Báo cáo nghiên cứu khoa học: "NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC QUYỀN TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP ĐƯỢC GIAO CHO HỘ GIA ĐÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TẠI XÃ PHÚ VINH, HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ" - Pdf 19

15

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 63, 2010 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC QUYỀN TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP
ĐƯỢC GIAO CHO HỘ GIA ĐÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
TẠI XÃ PHÚ VINH, HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Huỳnh Văn Chương
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Xã vùng cao Phú Vinh, huyện A Luới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã điển hình của việc thực
hiện chính sách giao một phần diện tích đất rừng sản xuất nghèo kiệt về hộ giao đình hoặc cộng
đồng quản lý và sử dụng nhằm đa dạng hoá chủ thể quản lý và nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận cho
xã hội từ đất lâm nghiệp, tạo việc làm, tạo nghề lâm nghiệp và tăng thu nhập cho người dân
được giao đất và bền vững vùng đồi núi. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy việc
thực hiện chuyển giao còn kéo dài và gặp nhiều lúng túng giữa các bên liên quan. Mặc dù các
chính sách vĩ mô của Nhà nước về việc giao đất lâm nghiệp là khá rõ ràng nhưng việc thực hiện
ở cấp địa phương vẫn chưa cụ thể. Cách hiểu và thực hiện các bước trong quá trình giao đất
vẫn còn có sự chồng chéo giữa các đối tượng nhất là giữa Ban Quản lý rừng phòng hộ và chính
quyền xã, huyện. Người dân của vùng nghiên cứu đang rất mong chờ từ phía chính quyền địa
phương có được một qui trình, phương thức giao đất và định hướng qui hoạch sử dụng đất thật
cụ thể và tạo sự công bằng, tiến đến ổn định về qui mô diện tích để họ có thể đầu tư sản xuất và
tạo nên một công việc ổn định, có thu nhập thật sự.
Từ khoá: Đất lâm nghiệp, Chuyển giao, “Bó quyền”, Chính quyền địa phương.

1. Đặt vấn đề
Việc giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân quản lý khai thác và sử
dụng vào mục đích nông lâm nghiệp đã được thực hiện trong nhiều năm qua trên khắp
cả nước (Nghị định 163/1999/NĐ-CP). Tiến độ thực hiện việc giao đất giao trên các
vùng miền khác nhau của cả nước cũng rất khác nhau, trong đó vùng đồi núi miền

Bảng 1. Thông tin cơ bản của 4 thôn trong xã
Nội dung Phú Thượng Phú Xuân Phú Thuận Phú Thành
Vị trí địa lý
Khoảng cách đến TT huyện (km)

10 8 7 6
Khoảng cách đến TT tỉnh (km) 70 67 66 65
Qui mô hộ
Số hộ 96 53 60 55
Qui mô hộ 5 4 4 4
Số lao động/hộ (trung bình) 2 2 2 2
Nhóm dân tộc Pacô Kinh Kinh Kinh
Cơ cấu lãnh đạo thôn
Theo hệ thống nhà nước
Với cơ cấu năm người trong nhóm lãnh đạo: trưởng và phó
thôn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, công an thôn.
Theo tập tục truyền thống
Thôn Phú Thượng: có một Già làng
03 thôn còn lại: không có Già làng
17

Đất nông nghiệp
TB diện tích đất trồng
cạn/hộ(ha)
(vườn đồi và vườn nhà)
0,5 1,0 1,0 1,0
TB đất lúa nước/hộ (m2) 300 0,0 0,0 0,0
Cây trồng chính Lúa nước và lúa cạn, sắn, cây ăn quả.
Nguồn thu nhập phi nông nghiệp Lương
Làm thuê,

lâm nghiệp đến hộ gia
đình quản lý và sử dụng
Đất lâm
nghiệp đã và
đang giao
Khó khăn, thách
thức và sự xung đột
Đ


xu

t gi

i pháp đ


s


d

ng đ

t
lâm nghiệp được giao hiệu quả
18

2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
2.3.1. Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập những nghiên cứu về các vấn đề

Trong đó:

01 Đất sản xuất nông nghiệp 73.44

02 Đất lâm nghiệp 2414.62

19

03 Đất phi nông nghiệp 196.62

04 Đất chưa sử dụng 257.28

Nguồn: UBND xã Phú Vinh, 2009

3.1.2. Thực trạng quá trình thu hồi đất lâm nghiệp về từ Ban QLRPH giao cho
xã Phú Vinh và hộ gia đình quản lý
Theo ý kiến người dân thì trước đây các tài nguyên thiên nhiên của xã Phú Vinh
như: rừng, sông suối, ao hồ, đất nông lâm nghiệp, các vùng đất hoang hoá được người
dân hiểu và mặc nhiên thừa nhận như là tài sản chung của cộng đồng, sự quản lý và khai
thác và chiếm giữ các tài nguyên trên đều dựa vào sự tự phát của từng dòng họ, của hộ
gia đình và trên cơ sở luật tục và tập quán bản địa. Qua phỏng vấn những người lớn tuổi
họ đều trả lời ở thời điểm trước năm 1976 họ không phải chịu bất kỳ một chính sách
nào của Nhà nước trong quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên để mưu sinh, việc

