PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do
Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã có
những bước chuyển biến tích cực, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng
khá, quan hệ sản xuất từng bước phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hòa nhập với nền kinh tế quốc
tế. Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng công
nghiệp hóa và từng bước hiện đại hóa. Trong cơ cấu kinh tế chung, xét cả về
giá trị sản phẩm (GDP) và về lao động, tỷ trọng công nghiệp tiếp tục tăng lên,
tỷ trọng nông nghiệp giảm dần. Tuy vậy cơ cấu ngành kinh tế trong những
năm đổi mới vừa qua còn bộc lộ nhiều yếu kém, tốc độ tăng trưởng chưa
tương xứng với mức đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu
ngành nghề còn nhiều lúng túng, mang nặng tính tự phát và thiếu bền vững.
Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, lao động nông nghiệp chuyển sang các
ngành nghề khác còn rất khó khăn [8].
Xây dựng nông thôn mới là mục tiêu quốc gia đang được tiến hành trên
phạm vi cả nước ta theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư ngày 05/8/2008 của
Trung ương, đi cùng với mục tiêu này là bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
nông thôn mới với 19 tiêu chí, đây là cơ sở để kiểm tra, đánh giá công nhận
xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Trong đó có tiêu chí về cơ cấu lao động, tỷ
lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là
35%. Để đạt được tiêu chí thì việc thực hiện chuyển đổi ngành nghề đóng vai
trò quan trọng.
Hòa Vang là huyện nông thôn duy nhất của thành phố Đà Nẵng, mới đây
huyện đã chính thức triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộ
tiêu chí quốc gia, với mục tiêu xây dựng từ 7-8 xã đạt bộ tiêu chí này theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010-
2015) và xã Hòa Phong là xã được chọn thí điểm để thực hiện mục tiêu này.
Cùng với sự phát triển của thành phố, huyện Hòa Vang cũng đang có bước
1
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Theo Trần Hồi Sinh, 2006, “Cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù
phản ánh cấu trúc bên trong của một hệ thống, là tập hợp những mối quan hệ
cơ bản tương đối giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thời
gian nhất định.
Kinh tế nông thôn là một khái niệm dùng để thể hiện một tổng thể kinh
tế - xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn. Nó bao gồm: nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp và cả công nghiệp, dịch vụ… trên địa bàn đó. Khi nói tới
kinh tế nông thôn, chúng ta thường liên tưởng tới một địa bàn mà ở đó hoạt
động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Nhưng ngày nay, với sự phát triển của
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội thì nông thôn không chỉ đơn
thuần là khu vực chỉ có hoạt động chủ yếu là nông nghiệp, mà phát triển cả
hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Như vậy, cơ cấu kinh tế nông thôn là cấu trúc bên trong của kinh tế
nông thôn. Nó bao gồm các bộ phận cấu thành nên cơ cấu kinh tế nông thôn,
các bộ phận đó có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo tỉ lệ nhất định về mặt số
lượng, liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong
điều kiện thời gian và không gian nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế
nông thôn [4].
2.1.2 Cơ cấu ngành nghề
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức
năng trong hệ thống phân công lao động xã hội. Nó phản ánh một loại hoạt
động nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, được phân biệt
theo tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản phẩm sản
xuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất. Các ngành trong cơ
cấu kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển
của phân công lao động xã hội. Trong cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm các
ngành sau:
3
4
2.1.3 Cơ cấu lao động
Lao động bao giờ cũng là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động là hoạt
động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải để phục vụ
cho con người và xã hội. Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế
tổng hợp, thể hiện tỷ lệ của từng bộ phận lao động nào đó chiếm trong tổng
số, hoặc thể hiện sự so sánh của bộ phận lao động này so với bộ phận lao
động khác [7].
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thể hiện tỷ lệ lực lượng lao động
trong ba nhóm ngành lớn là nông – lâm – thủy sản, công nghiệp xây dựng,
thương mại và dịch vụ và theo các phân ngành trong từng nhóm ngành. Cơ
cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế quốc dân có mối quan hệ chặt chẽ và
phản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Sự biến đổi cơ cấu lao động theo
ngành trong quan hệ với trình độ phát triển kinh tế - xã hội (thể hiện bằng chỉ
tiêu quy mô, tốc độ và cơ cấu GDP) diễn ra theo quy luật là: trình độ phát
triển kinh tế xã hội càng cao, GDP đầu người càng cao, kinh tế càng phát triển
và chất lượng nguồn nhân lực càng cao thì lao động làm việc trong khu vực
nông nghiệp càng giảm về tuyệt đối và tỷ trọng. Việc chuyển lao động từ khu
vực nông nghiệp có năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đòi
hỏi phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng suất lao động cao hơn, có
tác động quyết định làm tăng nhanh năng suất lao động xã hội.
