng và có giá trị lớn về mặt
phân bón. Nước phân chuồng nghèo lân, giàu đạm và rất giàu Kali. Đạm
trong nước phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: urê, axit uric và axit
hippuric, khi để tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào đất thì bị
VSV phân giải axit uric và axit hippuric thành urê và sau đó chuyển thành
amoni carbonat (Bùi Hữu Đoàn, 2011).
Trong nước thải chăn nuôi, hàm lượng BOD rất cao khoảng trên 3.000
mg/l, hàm lượng nitơ trên 200, hàm lượng chất lơ lửng và số lượng vi sinh vật
cũng rất cao. Theo Bộ NN&PTNT (2013) hàng năm đã có tới khoảng 36 triệu
tấn nước tiểu vật nuôi được thải ra, chưa kể hàng chục triệu tấn nước thải sau
tắm và rửa chuồng trại nữa.
Bảng 2.7. Tổng lượng nước thải chăn nuôi gia súc giai đoạn 2009 – 2011
V9+%.
Năm
Tổng lượng nước thải
Tổng cộng

2.3.2. Lịch sử phát triển của công nghệ biogas
>+0%@A
Cuối những năm 1890, đánh dấu sự xuất hiện của một loại bể chứa
phân được đậy kín bởi việc đăng ký bản quyền của Louis Mouras (Pháp). Đến
năm 1930, phân huỷ hiếm khí các phế thải nông nghiệp để tạo ra khí gas bắt
đầu xuất hiện. Phong trào này phát triển mạnh ở Pháp và Đức vào những năm
1940. Những năm 1960, quá trình ủ lên men tạo khí gas chỉ được chú trọng áp
dụng để xử lý phân động vật. Nhưng đến năm 1970 khi cuộc khủng hoảng
năng lượng xảy ra đã tạo tiền đề cho việc phát triển phân huỷ yếm khí phân
thải để sản xuất ra khí đốt (Nguyễn Quang Khải, 2009).
Tuy nhiên, những năm sau đó mối quan tâm dành cho công nghệ
biogas bị suy giảm do giá thành của nhiên liệu tạo ra thấp và do gặp phải một
số vấn đề kỹ thuật với bể ủ biogas. Mối quan tâm này chỉ thực sự được phục
hồi vào những năm 1990, được đánh dấu bởi một số công trình:
+ Chương trình AgSTAR của Mỹ về xử lý chất thải và sản xuất năng
18
lượng: kết quả là 75 hệ thống ủ cho các trại nuôi lợn và trại sản xuất bơ sữa.
+ Dự án NCSU Smithfield, năm 2001 ở trang trại Barham về khôi phục tài
nguyên sinh học - Xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng biogas ở nhiệt độ thường.
+ Cuốn sách Smithfield Belt System - Ủ biogas cho chất thải khô, ở
nhiệt độ cao của Humenik và cộng sự năm 2004.
Riêng Trung Quốc, tính tới cuối năm 1988 đã có 2.719 công trình khí
sinh học cỡ lớn và trung bình đã được xây dựng tại các trại chăn nuôi, nhà
máy chế biến thực phẩm, khu dân cư (trung bình tăng 300 công trình/năm).
Hàng năm sản xuất 20 triệu m
3
khí sinh học, cung cấp cho 5,59 triệu gia đình
sử dụng và phát điện với công suất 866kW, sản xuất thương mại 24.900 tấn
phân bón và 7.000 tấn thức ăn gia súc (Nguyễn Quang Khải, 2009).
Ở Cộng hoà Liên bang Đức việc xây dựng các công t•nh khí sinh học

40 tỉnh thành (Nguyễn Quang Khải, 2009).
Thời kỳ 1995 – 1998, trên địa bàn 16 tỉnh miền Bắc và miền Trung,
VACVINA đã triển khai chương trình phát triển biogas, thông qua các hoạt
động: Xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn đào tạo cán bộ kỹ thuật cho địa
phương, hỗ trợ kỹ thuật cho các gia đình nông dân xây dựng hầm biogas.
Năm 1996, chương trình vệ sinh môi trường và nước sạch quốc gia đã
phát động phong trào biogas, hàng trăm bể biogas bằng các loại vật liệu khác
nhau như gạch, xi măng, composite đã được lắp đặt ở một số tỉnh như Hà
Tây, Nam Định. Loại bể composite có nhiều ưu điểm, tuy nhiên giá thành đắt
nên không khả thi với đại đa số nông dân.
Từ những năm 1998, phong trào chăn nuôi phát triển mạnh trên cả
nước cùng với nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống và nhận thức về cải
thiện điều kiện vệ sinh môi trường ở nông thôn, công nghệ biogas trở nên nổi
tiếng và được đón nhận ở mọi nơi. Cho đến thời điểm này đã có khoảng
20.000 bể biogas trên phạm vi cả nước, trong đó có 12.000 bể nhựa. Tuy
nhiên, so với tỷ lệ nông thôn chiếm tới 75% dân số Việt Nam (80 triệu người)
thì số lượng bể Biogas này vẫn còn khiêm tốn.
Từ năm 1993 đến 2003 công nghệ bắt đầu được phát triển mạnh mẽ với
nhiều kiểu biogas mới. Thiết bị dạng túi dẻo P.E theo mẫu của Colombia
được phát triển nhờ dự án SAREC-S2-VIE22 do Viện chăn nuôi, Hội làm
vườn (VACVINA), Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, Đại học nông lâm TP.
20
HCM triển khai.
- Từ những năm 2003 - 2005, dự án hợp tác Hà Lan - Việt Nam với số
vốn hơn 2,5 triệu Euro tài trợ cho xây dựng bể biogas quy mô hộ gia đình ở
12 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đến năm 2006 dự án mở rộng triển khai ở
thêm 8 tỉnh nữa. Tiếp theo đó Chính phủ Hà Lan sẽ viện trợ không hoàn lại
cho Việt Nam 3,1 triệu euro để xây dựng thêm 140.000 công trình biogas ở 50
tỉnh, thành phố trên cả nước trong giai đoạn 2007 – 2012.
Cho đến nay, ở Việt Nam có khoảng 222.000 hầm khí sinh học quy mô

