PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ gần đây, do sức ép của sự gia tăng dân số và
nhu cầu phát triển của xã hội, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ
suy giảm về số lượng và chất lượng. Con người đã khai thác quá mức mà
chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai.
Nhằm ngăn chặn những suy thoái về tài nguyên đất đai đồng thời
cung cấp căn cứ khoa học cho việc sử dụng đất, quản lý đất hợp lý, bền
vững cần thiết phải có hướng nghiên cứu đánh giá sử dụng đất thích hợp
đối với điều kiện tự nhiên đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội của từng
khu vực cũng như từng vùng cụ thể.
Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế
cao là vấn đề quan trọng mà nhiều cơ quan quản lý Nhà nước cũng như
các hộ gia đình, cá nhân đặc biệt quan tâm. Hiện trạng sử dụng đất nông
nghiệp hiện nay ở các địa phương có thể nói phần nào đã khai thác được
tiềm năng vốn có của đất đai. Hiện nay, việc sử dụng tài nguyên đất đai
hợp lý, giữ gìn cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường
để phát triển bền vững là vấn đề có tính toàn cầu.
Quảng Thành là một xã có diện tích tự nhiên 1074,82 ha và dân số
11862 người. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của địa phương còn
một số tồn tại, nhiều loại hình sử dụng đất còn mang tính tự phát, chưa
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết đó tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ cấu đất trồng của người dân
1
ở xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm
tìm hiểu, phân tích vai trò của sự chuyển dịch cơ cấu đất trồng trên địa
bàn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1. Tìm hiểu thực trạng chuyển đổi cơ cấu đất trồng trên địa bàn
hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Tuy nhiên vai trò của đất đai đối với
từng ngành thì không hoàn toàn giống nhau cụ thể:
Đối với ngành phi nông nghiệp:
Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và
vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất,
là điều kiện vật chất tiên quyết cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra. Hiện nay, diện tích đất chuyên dùng và thổ cư ngày càng
tăng nhanh trong khi diện tích đất tự nhiên thì không thay đổi bao nhiêu,
dẫn đến nguồn tài nguyên đất ngày càng khan hiếm và thị trường đất luôn
luôn biến động gây khó khăn cho các nhà đầu tư kinh doanh cũng như đất
sản xuất, đất ở cho người dân.[3]
Đối với ngành nông - lâm nghiệp:
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là cơ sở không
gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại mà còn là yếu tố tích
cực của các quá trình sản xuất. Thể hiện ở chỗ đất cung cấp cho cây trồng
nước, không khí, các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng
và phát triển. Trong quá trình sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
con người luôn tìm cách tác động vào các tính chất hóa học, lý học, sinh
học để tăng độ phì cho đất. Đất đai quyết định đến quá trình sản xuất để
tạo ra sản phẩm vì vậy trong quá trình sử dụng đất cần phải biết cách khai
3
thác sử dụng chuyển đổi cơ cấu một cách hợp lý đồng thời phải bảo vệ
đất, cải tạo và nâng cao độ phì cho đất. Bên cạnh đó chúng ta cần phải lựa
chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp để nâng cao năng suất cho cây
trồng. [3]
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất.
Mỗi vùng, mỗi địa phương có quy mô cơ cấu sử dụng đất khác
nhau, diện tích của từng loại đất khác nhau cho nên quá trình sử dụng đất
cũng khác nhau. Việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất chịu ảnh hưởng bởi
các yếu tố sau: Kinh tế -xã hội, phương thức sản xuất, chính sách đất đai,
định rõ ràng từng loại đất, thiếu sự chỉ đạo và quản lý chặt chẽ thì không
thể tránh khỏi việc giảm diện tích đất nông nghiệp có giá trị cao, đặc biệt
là đất trồng lúa mà nhân dân ta phải trải qua nhiều thế hệ và tốn nhiều
công sức mới khai phá, tạo lập được. Đồng thời cùng với sự lớn mạnh của
khoa học kỹ thuật kéo theo sự sử dụng đất phải có hướng sử dụng toàn
diên. Chúng ta phải áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo để nâng cao
mức sản xuất của đất đai, thỏa mãn các nhu cầu của xã hội
Không những kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc chuyển đổi cơ
cấu sử dụng đất mà chính sách đất đai cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc
chuyển đổi đó.