Hiểu một cách đơn giản, chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi
(tăng, giảm) của từng bộ phận trong tổng số lao động theo một không gian và
một khoảng thời gian nào đó [1], [6]. Chuyển dịch cơ cấu lao động là một
khái niệm nêu ra trong một không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi số
lượng và chất lượng lao động. Đó chính là quá trình tổ chức và phân công lại
lao động xã hội.
2.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động gắn liền và tác động qua lại với cơ cấu kinh tế. Cơ cấu
lao động được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, phục
6
2.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam và Đà Nẵng
2.3.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Cơ cấu GDP
Để đánh giá nền kinh tế của một nước, người ta căn cứ vào cơ cấu
ngành trong GDP. Số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (WB) chỉ rõ sự
khác nhau về cơ cấu ngành giữa các nhóm nước có trình độ phát triển kinh tế
khác nhau. Các nước kinh tế phát triển thường có tỷ trọng dịch vụ rất lớn.
Ngược lại, các nước đang phát triển có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông
nghiệp thì phần đóng góp của dịch vụ trong cơ cấu GDP thường là thấp. Xu
thế chung khi chuyển từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế
phát triển là giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp cả trong cơ cấu lao động lẫn
trong cơ cấu GDP, đồng thời tăng tương ứng trong cơ cấu GDP và lao động
của khu vực công nghiệp ở giai đoạn đầu và tăng cơ cấu lao động, cơ cấu
GDP của khu vực dịch vụ ở giai đoạn sau.
Trong nửa cuối thập kỷ 80 đã diễn ra quá trình giảm mạnh tỷ trọng
công nghiệp (ngành sử dụng nhiều vốn, ít lao động) và tăng tỷ trọng các
ngành nông nghiệp (sử dụng ít vốn, nhiều lao động) thì trong nửa đầu thập kỷ
90 đã có một quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ đi kèm với giảm tỷ trọng
nông nghiệp và bùng nổ khu vực dịch vụ. Tiếp đến trong nửa cuối thập kỷ 90
và kéo dài đến nay, chúng ta thấy quá trình công nghiệp hóa được đẩy nhanh
hơn trong khi tỷ trọng của cả hai khu vực nông nghiệp và dịch vụ đều giảm
tương đối.
Bảng 1: Cơ cấu GDP nước ta phân theo ngành kinh tế
ĐVT: %
Năm
Nông - lâm -
thủy sản
Công nghiệp -
xây dựng
38367,6 100 44548,9 100
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006)
Cơ cấu lao động nước ta đang có bước chuyển đổi theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ lệ lao động trong ngành nông – lâm – ngư
nghiệp đã giảm từ 65,3% năm 2000 xuống còn 54,7% năm 2006, cùng với
thời gian đó tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng tăng lên từ
12,4% lên 18,3%, trong ngành dịch vụ tăng từ 22,3% lên 27%. Đánh giá
chung thì mức chuyển dịch cơ cấu lao động của nước ta còn chậm, chưa
tương xứng với tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân.
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự
chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3%
năm 2001 lên 19,3% năm 2007. Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến
8
chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc
đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm
các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông
nghiệp thuần túy giảm dần. Tỉ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nhiệp, ngư
nghiệp) đã giảm 9,87%; tỉ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78%. Năm 2007, số
hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so
với năm 2000.
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triển
không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà
pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng
được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức
sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây
dựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho
đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn
13,1%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên
hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước…
Những hạn chế, bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế: So với yêu cầu
đặt ra, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chất lượng chưa cao.
Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại
trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ
nhìn chung, vẫn ở mức trung bình. Công nghiệp chế biến, đặc biệt là những
ngành công nghệ cao chưa phát triển. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên
tục trong những năm gần đây. Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám
và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm
phát triển. Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch
vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt. Một số
ngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ,
tính chất xã hội hóa còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước [5].
10
2.3.2 Tình hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở thành phố Đà Nẵng
Cơ cấu GDP
Khu vực nông nghiệp mặc dù giá trị đóng góp vào GDP toàn thành
phố vẫn tăng qua các năm xong tỷ trọng trong GDP của khu vực này có xu
hướng giảm.
