PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Lí do nghiên cứu
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta. Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Nông thôn nước ta đã đạt
được thành tựu khá toàn diện và to lớn, góp phần quan trọng ổn định tình hình
kinh tế, xã hội, chính trị, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người
dân. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi
thế và chưa đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Nông nghiệp phát
triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho
phát triển sản xuất, chuyển giao khoa học- công nghệ và đào tạo nguồn nhân
lực còn hạn chế, sản xuất nhỏ phân tán, năng suất chất lượng, giá trị gia tăng
nhiều mặt hàng thấp. Xuất phát từ những khó khăn hạn chế nêu trên, chương
trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất to lớn. Để thực hiện chủ trương
này, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định 800 ngày 4-6-2010 phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời ban hành bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới gồm 19 tiêu chí để làm căn cứ cho việc thực hiện chương trình
xây dựng NTM. Đây là một trong những chủ trương mang tính chiến lược mở
ra vận hội mới vô cùng quan trọng cho phát triển đất nước.
Trong phạm vi toàn quốc, chương trình xây dựng nông thôn mới đã
được xây dựng thí điểm quy mô cấp xã từ năm 2001 với 11 xã được chọn để
thử nghiệm chương trình này. Kết quả bước đầu rất khả quan đã định hình
được hình thái nông thôn mới của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ở Thừa Thiên Huế, bước đầu có 6 xã được tỉnh đưa vào diện quy hoạch
xây dựng điểm nông thôn mới và Phong Mỹ là một trong những địa phương
được chọn làm điểm của Tỉnh. Với lợi thế là một xã vùng cao diện tích đất
lớn, Phong Mỹ có nhiều thế mạnh để thực hiện thành công NTM. Tuy nhiên,
cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, việc thực hiện chương trình nông
thôn mới đang gặp nhiều khó khăn: Xuất phát điểm thấp còn nhiều tiêu chí
NTM chưa đạt được, nguồn lực hạn chế, tổ chức thực hiện còn gặp nhiều lúng
túng, sự tham gia của người dân còn hạn chế Do đó, chương trình xây
xuất tiếp tục đổi mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ
mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư
ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo
đạt kết quả to lớn. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng
cường. Dân chủ cơ sở được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng
cao. [18]
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa
phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa
học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, năng
suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và
ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới,
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp và
nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu
kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai
còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn
còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng
3
xa, chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn
lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.[18]
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển
nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực
này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chính sách không
hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đầu
tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông
vững, đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. [20]
* Đặc trưng của nông thôn mới giai đoạn 2010-2020[19]
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông
thôn được nâng cao
Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và
phát huy
An ninh tốt, quản lý dân chủ
Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
* Mục tiêu là xây dựng nông thôn mới[8]
Mục tiêu chung:
Nông thôn mới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại.
Cơ cấu kinh tế, tổ chức sản xuất hợp lý.
Phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, gắn với phát triển nông
nghiệp.
Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, bản sắc văn hoá, môi tường
sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững, vật chất
tinh thần người dân được nâng cao.
5
Mục tiêu cụ thể:[8]
Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới.
Đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới.
* Các nội dung xây dựng nông thôn mới[8]
Nội dung xây dựng nông thôn mới được thể hiện trong chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới bao gồm:
Quy hoạch xây dựng nông thôn
Phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Diện tích sử dụng bình quân tối thiểu 12m
2
/trẻ đối với khu vực nông thôn,
miền núi và 8m
2
/trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã.
- Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã
hoạt động có hiệu quả là trên địa bàn xã có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã được
thành lập chuyên sản xuất, làm một số dịch vụ hoặc kinh doanh tổng hợp
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, kinh doanh có lãi được Uỷ ban
nhân dân xã xác nhận.
- Tiêu chí về y tế được quy định cụ thể như sau: người dân được coi là
tham gia BHYT khi đã tham gia một trong các hình thức do ngân hàng nhà
nước hoặc quỹ bảo hiểm xã hội đóng BHYT
- Tiêu chí về văn hoá: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn
làng văn hoá theo Quy chế công nhận danh hiệu "Gia đình văn hoá", "Làng
văn hoá", "Tổ dân phố văn hoá".