20

sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo hình thức du canh và phát đốt, hái lượm, khai thác
các sản phẩm trong rừng để mưu sinh. Khi Nhà nước bắt đầu thành lập các Lâm trường
quốc doanh (sau năm 1976), thì các tài sản chung trên đất lâm nghiệp thuộc về Nhà
nước. Tại xã Phú Vinh, số liệu thu thập được cho thấy diện tích đất chuyển về cho Lâm

giao cho xã Phú Vinh thì thực tế việc sử dụng đất có những thay đổi lớn. Cụ thể, dù
chưa ra quyết định giao về mặt pháp lý, chưa đo đạc và cắm mốc để phân định ranh giới
chính thức đến hộ gia đình nhưng nhiều hộ gia đình trong xã đã tự lập các ranh giới
phân chia đất của mình bằng các hàng rào hay tự lấn chiếm trồng cây để làm dấu mốc
và xem như đất của mình.
Theo chủ trương chung của xã, việc giao đất đến hộ gia đình theo thứ tự ưu tiên
những hộ gia đình nào chưa có đất sản xuất trong xã, tiếp đến là hộ nghèo đang được
21

hưởng chính sách theo Nghị định 134/CP của Chính phủ, tiếp đến là các hộ cận nghèo
và mỗi hộ được giao đất tối đa không quá 1,5 ha. Đó là chủ trương đúng và rất được
người dân ủng hộ, Tuy nhiên trên thực tế, chủ trương này chưa thực hiện thì đất đã bị
các hộ gia đình lấn chiếm và khai hoang tự phát để trồng cây lâm nghiệp, đào ao thả cá,
làm nhà tạm để chiếm giữ đất. Nguyên nhân để xảy ra hiện tượng trên thì có nhiều, (1)
về phía Ban quản lý rừng phòng hộ bàn giao không dứt điểm tổng số diện tích đã được
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định; (2) đối với UBND huyện chưa kịp thời đi
trước một bước trong việc đo vẽ và lên phương án phân lô và phương án qui hoạch
trồng cây, chưa có những tác động mạnh và tích cực để Ban QLRPH bàn giao dứt điểm
tổng diện tích phải chuyển giao, thiếu sự hỗ trợ về mặt tài chính và kỹ thuật giúp UBND
xã tiến hành các bước thu hồi và giao đất; (3) đối với UBND xã chưa chặt chẽ trong
việc thực hiện các văn bản pháp qui và quyết định của chính quyền cấp trên, thiếu lực
lượng để quản lý và triển khai các bước trong quá trình giao đất đến hộ gia đình; (4) đối
với người dân đất đai có tính nhạy cảm và có khả năng sinh lợi nên người dân nào cũng
muốn có nhiều đất vì vậy họ cố lấn chiếm, tâm lý người dân là lấn chiếm trước rồi sẽ
được nhà nước hợp thức hoá và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau.
Qua số liệu điều tra cho thấy, người dân rất đồng tình và mong muốn có thêm
đất được giao từ Ban QLRPH nhưng qui trình và tiến độ thực hiện là còn chưa rõ ràng
và rất chậm, đất sau khi bàn giao không lên phương án giao đất sớm nên người dân lại
tự lấn chiếm hết và chính quyền địa phương cũng không có biện pháp cứng rắn để cản
trở, trong khi Ban QLRPH họ xem như đã hết trách nhiệm sau khi thu hoạch cây lâm

năm 2005 đến nay. Quyền khai thác đất lâm nghiệp nếu đã được giao là quyền chính
thống và hợp pháp trong 9 quyền mà Nhà nước qui định khi cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Nhưng đất lâm nghiệp đang chuyển giao và chưa đuợc chính quyền địa
phương công nhận thì quyền khai thác từ phía người dân là không chính thống và không
hợp pháp, vì về mặt pháp lý muốn khai thác hợp pháp đất lâm nghiệp này người dân
phải làm đơn xin phép và được nhà nước phân chia trước khi khai thác, nhưng quyền
này lại được người dân hiểu là quyền đương nhiên họ có được mà không cần phải xin
phép, vì theo họ đất lâm nghiệp chưa được chuyển giao là đất chung của thôn, xã và ai
có nguồn lực thì khai thác được nhiều để mưu sinh.
3.2.3. Quyền quản lý:
Quyền quản lý đất lâm nghiệp ở cấp nhà nước đó là quản lý việc đo đạc, lập bản
đồ, quản lý việc sử dụng theo qui hoạch Nhà nước, đối với công tác địa chính, việc quản
lý trên giấy tờ là đến từng thửa đất nông nghiệp. Đối với người dân, họ hiểu trách nhiệm
quản lý trực tiếp thửa đất là của họ, việc quản lý theo ranh giới đã được người dân làm
dấu phân chia ranh giới bằng các bờ rào, bờ ao… Quyền quản lý là quyền chính thống
và hợp pháp cả đối với nhà nước và hộ gia đình. Tuy nhiên, đối với người dân, việc
quản lý của nhà nước hay không ít ảnh hưởng đến thửa đất của họ vì họ nghĩ rằng đất
đai của họ sau khi đã chiếm để trồng cây nông lâm nghiệp không ai có quyền xâm
chiếm và dù nhà nước có qui hoạch hay cho phép sử dụng là 20-50 năm thì đó mãi mãi
là mảnh đất của họ và con cái họ, cách suy nghĩ này phần nào hợp pháp nhưng mặc
khác sẽ gây rất nhiều khó khăn nếu Nhà nước muốn thu hồi đất để chuyển mục đích
khác hoặc chuyển cho hộ khác.
3.3.4. Quyền loại trừ:
Đối với Nhà nước, họ có quyền cản trở khi người sử dụng đất nông lâm nghiệp
sai mục đích. Tuy nhiên quyền loại trừ này trên địa bàn xã Phú Vinh là rất khó thực hiện
từ phía nhà nước, vì hầu hết người dân khi chuyển mục đích sử dụng, chuyển quyền sử
dụng cho người khác đều không thông qua chính quyền cấp xã và huyện, trong khi cán
23