Với vị trí là trung tâm kinh tế của miền Trung, ngành công nghiệp của
thành phố Đà Nẵng luôn duy trì được nhịp độ phát triển, tốc độ tăng trưởng
bình quân 20%/năm. Thành phố đang phấn đấu trở thành một trong những địa
phương đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của miền
Trung, trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 và nhanh chóng cùng
nền kinh tế cả nước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
Dịch vụ ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, là yếu tố
đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng của thành phố Đà Nẵng nói riêng
cũng như cả nước nói chung. Chính sự gia tăng nhanh chóng của ngành dịch
Ngành 2001 2008
Lao động % Lao động %
Nông - lâm - thủy sản
74.100 27,96 35.800 9,64
Công nghiệp - xây dựng
90.822 34,28 123.907 33,35
Dịch vụ
100.054 37,76 211.832 57,01
Tổng
264.976 100 371.539 100
(Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2001 - 2008)
Cơ cấu lao động của thành phố đã có sự chuyển dịch phù hợp với xu
hướng chuyển dịch chung của cơ cấu ngành kinh tế tức là tăng tỷ trọng lao
động trong các ngành dịch vụ và công nghiệp - xây dựng, giảm tương đối tỷ
trọng lao động trong ngành nông - lâm - thủy sản.
Cơ cấu vốn đầu tư
Trong 10 năm qua tổng vốn đầu tư của thành phố tăng liên tục qua các
năm. Cơ cấu vốn đầu tư thành phố chuyển dịch theo hướng tích cưc, chủ yếu
đầu tư vào khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, trong đó dịch vụ vẫn
chiếm ưu thế hơn. Điều này cũng phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố và xu thế hội
nhập kinh tế.
12
Bảng 5: Vốn đầu tư của Đà Nẵng vào các ngành kinh tế
Năm
Tổng vốn
đầu tư
Nông - lâm -
thủy sản
Công nghiệp –
hàng, một số mặt hàng chưa thực sự tạo lập được thương hiệu trên trường
quốc tế, thêm vào đó các công ty xuất nhập khẩu chưa thực sự chủ động trong
quan hệ với nhà cung cấp. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá, nhất là các
mặt hàng chủ lực: hải sản đông lạnh, giày da… Trong đó, mặt hàng thủy sản
mặc dù sản lượng liên tục tăng nhưng do quy trình chế biến, nuôi trồng chưa
13
đáp ứng quy chuẩn của thị trường khó tính như Mỹ, EU do đó sản lượng xuất
khẩu mặt hàng này không thực sự ổn định.
Sau 13 năm phát triển nhanh, đa dạng, chú trọng thu hút các nguồn lực
đầu tư trong và ngoài nước, năm 2010 thế và lực của thành phố Đà Nẵng đã ở
tầm cao hơn và phát triển theo hướng bền vững, đó là coi trọng an sinh - xã
hội và môi trường. Cho đến nay, cơ cấu kinh tế của thành phố đã chuyển dịch
và được xác định là dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì cơ cấu kinh tế thành phố cũng
còn tồn tại không ít những hạn chế: Cơ cấu ngành vẫn còn chứa đựng nhiều
yếu tố chưa hợp lý, trình độ sản xuất và năng suất lao động đã được cải thiện
nhưng văn còn lạc hậu, công tác quản lý của Nhà nước đối với các doanh
nghiệp còn chồng chéo và chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng vốn của các ngành
chưa cao.
14
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Hòa Phong
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai và tình hình sử dụng đất
đai của xã.
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình dân số, lao động, loại hộ và cơ cấu ngành nghề, cơ sở hạ tầng
của xã.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ điều tra
trách kinh tế - xã hội, cán bộ phụ trách lao động thương binh xã hội, chủ tịch
hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận nhằm tìm hiểu quá trình
chuyển đổi ngành nghề tại địa phương cũng như những khó khăn và thuận lợi
trong quá trình chuyển đổi. (2) Thảo luận nhóm người dân: tiến hành thảo
luận hai lần, bao gồm những người có thực hiện chuyển đổi ngành nghề nhằm
tìm hiểu những thay đổi trong đời sống của người dân khi chuyển đổi ngành
nghề, những thuận lợi, khó khăn khi chuyển đổi và những ý kiến, chia sẻ của
người dân.
- Phỏng vấn người am hiểu: Bí thư Đảng ủy, chủ tịch xã, phó chủ tịch
xã phụ trách kinh tế - xã hội, cán bộ phòng nông nghiệp, trưởng thôn nhằm
tìm hiểu quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, những thuận lợi và khó
khăn trong quá trình thực hiện chuyển đổi ngành nghề.