Đối với hệ thống pháp luật về đất đai. Từ khi Luật đất đai năm
2003 có hiệu lực thi hành, phải sau nữa năm Chính phủ mới ban hành
được năm Nghị định chủ yếu để hướng dẫn thi hành bao gồm Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật đất đai, nghị định số 182-
NĐ/2004/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai,
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và
khung giá các loại đất, Nghị định số 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng
5
đất, nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất và sau gần một năm nghị định cuối cùng để hướng dẫn
thi hành là nghị định số 142/2005/NĐ-CP về thu tiền thuê đất thuê mặt
nước mới được ban hành. Nhà nước ta ban hành nhiều chính sách có thể
làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất chẳng hạn đối với đất nông nghiệp theo
nghị định 64/CP của Chính phủ với việc giao đất nông nghiệp theo
phương thức “có tốt, có xấu, có gần, có xa” đã làm cho đất đai ở trong
tình trạng manh mún, nhỏ lẻ và phân tán làm cho việc sản xuất kém hiệu
quả thì chính sách dồn điền, đổi thửa đã đem lại hiệu quả cao trong sản
xuất rồi các chính sách 135 đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa
cũng làm thay đổi việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đưa ra các
quyết định, quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với những
Như chúng ta đã biết tất cả các loại đất trên trái đất được hình
thành sau một quá trình biến đổi lâu dài trong tự nhiên, đất được cấu
thành bởi nhiều yếu tố tạo ra vùng khí hậu. Chất lượng của đất phụ thuộc
vào chất lượng của đá mẹ, khí hậu và các sinh vật sống trên trái đất và
trong lòng đất. Do vậy ở mỗi vùng, mỗi huyện thì có nhiều loại đất khác
nhau, cũng có những loại đất tốt và đất xấu vì vậy tùy vào loại đất mà
người ta bố trí cơ cấu sử dụng đất khác nhau. [4].
2.3. Sử dụng đất bền vững
2.3.1. Khái niệm sử dụng đất
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan
hệ người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
trường. Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu
không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương
hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai,
phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế,
7
xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của
nhân loại [5]. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng
đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự
nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ
và nội dung của sử dụng đất đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không
gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng,
hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy
mô kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất
đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh. [4]
2.3.2. Các luận điểm về sử dụng đất bền vững
Theo Lê Văn Khoa ( 1993): Để phát triển nông nghiệp bền vững
cũng loại bỏ những ý nghĩ đơn giản rằng:Nông nghiệp, công nghiệp hóa
sẽ đầu tư từ bên ngoài vào.
Theo Phạm Chí Thành (1996) cho rằng có 3 điều kiện để tạo nông
nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên,những tổ chức từ
bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địa phương. Tác giả cho rằng xu
thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước khởi xưởng và hiện
nay đã trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng kế
thừa, chắt lọc cái tinh túy của nền nông nghiệp chứ không chạy theo cái
hiện đại đê bác bỏ những cái thuộc về truyền thống. Trong nông nghiệp
bền vững việc chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không
thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra nghiên cứu để hiểu biết
thiên nhiên.
9
Không ai biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính
những người sinh ra và lớn lên ở đó qua nhiều thế hệ. Vì vậy, xây dựng
nông nghiệp bền vững nhất thiết cần phải có sự tham gia của người dân
trong vùng nghiên cứu.
Theo FAO (1989) “phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn
cơ sở tài nguyên thiên nhiên; định hướng những thay đổi công nghệ và
thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên
tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau.
Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen động
và thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lời
kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội”. [9]
Trong khung đánh giá việc quản lý đất đai của Hội thảo Quốc tế
Nairobi(1991) đã đưa ra 5 nguyên tắc chính làm nền tảng cho sử dụng đất
bền vững:
- Duy trì và nâng cao năng suất.
a) Loại hình sử dụng đất trồng lúa 2 - 3 vụ
Loại hình sử dụng đất này gồm 51 đơn vị đất đai trong đó nhóm đất
phù sa chiếm ưu thế, tập trung nhiều nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
và Đồng Bằng Sông Hồng. Đây là loại hình sử dụng đất cũng cho hiệu
quả kinh tế cao đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và tận dụng được
nguồn lao động tại chỗ. Chẳng hạn:
- Loại hình sử dụng đất trồng lúa 3 vụ/năm tập trung ở các vùng từ
Duyên Hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu
Long. Giá trị sản lượng trên một hécta đất từ 13 - 14 triệu đồng, lãi thuần
11
đạt từ 6 - 8 triệu đồng trên một hécta và hiệu quả đồng vốn đạt từ 0,8 - 1,3
lần.
- Các loại hình sử dụng đất trồng lúa 2 vụ/ năm thường cho thu nhập
thuần và hiệu quả vốn cao hơn loại hình trồng lúa 3 vụ/năm.
Yêu cầu sử dụng đất quan trọng nhất của các loại hình sử dụng đất
nói trên là chế độ nước, vì vậy để đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả việc
lựa chọn địa hình đất, thành phần cơ giới, chế độ đầu tư phân bón và
phòng trừ dịch hại rất cần phải được chú trọng. [7]
b) Loại hình sử dụng đất trồng 2 - 3 vụ lúa-cây trồng cạn
Đây là các loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là
loại hình sử dụng đất trồng 2 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn vì loại hình sử
dụng đất này đáp ứng được yêu cầu của một loại hình sử dụng đất bền
vững, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đa dạng hóa cây trồng ở vùng
đồng bằng. Trên toàn quốc có 59 đơn vị đất đai, tập trung chủ yếu ở Đồng
Bằng Sông Hồng, ở vùng Việt Bắc và Duyên Hải Bắc Trung Bộ. Các
kiểu sử dụng đất trong loại hình sử dụng đất này rất phong phú và đa
dạng về chủng loại, đặc biệt đối với các loại cây màu và cây công nghiệp
ngắn ngày. Các kiểu sử dụng đất của loại hình sử dụng đất này đều cho
hiệu quả kinh tế cao, thu hút được nguồn nhân lực tại chỗ và đảm bảo
tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng. Một số công thức luân canh có cây
đất rừng bao gồm các rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng trồng và đều
rất cần được duy trì và bảo vệ, đặc biệt đối với các nguồn gen quý hiếm
của các loại cây rừng và muông thú vùng nhiệt đới ẩm. Bên cạnh đó, loại
hình này cũng mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, góp phần nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống của người dân.
e) Loại hình sử dụng đất trồng cây công nghiệp dài ngày
13
Toàn quốc hiện có 62 đơn vị đất đai, tập trung chủ yếu ở vùng đồi
núi thấp và trung du trên các loại đất đỏ và đỏ vàng của các loại đá mẹ
khác nhau. Đây là các loại hình sử dụng đất vừa cho hiệu quả kinh tế cao
vừa tạo công ăn việc làm và bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như:
- Loại hình sử dụng đất trồng cà phê của vùng Tây Nguyên cho hiệu quả
kinh tế cao hơn hẳn các loại hình sử dụng đất khác đồng thời có tác dụng
tăng độ che phủ đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất (Ví dụ: Hàm
lượng chất hữu cơ trong đất trồng cà phê 8 năm tuổi là 3,37%, trong khi
đó hàm lượng các chất này trên đất trồng cây ngắn ngày chỉ đạt 1,53%).
- Loại hình sử dụng đất trồng chè cũng là loại hình sử dụng đất cho hiệu
quả kinh tế cao hơn hẳn các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt ở vùng
đồi núi các tỉnh phía bắc. Những mô hình trồng chè theo đường đồng mức
với các loại cây che tán đã làm tăng khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất
dốc, phục hồi sinh thái vùng chè cho nhiều tỉnh.