bộ chuyên trách của xã về đất đai không thể theo dõi được hết những diễn biến xảy ra

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3.4. Bài học kinh nghiệm và các biện pháp đề xuất từ trường hợp xã Phú Vinh
- Tiến trình thực hiện việc giao đất lâm nghiệp từ nhà nước về hộ gia đình phải
làm đồng bộ và đúng qui trình hướng dẫn, nếu bỏ qua hoặc làm tắt các bước sẽ dẫn đến
sự thiếu minh bạch và dễ bị người dân nghi ngờ vào phương án giao đất và dễ xảy ra
tranh chấp.
- Việc đo đạc, lên phương án giao đất, công khai bản đồ giao đất, định hướng sử
24

dụng đất phải đi trước một bước trước khi có chủ trương và thông báo cho dân. Nếu
việc này không thực hiện được thì các gần như phương án giao đất bị phá vỡ và rất lúng
túng.
- Việc lắng nghe, bàn bạc và thống nhất với dân thường xuyên là điều kiện tiên
quyết để đi đến thống nhất phương án giao đất và tạo sự công bằng.
- Đất đai là vấn đề nhạy cảm nên các bên liên quan cần nhận thức đúng và cần
đặt quyền lợi cộng đồng lên trên hết. Giữa bên giao đất và bên nhận bàn giao đất cần
phải bàn bạc và thống nhất cách giao kịp thời, đúng diện tích, ranh giới, pháp lý.
- Việc định hướng sử dụng đất hợp lý để giúp người dân biết cách khai thác và
sử dụng hiệu quả sau chuyển giao là việc làm song song với tiến trình chuyển giao.
- Việc bàn giao diện tích sẽ chuyển giao cho hộ gia đình cần phải làm đồng thời
trên thực địa và trên bản đồ địa chính, phải có sự bàn giao ranh giới cụ thể và cắm mốc
phân định ranh giới.
- Đối với UBND xã cần sớm có các biện pháp để cản trở việc tiếp tục xâm
chiếm đất chưa được giao và xâm chiếm đất chung cho mục đích cá nhân.
4. Kết luận
- Chính sách giao đất lâm nghiệp về hộ gia đình và cộng đồng nhằm đa dạng hoá
chủ thể quản lý là một chính sách đúng và hợp với mong muốn của người dân khi diện
tích đất canh tác hiện tại của mỗi hộ là rất nhỏ và manh mún.
- Việc giao đất lâm nghiệp về hộ gia đình để quản lý và sử dụng chưa thực hiện
dứt điểm, chưa mang lại hiệu quả kinh tế và tính bền vững mặc dù quyết định giao đất

[8]. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế, Hướng dẫn số 30/HD-TN &MT
của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế về việc giao đất nông lâm
nghiệp, 2008.
[9]. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Quyết định 1784/QĐ_UBND của UBND Tỉnh TT Huế về
việc thu hồi đất của BQLRPH A Lưới giao cho nhân dân có đất để sản xuất, 2008.

STUDY OF THE STATUS AND RIGHTS ON TRANSFERRING FOREST LAND
TO THE HOUSEHOLDS FOR USING AND MANAGEMENT AT PHU VINH,
A LUOI DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE
Huynh Van Chuong
College of Agriculture and Forestry, Hue University
SUMMARY
The upland commune of Phu Vinh, A Luoi district, Thua Thien Hue province is a typical
example of the policy of transfering part of forest land to individual households or the
community in order to diversify the management, generate more profit for the society from forest
26

land, create jobs, increase income for the people and improve the sustainability of the forest
land. However, research results showed that the actual implementation of the policy took much
time and created a lot of confusion among the stakeholders. Although the State's policies on the
transfer of forest land is quite clear, the implementation at the local level is not specific. How
different parties understand and implement the steps of forest transfer could still overlap,
especially between Forest Management and Protection Board and local authorities at
communal and district levels. The people of the study area are hoping for a clear and fair
procedure for land allocation and land use planning from the local authorities that can give
them land areas to invest and create jobs and stable incomes.
Keywords: Forest land, Transferring, Bundle of rights, Local authorities.
.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status