- Phỏng vấn hộ: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 30 hộ. Các hộ này
được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có định hướng. Hộ được
chọn là hộ có đầy đủ các tiêu chí sau: (1) Hộ có thực hiện chuyển đổi ngành
nghề, (2) Hộ chuyển đổi ngành nghề ngay tại địa phương. Việc phỏng vấn hộ
nhằm có cái nhìn toàn diện về quá trình chuyển đổi ngành nghề tại địa
phương và những thay đổi trong đời sống của người dân khi chuyển đổi
ngành nghề. Thông tin thu thập là các thông tin cơ bản về hộ điều tra: tuổi,
16
trình độ học vấn, nhân khẩu, lao động, tình hình sử dụng đất của hộ; thông tin
về thu nhập, chi tiêu của hộ và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình
chuyển đổi ngành nghề.
3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu định lượng được mã hóa, nhập và xử lý thống kê
bằng các phép tính trên phần mềm Excel. Thông tin định tính đơn giản hóa
các đoạn văn trong dữ liệu ghi chép được và các báo cáo, phân tích theo chủ
đề và nội dung.
17
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
(%)
Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
Tổng diện tích đất
1.853 100 1.853 100 1.853 100
Đất nông nghiệp
1.041 56,18 1.038 56,02 1.034 55,80
Đất chưa sử dụng
107 5,77 95 5,13 87 4,70
Đất phi nông nghiệp
705 38,05 720 38,86 732 39,50
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 – 2010)
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1853 ha. Trong những năm gần
đây, cùng với việc đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển cơ sở
hạ tầng quỹ đất của địa phương có sự thay đổi đáng kể. Đất sản xuất nông
nghiệp giảm dần, đất phi nông nghiệp tăng lên. Cụ thể: đất nông nghiệp năm
2008 là 1.041 ha thì đến năm 2010 còn 1.034 ha giảm 7 ha, phần lớn diện tích
đất này phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch xây dựng các cơ sở
sản xuất phi nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp tăng từ 705 ha năm 2008 lên
732 ha năm 2010 cho thấy đã có sự đầu tư đáng kể cho phát triển sản xuất phi
nông nghiệp. Để phục vụ cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa,
phục vụ đô thị xã đang thực hiện cơ chế dồn điền đổi thửa nhằm thuận lợi cho
việc đầu tư, áp dụng cơ giới hóa cũng như việc áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất.
19
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Hòa Phong có tổng số 3.804 hộ. Trong đó có 548 hộ nghèo chiếm
14,41% tổng số hộ của xã. Số hộ nghèo của xã có giảm qua các năm nhưng
Tổng số lao động
7.396 100 7.461 100 7.460 100
Số lao động NN
3.754 50,76 3.746 50,21 3.700 49,60
Số lao động TTCN
1.830 24,74 1.866 25,01 1.900 25,47
Số lao động TM - DV
1.812 24,50 1.849 24,78 1.860 24,93
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 – 2010)
Qua bảng 7 cho thấy, lao động của xã chuyển dịch theo hướng giảm
lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và tăng lao động phi nông nghiệp.
Tuy nhiên, lao động nông nghiệp của xã tuy có giảm qua các năm nhưng
vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, cụ thể: lao động nông nghiệp chiếm 49,60%, lao
động tiểu thủ công nghiệp chiếm 25,47%, lao động thương mại - dịch vụ
chiếm 24,93%.
Toàn xã có 1.134 người có trình độ: Trung cấp 429 người, cao đẳng
260 người, đại học là 439 người, trên đại học là 6 người. Tỉ lệ lao động có
trình độ đại học, cao dẳng, trung cấp chiếm trong nguồn lao động còn thấp.
20
Phần lớn có trình độ sơ cấp, lao động phổ thông tham gia trực tiếp lao động.
Những lao động có tay nghề khá vững vàng, có kinh nghiệm quản lý, lao
động kỹ thuật khoảng 200 lao động. Số lao động còn lại tuổi đời lớn khó khăn
trong việc đào tạo và tiếp thu kiến thức. Số lao động không có việc làm ổn
định chiếm khoảng 2% nguồn lao động trong xã. Trong 5 năm 2005 - 2009,
xã đã tập trung đào tạo nghề, toàn xã có 750 lao động ngắn hạn học nghề tại
huyện tạo cơ hội có việc làm nhằm tăng thu nhập bình quân đầu người cho
nhân dân.
Hòa Phong là xã nằm ở vị trí trung tâm của huyện Hòa Vang, trung tâm
hành chính huyện đóng tại địa bàn xã, được thành phố và huyện đầu tư vốn
xây dựng nhiều công trình trọng điểm đã tạo cho Hòa Phong một diện mạo
động của hộ gần xấp xỉ nhau.
