PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước chuyển
biến mạnh mẽ từ sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị
trường, có năng suất, sản lượng tăng đáng kể, đảm bao an toàn lương thực quốc gia với
tỷ suất hàng hóa ngày càng lớn, khẳng định được thế đứng của mình trong khu vực và
trên toàn thế giới. Tuy nhiên, do nông nghiệp nước ta mới bắt đầu phát triển nên vẫn
còn nhiều hạn chế, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẽ và lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên. Lao động nông nghiệp vẫn chủ yếu là lao động thủ công, cơ sở vật chất kỹ thuật
còn lạc hậu, trình độ lao động trong nông nghiệp chưa cao. Do đó, chưa tận dụng hết
tiềm năng sẵn có của mình để sản xuất đạt hiệu quả cao. Năng suất, chất lượng nông
sản còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân, chưa cung cấp đủ
nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa và xuất khẩu, đặc biệt là chưa
tạo nguồn tích lũy để đẩy mạnh công nghiệp hóa. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn chưa thoát khỏi thuần nông và độc canh, tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, du
canh, du cư, di dân tự do còn tồn tại, gây nhiều tác động xấu đến môi trường.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã
và đang được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương rất quan tâm, nhằm
khai thác tiềm năng đất đai, giải quyết việc làm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngày nay, trong công cuộc phát triển kinh tế nông thôn thì việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, đưa vào sản xuất những giống cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, tăng tỷ
suất hàng hóa nông sản, phù hợp với từng vùng sinh thái, với điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, từng bước nâng cao đời sống nhân dân là mục tiêu quan trọng được tiến
hành rộng khắp trên mọi miền đất nước. Nằm trong xu thế phát triển chung của cả
nước, trong những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh Thừa Thiên
Huế nói chung và huyện Hương Trà nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nền
1
1
nông nghiệp của huyện đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng trên địa bàn huyện diễn ra còn chậm, hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao.
thì Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn nền nông nghiệp phát triển và hiện đại, có cơ cấu
cây trồng hợp lý với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng làm nền tảng.
Để hiểu được nền tảng này, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là cơ cấu cây
trồng?
Xét về phạm trù triết học: Cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong,
tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Cơ cấu được biểu
hiện như là tập hợp những mối quan hệ hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống
nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống. Do đó khi nghiên cứu cơ cấu phải
đứng trên quan điểm hệ thống. [4, 11]
Khái niệm về cơ cấu cây trồng: Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại
giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản
xuất nông nghiệp. [5, 21]
Cơ sở khoa học của việc xác địng cơ cấu cây trồng
Theo Nguyễn Văn Quy - 2007 đã nêu lên cơ sở khoa học của việc xác
định cơ cấu cây trồng như sau: Cơ cấu cây trồng hợp lý trước hết phải có thành
phần cây trồng hợp lý. Muốn vậy phải dựa vào kế hoạch của Nhà nước, dựa vào
đời sống của nhân dân, dựa vào nhu cầu của thị trường. Ngoài ra, yếu tố quyết
định nhất khi xác định cơ cấu cây trồng là phải căn cứ vào một số điều kiện cụ
thể của vùng sản xuất. Bao gồm các yếu tố về khí hậu, thời tiết, đất đai, đặc tính
sinh vật học của các loại cây trồng và giống cây trồng cũng như đặc điểm của
quần thể sinh vật học và giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng mang lại.
Cơ cấu cây trồng hợp lý phải trả lời được câu hỏi: Loại cây gì, giống gì,
trồng ở đâu, tỷ lệ diện tích bao nhiêu và trồng bằng phương thức gì để phù hợp
với điều kiện đất đai và khí hậu của vùng đồng thời thành phần cây trồng không
ảnh hưởng đến nhau. [5, 37]
3
3
Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay
đổi hoặc chỉ thay đổi trong một phạm vi nhất định. Đối với cây trồng con người
có thể lựa chọn và di thực chúng và với một trình độ hiểu biết của sinh học hiện
Ở nước ta, sở dĩ năng suất cây trồng không ổn định vì có những điều kiện tự
nhiên bất lợi như: Hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh làm giảm năng suất cây trồng, có lúc còn
làm mất trắng. Trong kỹ thuật nông nghiệp, tuy có những biện pháp rất cơ bản để khắc
phục những thiên tai nói trên nhưng trong thực tế có nhiều nơi, nhiều lúc chưa có điều
kiện để áp dụng các biện pháp kỹ thuật trên. Trong trường hợp đấy việc bố trí cơ cấu
cây trồng một cách hợp lý sẽ giúp cây trồng chống lại được các thiên tai hay tránh
được chúng một cánh có hiệu quả.[7, 5]
Tóm lại, bố trí cơ cấu cây trồng một cánh hợp lý sẽ khai thác các được điều kiện
tự nhiên và xã hội của vùng, làm cho năng suất cây trồng cao và ổn định.