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
V1->>=>WF
a) Số liệu thứ cấp: Nguồn số liệu được thu thập từ các phòng ban của
huyện (Phòng TNMT, NN&PTNT, Thống kê,…), các báo cáo của xã về phát
triển kinh tế xã hội, quy hoạch, kế hoạch và các tài liệu liên quan đến tình
hình chăn nuôi và việc triển khai áp dụng mô hình hầm biogas; các số liệu từ
sách, báo,…
b) Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng cách khảo sát, điều tra, phỏng vấn các
đối tượng thông qua phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi viết và đánh dấu đã
được chuẩn bị cho mục đích nghiên cứu.
- Đối tượng điều tra: Các hộ chăn nuôi đã xây dựng hầm biogas được
dự án hỗ trợ kinh phí xây dựng
- Số mẫu điều tra: Tiến hành điều tra 100 hộ ở 10 thôn: thôn Thượng,
thôn Đoàn Kết, thôn Liên Kết, thôn Lá, thôn Mới, Thôn Lau, thôn Da, thôn
Vỏ, Thôn Đồng Ké, thôn Lực Điền thuộc xã Hoàng Lâu.
V1->>"XA"#
22
Điều tra thực địa là hình thức điều tra mà tác giả sẽ trực tiếp tới các
nông hộ, nơi có các hầm biogas để xem xét, xác minh tính trung thực, chính
xác của thông tin do các bên cung cấp, để lấy mẫu phân tích tại thực địa. Từ
đó có được những kết luận chính xác với tình hình thực tế.
V1->>>(8>8YFZ8
Từ các số liệu thu thập được, tính toán và đánh giá hiệu quả về các mặt
kinh tế, xã hội và môi trường mà dự án mang lại, lượng hoá được lợi ích – chi
phí của việc xây dựng hầm biogas.
V1->>$[FGWF
 Trên cơ sở các số liệu đã thống kê, thu thập được, tôi tiến hành xử lý
các số liệu điều tra, thu thập được bằng phần mềm Excel trên máy tính.

PHẦN 4

+ Đất y tế: 0,11 ha.
+ Đất giáo dục: 1,93 ha.
+ Đất thể thao: 0,60 ha.
+ Đất di tích: 0,36 ha
- Đất chuyên dùng khác: 14,05 ha.
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 0,50 ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 6,21 ha
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 7,34 ha
*Đất chưa sử dụng: 4,02 ha.
I343:3J](FA3
Tổng số hộ (theo số liệu điều tra NN,NT và thuỷ sản năm 2011) =
1.707 hộ = 7.257 khẩu, số người trong độ tuổi lao động = 4.112 người.
24
Là một xã thu nhập chủ yếu của nhân dân từ sản xuất nông nghiệp,
nguồn nhân lực dồi dào, có truyền thống cần cù chịu khó. Với điều kiện tự
nhiên, xã có đường tỉnh 305 chạy dọc qua xã, và tuyến đường Hợp Thịnh,
Đạo Tú chạy qua đó là những tuyến giao thông thuận lợi và thế mạnh của
Hoàng Lâu để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Nhưng
trong những năm gần đây đối với Hoàng Lâu chưa tận dụng triệt để các lợi
thế để phát triển như quy hoạch vùng sản xuất cây rau an toàn có giá trị kinh
tế cao, chưa chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các
khu công nghiệp góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Từ năm 2000 đến nay, hoà cùng công cuộc đổi mới của Đảng, thực
hiện chủ trương của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, huyện uỷ, UBND huyện. Đảng bộ
và nhân dân xã Hoàng Lâu đoàn kết một lòng quyết tâm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong giai đoạn 2005-2010
bên cạnh những thuận lợi, còn nhiều những khó khăn do tác động của khủng
hoảng tài chính thế giới, tình hình trong nước lạm phát, giá cả biến động
thường xuyên, vấn đề lao động việc làm gặp không ít khó khăn làm ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status