Bên cạnh đó, các tiêu chí về thu nhập, cơ cấu lao động, hệ thống bưu
chính viễn thông, đã được nêu lên và quy định mức cụ thể cho từng miển
trong cả nước đảm bảo chương trình mang lại bộ mặt mới cho nông thôn theo
hướng văn minh, hiện đại.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Hàn Quốc
Trong khu vực châu Á, Hàn Quốc là nước đầu tiên thực hiện chủ
trương xây dựng nông thôn mới. Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc
còn hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn. Cả nước có 34%
hộ nghèo đói và chỉ có 20% hộ tiếp cận với điện. Trước hoàn cảnh đó, bước
vào những năm 1970, chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện chương trình
"Nông thôn mới" với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Cách
hiện đại tiếp tục phát triển.[1]
8
2.2.1.3. Nhật Bản
Bắt đầu từ thời Minh Trị Duy Tân cho đến khi công nghiệp phát triển
nhanh chóng sau chiến tranh, lương thực luôn là một trong những vấn đề chủ
yếu mà Nhật Bản luôn phải đối diện. Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX,
sự tăng tốc của công cuộc công nghiệp hoá ở Nhật Bản đã thu hút một lượng
lớn sức lao động của nông nghiệp, lực lượng lao động ở nông thôn thiếu hụt
nghiêm trọng. Lúc này, Nhật Bản đã nhanh chóng chuẩn bị và cung cấp cho
nông nghiệp một lượng lớn máy móc công cụ bắt đầu thời kỳ cơ khí hoá nông
nghiệp quy mô lớn. Để có nền nông nghiệp phát triển như vậy, chính phủ
Nhật Bản đã mạnh dạn đầu tư một khoản kinh phí rất lớn để phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn, cải thiện môi trường, đưa nước, đường, điện, điện thoại
đến tận nhà dân, miễn phí hoàn toàn giáo dục sơ đẳng, tạo dựng mối quan hệ
hài hoà giữa thành thị và nông thôn tác động tới nhau. Về cơ bản, Nhật Bản
đã làm tốt việc phát triển cân bằng và bền vững.[1]
2.2.1.4. Trung Quốc
Việc chỉ đạo của chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính,
việc thực hiện của cấp dưới khá miễn cưỡng nên kết quả phát triển nông thôn
cũng hạn chế. Gần đây, Trung Quốc đưa ra chương trình "Tam nông". Vấn đề
cốt lõi của "Tam Nông" là giải quyết sự chênh lệch thu nhập giữa dân cư
thành thị và nông thôn. Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính
sách cải cách ở nông thôn. Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân
nông thôn lần đầu tiên đạt mức 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước. Việc
thực hiện xây dựng nông thôn mới linh hoạt hơn dựa trên quy hoạch tổng thể,
căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội để đưa
ra chính sách, biện pháp thích hợp. Định hướng phát triển "Tam nông" ở
Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hoá và nông dân
chuyên nghiệp hoá.[2]
Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản của phong trào xây dựng nông
Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến
tham quan và học tập[25]. Một số địa phương điển hình là
2.2.2.1. Tân Thịnh
So với 19 tiêu chí để xây dựng nông thôn mới, sau hơn 1 năm triển khai
xây dựng NTM từ một xã nghèo của tỉnh Bắc Giang, Tân Thịnh đã trở thành
xã điển hình của tỉnh trên nhiều mặt, đạt được 18/19 tiêu chí về NTM.100%
10
trường học trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia; có điểm bưu điện văn hóa xã,
internet đã về đến 12/12 thôn; xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 100% đường
giao thông nông thôn được cứng hóa; thu nhập bình quân đầu người gấp 1,38
lần bình quân chung của tỉnh.[30]
Cách làm hay ở Tân Thịnh là chính quyền địa phương đặc biệt chú
trọng phát triển sản xuất nông nghiệp bên cạnh việc đầu tư xây dựng hệ thống
hạ tầng. Chẳng thế mà 2 trạm bơm tại thôn Tân và Non Than đã được cải tạo,
nâng cấp với chiều dài 2km và đang trong quá trình hoàn thiện một số tuyến
kênh mương, đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp[30]
2.2.2.2. Tân Thông Hội-thành phố Hồ Chí Minh
Đến nay xã đã hoàn thành 15/19 tiêu chí xây dựng NTM, đã có hơn
57% lao động qua đào tạo nghề, có 10.000 lao động sau đào tạo đã có việc
làm tại các nhà máy, xí nghiệp. Từ nguồn vốn của chương trình, xã đầu tư chủ
yếu vào giao thông, thủy lợi, văn hóa giáo dục phục vụ nhu cầu sát thực với
người nông dân. Thu nhập bình quân của người nông dân xã Tân Thông Hội
ở thời điểm cuối năm 2010 qua khảo sát của Cục Thống kê thành phố Hồ Chí
Minh là 24,2 triệu đồng/người/năm, cao hơn so với mức bình quân của huyện
(18,6 triệu đồng/người/năm). [24]
Huy động được sức dân, để nông dân thực sự vào cuộc xây dựng NTM
là rất quan trọng. Vốn huy động từ dân của xã đóng góp cho chương trình đã
là hơn 103 tỷ đồng.[24]
Phải có 3 trụ cột là xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, thay đổi
nhận thức của người dân, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm và phát triển
thực hiện 7 dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ký kết với một số đơn vị
kinh doanh để đầu tư, bao tiêu sản phẩm[29].