2.1.2. Khái niệm và các hình thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Khái niệm chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là việc thay đổi cơ cấu mùa vụ gieo trồng, thay đổi
thành phần cây trồng trong tầng mùa vụ hay thay đổi tỷ lệ diện tích các loại cây trồng
khác nhau trong một vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm mục đích sử dụng hợp lý hơn
nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng, đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn cho
người nông dân trên một đơn vị diện tích. [5, 43]
Tại sao phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Sản xuất nông nghiệp là hoạt động phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự
nhiên, vì vậy hoạt động này thường xuyên gặp rủi ro khi môi trường tự nhiên
thay đổi. Những điều này đã làm cho cơ cấu cây trồng cũ của nhiều vùng trở nên
không còn phù hợp nữa. Đây chính là lí do để chúng ta tiến hành thay đổi cơ cấu
cây trồng của vùng đó với mục đích làm cho cơ cấu cây trồng của vùng phù hợp
5
5
hơn với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng. Ngoài ra còn một số yếu tố
khác tác động vào khiến chúng ta phải thay đổi cơ cấu cây trồng như:
- Cơ cấu cây trồng cũ thường gặp rủi ro. Do quá trình công nghiệp hoá kết
hợp với việc chặt phá rừng đầu nguồn dẫn đến môi trường nông nghiệp bị thay
đổi. Việc thay đổi này đã làm cho cơ cấu cây trồng cũ của nhiều vùng không còn
khả năng thích nghi nữa dẫn đến mất mùa hoặc năng suất bị sụt giảm. Vì vậy
cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn nên yêu cầu đặt ra là phải tăng số vụ cây trồng
trong năm lên để tận dụng các điều kiện khí hậu, đất đai với mục đích là tăng năng
suất, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.
+ Giảm số vụ cây trồng: Áp dụng ở những vùng trước đây số vụ cây trồng trong
năm nhiều nên việc bố trí thời vụ gieo trồng không được hợp lý, năng suất trong mỗi
vụ thấp, thậm chí có nhiều vụ mất trắng do gặp điều kiện bất lợi.
+ Xê dịch mùa vụ gieo trồng: Áp dụng ở những vùng trước đây việc bố trí mùa
vụ gieo trồng chưa được hợp lý dẫn đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng
thường xuyên rơi vào giai đoạn sâu bệnh phá hại, hoặc rơi vào những thời điểm có thời
tiết bất thuận (hạn hán, lũ lụt).
- Chuyển đổi thành phần và giống cây trồng trong từng mùa vụ: Áp dụng ở
những vùng trước đây có một hoặc một vài thành phần cây trồng trong cơ cấu cây
trồng không phù hợp, dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế của các thành phần này
thấp. Vì vậy, phải chuyển đổi các thành phần này sang trồng các loại giống cây trồng
khác thích hợp hơn, có năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn.
- Chuyển đổi tỷ lệ diện tích cây trồng: Là quá trình tăng lên hay giảm bớt diện
tích gieo trồng của một hoặc một vài loại cây trồng trong một vùng sản xuất nông
nghiệp. Qúa trình chuyển đổi này thường xuất phát từ nhu cầu về sản phẩm nông
nghiệp của con người ngày càng đa dạng, dẫn đến nguồn cầu về một số loại cây trồng
có sự thay đổi. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi một số chân đất không còn thích hợp cho
7
7
sản xuất các cây trồng trước đây nữa sang trồng các loại cây khác cũng là nguyên nhân
dẫn đến chuyển đổi tỷ lệ diện tích cây trồng.[5, 47-50]
2.2. Sự ra đời của cơ cấu cây trồng và quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng
ở một số nước trên thế giới
Ngay từ khi xuất hiện trên Trái Đất, loài người đã biết săn, bắt, hái lượm để duy
trì cuộc sống của mình. Theo thời gian, các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên ngày càng
cạn kiệt, khan hiếm, loài người bắt đầu trồng những cây trồng mình cần và nuôi những
con vật nuôi mình cần. Ngay từ lúc này, hệ thống sản xuất được hình thành và hệ thống
nông nghiệp, lương thực được chú trọng đặc biệt với quan điểm “phi lương bất ổn”.