Loại hình sử dụng đất trồng cà phê có tưới ở Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên cũng cho hiệu quả kinh tế cao và làm tăng độ che phủ đất lên
60 – 70%. Vì vậy làm tăng khả năng chống xói mòn, rửa trôi, duy trì độ
phì của đất (Hàm lượng chất hữu cơ trên đất trồng cà phê 20 tuổi là
3,75%, trong khi trên đất trồng lúa rẫy, hàm lượng này chỉ còn 2,66% và
trên loại hình sử dụng đất trồng mô hình xen canh Đậu + lúa, hàm lượng
chất hữu cơ chỉ còn 2,87%). [6]
2.4. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban
kê, mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới còn tác động đến những tháng
đầu năm 2010 và tác động của thiên tai, dịch bệnh nhưng tốc độ tăng
trưởng của ngành nông nghiệp năm 2010 vẫn đạt 2,8% tăng 0,9% so với
15
năm 2009. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006- 2010 đạt 3,36%
năm vượt mức mục tiêu 3 - 3,2% năm của Đại hội Đảng X đề ra và kế
hoạch phát triển 5 năm của ngành. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tính
tăng 4,69%, bình quân tăng 4,93% năm (mục tiêu kế hoạch là 4,5%) trong
giai đoạn 2006-2010. Trong năm 2010, ngành nông nghiệp và phát triển
nông thôn đã có 3 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD là
thủy sản 4,94 tỷ USD, tăng trên 16% so với năm 2009; đồ gỗ đạt 3,36 tỷ
USD, tăng gần 30% và gạo 3,23 tỷ USD. Tiếp đến cao su là mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD và 2 mặt hàng cà phê, hạt điều có kim
ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. [10]
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì ngành nông nghiệp vẫn còn
tồn tại những bất cập, nhất là trong vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, đó
là: Mặc dù là một nước nông nghiệp nhưng Việt Nam lại là nước có diện
tích đất nông nghiệp bình quân tính theo đầu người vào loại thấp nhất trên
thế giới .
Bảng 1. So sánh diện tích đất nông nghiệp bình quân theo nhân khẩu
nông nghiệp của thế giới và của một số nước ở khu vực Đông Nam Á
Khu vực nước Qũy đất nông nghiệp bình quân đầu người (ha)
Thế giới 0,40
Malaysia 0,69
Thái Lan 0,27
Indonexia 0,90
Philippin 0,27
Việt Nam 0,112 (Theo số liệu năm 2009)
Từ năm 1943 đến năm 2009 diện tích đất nông nghiệp của nước ta từ
5,6 triệu ha tăng đến 9.598.800 ha. Tuy nhiên, do tốc độ đô thị hóa và tốc
việc sử dụng một cách có hiệu quả tài nguyên đất về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. [10]
17
2.5. Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt nam
Nền kinh tế Việt Nam chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá, cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa,
hội nhập vào kinh tế toàn cầu được xác định là con đường tất yếu để Việt
Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một
quốc gia văn minh, hiện đại. Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá là
tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây
dựng và thương mại - dịch vụ, đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá
trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến
những biến đổi trong quá trình sử dụng đất cho phù hợp với định hướng
phát triển đã đặt ra.
Theo kết quả của Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa công bố số
liệu về diện tích đất lúa và đất phi nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc là
mỗi năm giảm hơn 7.000 ha đất lúa và tăng gần 17 ha đất phi nông
nghiệp.
Theo đó, tính đến hết năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm
kê của cả nước là 33.093.857 ha, bao gồm 26.100.160 ha đất nông
nghiệp, 3.670.186 ha đất phi nông nghiệp và 3.323.512 ha đất chưa sử
dụng. Ngoài ra, còn có 47.254 ha đất có mặt nước ven biển sử dụng cho
nuôi trồng thủy sản, rừng ngập mặn và du lịch biển. Trong đó, diện tích
đất đã có chủ quản sử dụng là 24.989.102 ha (chiếm 75,51%).