4.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của xã Hòa Phong
4.3.1 Tiến trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
Từ ngày 05 tháng 08 năm 2005 khi một phần huyện Hòa Vang chia
tách thành quận Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang, trung tâm hành chính huyện
Hòa Vang đóng tại địa bàn xã Hòa Phong, được thành phố và huyện đầu tư
vốn xây dựng nhiều công trình trọng điểm đã tạo cho Hòa Phong một diện
mạo mới. Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của xã Hòa Phong
chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tương đối tỷ trọng
hai ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ.
Toàn xã có 11 doanh nghiệp, công ty TNHH, 15 trại cưa gỗ, 5 bến cát. 5 cơ sở
sản xuất gạch thủ công, gạch Tuynen và các trang trại chăn nuôi. Hầu hết các
cơ sở này đã đi vào khai thác tối đa các nguồn lực tạo ra nhiều sản phẩm có
giá thành hợp lý, tạo điều kiện cạnh tranh trên thị trường.
22
ĐVT: Tỷ đồng
ĐVT: tỉ đồng
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 - 2010)
Biểu đồ 1: Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế xã Hòa Phong giai đoạn
2008 – 2010
Tổng giá trị sản xuất của xã qua các năm có sự tăng trưởng. Giá trị sản
xuất ngành nông nghiệp năm 2010 đạt 49 tỷ đồng, tăng hơn 5 tỷ đồng so với
năm 2008. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và
thương mại - dịch vụ tăng đáng kể, tăng tương ứng 18 tỷ đồng và 21 tỷ đồng
so với năm 2008. Qua biểu đồ cho thấy giá trị sản xuất của các ngành đều
tăng qua các năm. Trong đó giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp tăng
chậm. Diện tích sản xuất nông nghiệp giảm qua các năm nhưng giá trị sản
xuất ngành nông nghiệp vẫn tăng đó là nhờ xã tập trung sản xuất, đẩy mạnh
chuyển dịch cây trồng, con vật nuôi, chuyển giao các ứng dụng kỹ thuật, tăng
năng suất cây trồng, đảm bảo nhu cầu lương thực cho nhân dân. Trong những
khai thác có hiệu quả các ao hồ. Chăn nuôi bò Laisind trên các thôn vùng Tây
cũng phát triển kết hợp kinh tế vườn đồi. Đàn heo, đàn bò tuy có tăng trưởng
nhưng còn chưa đảm bảo số lượng đầu con do dịch bệnh, riêng đàn trâu có xu
hướng giảm.
Về TM – DV, kể từ khi khu phố chợ Túy Loan hình thành, việc buôn
bán ở đây trở nên sầm uất trên các xã cánh Tây. Nhu cầu về các mặt hàng rất
đa dạng như: dịch vụ văn hóa, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, hàng hóa
tiêu dùng, các dịch vụ điện tử, nhà hàng ăn uống phát triển. UBND xã đã có
nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong khu phố chợ trên
địa bàn 15 thôn. Thành lập ban quản lý chợ hoạt động sắp xếp trật tự chợ một
cách hợp lý đảm bảo kinh doanh phục vụ tốt yêu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Doanh thu trong năm 76 tỉ đồng, tăng 16,5% so với năm 2009.
Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp giảm dần qua các năm, tuy
nhiên giảm với tốc độ chậm. Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và
thương mại - dịch vụ tăng dần. Trong đó tốc độ phát triển của ngành công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là cao nhất 21% năm 2010. Công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp có bước phát triển khá đó là nhờ xã đã thu hút vốn phát triển
kinh tế, vừa mở rộng quy mô sản xuất vừa hình thành cơ sở mới. Chủ yếu là
cơ khí, mộc, song mây, may mặc,… giải quyết việc làm hàng năm cho hơn
350 lao động, tăng thu nhập, ổn định đời sống người lao động. Trong 3 năm
xã đã thu hút vốn trong các thành phần kinh tế hơn 20 tỉ đồng, xây dựng 2 lò
gạch Tuynel với công suất 15 triệu viên/năm, 2 cơ sở chế biến song mây và
một số cơ sở khác.
Tình hình dịch chuyển kinh tế như trên cho thấy Hòa Phong đang
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.
Như vậy, trong giai đoạn 2008 – 2009 Hòa Phong có sự dịch chuyển về kinh
tế theo hướng từ giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ, đây là sự dịch chuyển phù hợp với Hòa Phong trong quá
trình xây dựng nông thôn mới.
24
10
20
30
40
50
60
2008 2009 2010
NN
CN - TTCN
TM - DV
25