Trung Quốc đã tác động nhiều biện pháp để ổn định diện tích gieo trồng lương thực,
nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích bằng con đường thâm canh, chủ trương
xây dựng các vùng lương thực hàng hoá trọng điểm có sự hỗ trợ của Nhà nước …
Chính vì vậy, Trung Quốc đã từng bước thoát khỏi tình trạng trì trệ của những năm
trước đây, giải quyết nạn thiếu đói triền miên của nhân dân.
Căn cứ vào đặc điểm và lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác,
trình độ kỹ thuật và thị trường, Chính phủ Trung Quốc tiến hành quy hoạch phát triển
ba vùng nông nghiệp chính là: Vùng phát triển sản xuất, chế biến cây lương thực ở các
tỉnh nội địa; vùng phát triển chăn nuôi và trồng cây chuyên canh ở phía Tây; vùng
nông nghiệp dành cho xuất khẩu ở phía Đông. Mục đích của quy hoạch là "không chỉ
đáp ứng nhu cầu hiện có của thị trường mà còn mở rộng thị trường nông sản trong và
ngoài nước".
Năm 1999, diện tích gieo trồng của Trung Quốc là 157 triệu ha. Trong đó, diện
tích trồng cây lương thực là 113 triệu ha, cây thương phẩm 37 triệu ha và các cây trồng
khác là 7 triệu ha. Để nâng cao hiệu quả ngành trồng trọt, Trung Quốc tập trung chuyển
từ cơ cấu hai loại cây trồng chính là cây lương thực và cây thương phẩm sang cơ cấu
ba loại cây trồng: Cây lương thực, thương phẩm và nguyên liệu chế biến thức ăn chăn
nuôi. Mục tiêu chuyển đổi cơ cấu trong ngành trồng trọt Trung Quốc là giảm dần tỷ
9
9
trọng cây lương thực, mở rộng diện tích trồng cây thương phẩm, cây ăn quả làm
nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm và chế biến thức ăn gia súc, chuyển dần ưu
thế ngành trồng trọt sang cung cấp nguyên liệu cho chế biến và chăn nuôi.
Với chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, hàng trăm triệu hộ nông dân
Trung Quốc đã chuyển từ trạng thái kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá;
nông nghiệp phát triển khá ổn định đã tạo điều kiện cho sự phát triển chung của nền
kinh tế quốc dân. [2 ]
Thái Lan: Trong những năm 60 của thế kỷ XX Thái Lan vẫn là nước lạc hậu,
yếu kém về nông nghiệp và công nghiệp, trên 90% dân số là nông dân nên họ đã chọn
Vùng Đồng bằng miền Trung: Ở những vùng có hệ thống tưới tiêu, lúa được
trồng vào mùa mưa; mùa khô trồng lúa hoặc đậu nành, đậu xanh, lạc, khoai lang, dưa
hấu, vừng và một vài loại rau như ngô hạt ngọt, ngô bao tử, đậu hạt dài, bí ngô, dưa
chuột, Trên các vùng cao miền Trung, các hệ thống canh tác chủ yếu là kết hợp xen
canh ngô - cao lương, vừng - đậu xanh, đậu xanh - ngô, Tuy nhiên, các hệ thống
trồng trọt điển hình của vùng này vẫn là các hệ thống dựa chủ yếu vào lúa gạo hoặc các
cây hàng năm.
Miền Nam: Ở những vùng thấp, vào mùa mưa người nông dân trồng lúa, mùa
khô trồng lúa hoặc dưa hấu, lạc, đậu xanh, ngô hạt ngọt, khoai sọ, Hầu hết các đồn
điền cao su được trồng xen lúa cạn, ngô hạt ngọt, lạc, dứa, chuối và các cây hàng năm
khác. Các cây ăn quả và cây lâu năm khác như dừa, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,
nhãn, cọ lấy dầu, cà phê, ca cao được trồng lẫn và xen canh với các loại cây trồng
như trong các hệ thống trồng trọt dựa chủ yếu vào cao su.