Trong nhóm đất phi nông nghiệp, diện tích đất ở năm 2010 của cả
nước tăng 82.049 ha so với năm 2005, song diện tích đất ở bình quân đầu
người vẫn giữ ở mức 79 m
2
thành lập. Tuy nhiên, vẫn còn một số tổ chức quản lý và sử dụng chưa
chặt chẽ, dẫn đến bị các đối tượng khác lấn chiếm, sử dụng không đúng
mục đích. Cụ thể, cả nước có 16 tỉnh báo cáo và có 394 tổ chức đã được
kiểm tra, xử lý với tổng diện tích đã được xử lý là 758 ha. Theo Bộ Tài
nguyên và Môi trường đến nay cả nước đã thực hiện đo đạc lập bản đồ
19
địa chính với tổng diện tích 24.790.718 ha đạt 75% tổng diện tích tự
nhiên. [8]
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những nông hộ tham gia vào hoạt động trồng trọt và sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Tình hình kinh tế, xã hội của xã
+ Tình hình sử dụng đất đai của xã
+ Tình hình dân số, lao động của xã và nông hộ
+ Thực trạng chuyển đổi đất trồng trên địa bàn nghiên cứu
Cơ cấu diện tích đất canh tác của xã và nông hộ
Cơ cấu diện tích đất gieo trồng của xã và nông hộ
+ Vai trò của quá trình chuyển đổi đối với đời sống của người dân
+ Những thuận lợi, khó khăn và một số định hướng chuyển dịch
đất trồng trong những năm tới.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại xã Quảng
Thành , huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập các thông tin từ năm 2008 đến
2010
3.3. Phương pháp nghiên cứu
a. Chọn điểm nghiên cứu
- Quan sát: để có cách nhìn tổng quan về hệ thống sản xuất của nông hộ,
đồng thời kiểm chứng lại thông tin từ các nguồn khác.
3.4. Phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được mã hóa và xử lý thông qua phần
mềm Excel
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp định tính và phương
pháp định lượng.
22
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Quảng Thành
Là một xã nằm cuối hạ lưu sông Bồ, Quảng Thành mang trong mình
những yếu tố, tiềm năng, thế mạnh riêng biệt. Với vùng đất phì nhiêu, xã
Quảng Thành đã khuyến khích, vận động nhân dân mạnh dạn chuyển đổi
đất trồng những loại cây có giá trị kinh tế thấp sang trồng các loại cây có
giá trị kinh tế cao. Đến nay, toàn xã đã đưa vào trồng 68 ha rau xanh. đây
là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế khá lớn, bình quân mỗi ha rau
xanh cho thu nhập từ 100 -120 triệu đồng/năm. Cùng với sản xuất rau
xanh, Quảng Thành là một trong những vựa lúa lớn nhất của huyện
Quảng Điền. Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp ở Quảng Thành
có bước chuyển biến mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa. Bà con
nông dân đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chú trọng đưa
các loại giống có chất lượng vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập trên
đơn vị diện tích canh tác; Trong đó chú trọng đưa các giống lúa như HT1,
IR352. Nhờ đó, trong những năm gần đây, năng suất, giá trị, sản lượng
lương thực đạt bình quân tăng đáng kể. Bên cạnh đó, các lĩnh vực nuôi
trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm được người dân khai thác một
cách có hiệu quả, tạo đà vững chắc cho nền kinh tế ngày càng phát triển
theo hướng đa dạng.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
+ Cơ sở hạ tầng:
Giao thông: Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp
chính quyền và các ban ngành, cùng với sự nổ lực của cả hệ thống chính
trị của xã, hệ thống giao thông trên địa bàn Quảng Thành có sự chuyển
biến đáng kể so với trước, phần nào đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và
sản xuất của người dân. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu về xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Thuỷ lợi: Thuỷ lợi là yếu tố vô cùng quan trọng trong phát triển
nông nghiệp. Nhìn chung mạng lưới thuỷ lợi của xã đã được chú ý cải
tạo, tuy nhiên chất lượng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất theo hướng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá chưa cao.
+ Đất đai và tình hình sử dụng đất : Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá
của mỗi quốc gia, là tư liệu sản suất chủ yếu và đặc biệt không thể thay
thế được, là một trong những yếu tố quan trọng nhất của môi trường sống.
Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất được tổng hợp ở bảng 1.
25