Đến nay, kinh tế nông thôn Thái Lan đã có sự phát triển nhanh theo hướng sản
xuất và xuất khẩu ngày càng nhiều nông sản hàng hoá, các vùng chuyên canh lớn được
hình thành, các khu công nghiệp chế biến xuất khẩu cũng được phát triển. Với chủ
trương phát triển nông nghiệp đa dạng gắn với công nghiệp chế biến hướng về xuất
11
11
khẩu nên nông sản hàng hoá rất được thị trường quốc tế ưa chuộng. Thái Lan đã trở
thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, sắn, cao su, là nước đứng thứ ba về
xuất khẩu đường. Ngoài ra Thái Lan còn xuất khẩu một khối lượng lớn hàng hoá nông
sản thực phẩm chế biến như: Nước dứa, rau, quả tươi, mực, tôm đông lạnh …[2]
Ấn Độ: Nhờ điều kiện khí hậu đa dạng nên Ấn Độ trồng được nhiều loại cây,
phân thành hai nhóm chính là cây lương thực và công nghiệp. Hơn 50 năm trước, do
dân số lớn và trải qua thời kỳ thiếu lương thực, nên an ninh lương thực là ưu tiên hàng
đầu trong chiến lược phát triển của chính phủ Ấn Độ. Suốt giai đoạn 1967-1976, nhờ
mở rộng hệ thống tưới tiêu, áp dụng công nghệ của cuộc cách mạng xanh, và áp dụng
các chính sách khuyến khích sản xuất lương thực nên diện tích lương thực tăng đáng
kể.
thấp chủ yếu dựa vào nước mưa áp dụng các hệ thống canh tác chính là: Lúa - ngô, lúa
- tỏi, lúa - ớt ngọt, lúa - rau đậu. Trong những năm gần đây hệ thống đa dạng hoá trên
đất trồng lúa của Philipinl lại thay đổi. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Lúa gạo
Philipinl, trong 2 năm gần đây, có sáu hệ thống canh tác chính trên đất trồng lúa là: Lúa
- lúa, lúa - rau, lúa - cá, lúa - ngô, lúa - cây họ đậu và loại khác.
- Trên đất trồng dừa: Dừa có thể trồng xen một hay một số loại cây. Có nhiều
loại cây có thể trồng dưới tán cây dừa gồm cây lâu năm như: Cà phê, ca cao, chuối sợi
và cây ăn quả khác; cây hàng năm như ngô, lạc, khoai lang, dứa, dong, gai và các loại
rau. Đây chính là hệ thống canh tác đa tầng rất phổ biến trong chiến lược đa dạng hoá
của Philipinl. Hệ thống canh tác này gồm ba cấp: Trên cùng là dừa, ở tầng giữa là các
cây lâu năm và tầng cuối là các cây hàng năm có tốc độ phát triển chậm.
Ngoài việc thực hiện đa canh cây trồng trên đất canh tác lúa và dừa, Philipinl
còn có kế hoạch thực hiện một số chương trình đa dạng hoá trên đất trồng ca cao, cà
phê và cao su.
Tóm lại, trong những năm qua, cùng với sự phát triển về sản xuất nông nghiệp,
và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước trên thế giới đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu
13
13
cây trồng và đa dạng hoá sản xuất, cố gắng phát huy lợi thế so sánh, chấp nhận nhập
khẩu nguyên liệu và các mặt hàng sản xuất không có lợi thế để tập trung sản xuất thật
hiệu quả một số mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh với khối lượng lớn. Xu thế
chung là:
- Chuyển từ sản xuất lúa sang trồng rau màu và cây ăn quả.
- Chuyển từ trồng lúa sang trồng cây công nghiệp dài ngày.
- Chuyển từ độc canh lúa sang luân canh màu trên nền lúa.
- Chuyển từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản.
- Chuyển từ trồng cây dài ngày như cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày sang
trồng xen canh giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày.
- Chuyển từ cây trồng có giá trị thấp và bị giảm giá trên thị trường sang cây
trồng có giá trị cao và ổn định về thương mại.[2]
lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả đã có những sự thay đổi. Năm 1989 tỷ
trọng sản xuất của các loại cây là: Cây lương thực 67,6%, cây công nghiệp 14,1%, cây
ăn quả 8,25%, 10,5% còn lại là các loại cây trồng khác. Năm 1992, tỷ trọng sản xuất
của các loại cây là: Cây lương thực 62,1%, cây công nghiệp 15,4%, cây ăn quả 9,14%,
các loại còn lại chiếm 13,36%. Xu hướng độc canh cây lương thực trong sản xuất đã
được hạn chế, thay vào đó việc sản xuất chuyên canh cây ăn quả và cây công nghiệp đã
được chú trọng phát triển, đặc biệt là các loại cây có giá trị xuất khẩu cao như: Chè, cà
phê, cao su, điều, bông …[1, 34-38]
Trong thời kỳ 1993-1995 cơ cấu cây trồng trong hệ thống gieo trồng cũng có
nhiều sự thay đổi không chỉ lúa mà diện tích ngô cũng được mở rộng phát triển cả về
diện tích cũng như năng suất. Sản xuất cây lương thực, cây ăn quả, rau đậu có những
bước tiến bộ mới về quy mô và tốc độ phát triển. Đã hình thành và phát triển các vùng
sản xuất tập trung, quy mô lớn, sản lượng hàng hoá nhiều gắn với chế biến và tiêu thụ
như: Mía đường, cà phê, cao su, chè, hạt điều, … Đặc biệt, những cây trồng có sản
phẩm xuất khẩu lớn được thị trường thế giới tín nhiệm như cà phê, cao su, hạt điều có
quy mô và tốc độ tăng diện tích, năng suất và sản lượng khá nhanh. [1, 45-49]
Nông nghiệp phát triển theo xu hướng sản xuất hàng hoá. Đã hình thành nhiều
vùng sản xuất hàng hoá tập trung như các vùng lúa ở đồng bằng Sông Hồng, đồng
15
15
bằng Sông Cửu Long, các vùng cà phê Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; các vùng chè ở
các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, vùng cao su Đông Nam Bộ, một số tỉnh ở bắc
miền Trung; vùng rau Lâm Đồng, các tỉnh đồng bằng Sông Hồng; các vùng mía duyên
hải miền Trung, khu bốn cũ, … Nhiều loại sản phẩm xuất khẩu với tỷ lệ rất cao như cà
phê 95%, điều 100%, cao su 80-85%, hạt tiêu 90%, chè 50%. Tỷ suất hàng hoá nông
nghiệp năm 1999 đạt trên 40%.
Nhờ động lực to lớn của chính sách đổi mới, thập kỷ 90 đã đánh dấu một thời kỳ
quan trọng của nông nghiệp Việt Nam, chuyển mạnh từ nền sản xuất nông nghiệp tự
cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá. Liên tục trong 10 năm (1989-1999) sản xuất nông
nghiệp đạt nhịp độ phát triển bình quân 4,3%/năm. Nông nghiệp phát triển khá toàn
cây trồng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực
trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
- Về không gian: Xã Hương Vân-Huyện Hương Trà-Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời gian năm
2005-2007.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, xã hội xã Hương Vân.
Tìm hiểu thực trạng cơ cấu cây trồng của xã Hương Vân trong 3 năm từ năm 2005-
2007.
- Cơ cấu diện tích đất canh tác.
17
17
- Cơ cấu diện tích gieo trồng.
- Cơ cấu một số công thức luân canh chu yếu của xã Hương Vân.
- Cơ cấu cây trồng theo mùa vụ.
Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, xã hội của các nhóm hộ điều tra.
- Tình hình dân số, lao động của các nhóm hộ.
- Tình hình sử dụng đất đai của các nhóm hộ.
- Thực trạng về cơ cấu cây trồng của các nhóm hộ.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số cây trông chính và so sánh hiệu quả kinh tế
của một số công thức luân canh và xen canh.
Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn sau khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Phương hướng và một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Chọn điểm, chọn mẫu.
- Chọn điểm:
+ Xã Hương Vân là một vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của huyện
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở đây, hoạt động chuyển dịch cơ cấu cây trồng diễn
4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hương Vân
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Hương Vân nằm ở phía Tây Bắc của huyện Hương Trà, cách thành phố Huế
khoảng 20 km.
- Phía Bắc giáp với thị trấn Tứ Hạ là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của
huyện Hương Trà.
- Phía Nam giáp xã Bình Điền, xã Hồng Tiến.
- Phía đông giáp xã Hương Bình, xã Hương Văn.
- Phía Tây giáp huyện Phong Điền.
Hương Vân có vị trí khá thuận lợi, gần trung tâm hành chính của huyện, địa
hình đa dạng thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Địa hình, địa thế
Hương Vân là xã vùng gò đồi, địa hình có dạng bậc thang và nghiêng dần từ
Tây Nam đến Đông Bắc.
20
20
- Phía Bắc: Địa hình tương đối bằng phẳng, đây là khu dân cư và đồng ruộng tập
trung.
- Phía Nam: Địa hình tương đối dốc, chủ yếu là đất lâm nghiệp và vùng gò đồi,
dân cư sống rải rác.
Địa chất thổ nhưỡng: Xã Hương Vân có tổng diện tích tự nhiên là 6.186 ha
nhưng do địa hình có dạng bậc thang nên diện tích đất lúa không lớn còn đất màu được
chia làm nhiều loại không đồng nhất.
Đất đai của xã Hương Vân gồm 2 nhóm đất chính:
- Vùng đồi chủ yếu là nhóm đất Feralit đỏ vàng, thuận lợi cho cây lâm nghiệp
phát triển như: Thông, keo, bạch đàn, …
- Vùng đồng bằng chủ yếu là nhóm đất phù sa được bồi đắp hàng năm từ sông
Bồ nên rất thuận lợi cho rau, màu và lúa phát triển.
Khí hậu, thuỷ văn
Ranh giới phía Tây của xã là lưu vực sông Bồ có chiều dài gần 12 km, có lưu
lượng nước mùa mưa lớn, mực nước lũ trung bình hàng năm lên tới 1,5 m. Hiện nay,
xã đang xây dựng đập thủy điện Hương Điền ở đầu nguồn sông Bồ vừa để cung cấp
nước vừa có tác dụng ngăn lũ nên đây là một thuận lợi lớn cho phát triển sản xuất nông
nghiệp của xã nhà. Nguồn nước ngầm mạch nông có trên diện rộng, độ sâu từ 6-10 m
rất thuận lợi cho việc cung cấp nước sinh hoạt và nước sản xuất nông nghiệp trên địa
bàn xã.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội
4.1.2.1. Tình hình đất đai
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đất đai là một trong những trong nguồn
lực không thể thiếu, nó vừa là tư liệu sản xuất vừa là công cụ sản xuất không thể thay
thế được. Để hiểu rõ về tình hình biến động đất đai của xã Hương Vân chúng ta xem
xét bảng số liệu sau:
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 6.168
ha, trong đó diện tích đất chưa sử dụng chiếm phần lớn diện tích, sau đó đến lâm
nghiệp và đất nông nghiệp. Trong mấy năm gần đây, mặc dù diện tích đất chưa sử dụng
có giảm đáng kể nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên, cụ
thể là: Năm 2005 diện tích đất chưa sử dụng là 3.098,72 ha, chiếm 50,24 % tổng diện
22
22
tích đất tự nhiên, năm 2006 là 2977,68 ha (chiếm 48,28%) và đến năm 2007 giảm
xuống còn 2.681,09 ha (chiếm 43,47%). Như vậy sau 3 năm, từ năm 2005 đến 2007
diện tích đất chưa sử dụng giảm 417,6 ha, tương ứng với 13,48%. Phần lớn đất chưa sử
dụng phân bố ở vùng đồi núi nên đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây ăn
quả và cây công nghiệp dài ngày.
23
23
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Hương Vân trong 3 năm (2005-2007)
(ĐVT: Ha)
Chỉ tiêu
526,31 ha, chiếm 8,53% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Như vậy, năm 2007 so với
năm 2005 diện tích đất nông nghiệp của xã giảm 0,65 ha, tương ứng 0,12%. Trong đó,
diện tích đất trồng cây hàng năm giảm còn diện tích đất trồng cây lâu năm đang có
chiều hướng tăng. Từ năm 2005 đến năm 2007 diện tích đất trồng cây hàng năm giảm
27,79 ha, tương ứng với 6,01%, diện tích đất trồng cây lâu năm tăng 27,14 ha, tương
ứng với 42,22%. Sở dĩ, diện tích đất nông nghiệp giảm là do đất chuyên dùng và đất
thổ cư tăng còn diện tích đất trồng cây hàng năm giảm là do thực hiện chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, chuyển từ diện tích đất trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm, đó
là cây đặc sản thanh trà. Cũng chính vì vậy mà diện tích trồng cây lâu năm đã tăng lên
đáng kể: Từ 64,28 ha (năm 2005) tăng lên 91,42 ha (năm 2007).
Ngoài ra, trong thời gian vừa qua cùng với việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế hàng hoá, nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng
trên địa bàn xã đã làm cho diện tích đất chuyên dùng của xã tăng lên (năm 2005 so với
năm 2007 diện tích đất chuyên dùng của xã tăng 17,21 ha, tương ứng với 26,95%).
25
25