2.2.3. Thực trạng nông thôn và chương trình xây dựng NTM mới ở Thừa
Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên 5.062,59 km
2
, dân số
1.088.822 người, chiếm 1,5% diện tích và 1,35% dân số cả nước. Khu vực
nông thôn có 231.665 hộ, chiếm 62,2% tổng số lao động xã hội. Tỷ trọng lao
động nông lâm thuỷ sản 51,6% (cả nước là 56,7%), tỷ trọng lao động công
nghiệp- tiểu thủ công nghiệp- xây dựng là 20,9%, tỷ trọng lao động trong các
ngành dịch vụ 25,1%.[3]
12
2.2.3.1. Hạ tầng kinh tế - xã hội
Hệ thống giao thông nông thôn: Đường trục xã, liên xã có 991,71 km.
Đã trải nhựa hoặc bê tông hoá 773 km chiếm 73,96%. Đường thôn xóm là
1.739,4 km trong đó 935,7 km ( 53,23%) đã được cứng hoá. Đường ngỏ xóm
là 1.707,87 km trong đó 724,05 km (42,39%) đã được bê tông hoá. Đường
trục chính nội đồng tổng số là 1.122,35 km, trong đó 234,21 km (21,67%) đã
được cứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Hệ thống giao thông nông thôn
trong những năm qua đã được đầu tư nâng cấp cải tạo bằng nhiều nguồn lực
khác nhau: chương trình 257 của nhà nước, các dự án sử dụng vốn ODA
nên cơ bản đáp ứng phát triển kinh tế cũng như nhu cầu đi lại, sinh hoạt của
nhân dân. Tuy nhiên, các xã khó khăn, vùng thấp ven biển và hệ thống giao
thông nội đồng còn ở mức độ hạn chế nên gặp khó khăn trong việc phát triển
kinh tế cũng như sinh hoạt của người dân.[3]
Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh. Toàn
tỉnh có trên 500 công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, bao gồm 259 trạm bơm
điện,239 hồ đập để chủ động cung cấp nước cho 17.032 ha và tiêu ứng cho
8.000 ha lúa. Ngoài ra, còn có 2 đập ngăn mặn, trên 100 cống lấy nước, trên
xuất: Hợp tác xã và các đội sản xuất độc lập là đơn vị sản xuất phổ biến, toàn
tỉnh có 161 hợp tác xã nông nghiệp. Trong đó có 25 hợp tác xã làm ăn có lãi
bình quân hằng năm từ 200 triệu đồng/năm đến 526 triệu đồng/năm. Có 478
trang trại với tổng diện tích sử dụng 4.157,7 ha.
Mặc dù kinh tế khu vực nông thôn đã có bước phát triển, cơ cấu kinh tế
có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ nhưng còn chậm, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao. Cơ cấu
lao động trong nông nghiệp còn cao, các hình thức tổ chức sản xuất còn đơn
điệu, chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp. Tỷ lệ lao động nông thôn thiếu việc
làm có xu hướng ngày càng gia tăng, công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn còn nhiều bất cập, thu nhập người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn
cao.
Y tế: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 63,62% cao hơn 2 lần
so với tiêu chuẩn quốc gia. Tỷ lệ người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm đạt
143% so với kế hoạch, đã cấp 180.262 thẻ khám bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi,
100% trẻ em được hưởng chính sách khám và chữa bệnh miễm phí, công
bằng. 100% trạm y tế có bác sĩ biên chế tại trạm, hoặc tăng cường để thực
hiện công tác khám, điều trị bệnh chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân.
Có 98 trạm y tế (87,50%) đạt chuẩn quốc gia, còn lại 14 xã có trạm y tế
14
nhưng chưa đạt chuẩn do trang thiết bị còn thiếu, công tác duy tu bão dưỡng
chưa được chú trọng.
Văn hoá: Công tác tuyên truyền vận động người dân tham gia xây dựng
nếp sống văn minh được phổ biến sâu rộng dưới nhiều hình thức. Các di tích
lịch sử, văn hoá được đầu tư trùng tu, tôn tạo. Các hoạt động văn hoá thể thao
quần chúng, các lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển. Đã có 1.135
làng, thôn, bản được công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hoá. Có 189.060 gia
đình được công nhận gia đình văn hoá.
Môi trường: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo chuẩn
quốc gia đến cuối năm 2009 ở khu vực nông thôn là 82,96%. Công tác thu
đều được bê tông hóa và nhựa hóa; 100% số xã có điện sinh hoạt với hơn
99,3% số hộ được dùng điện; 87% số hộ nông thôn và 98,9% số hộ ở thành
thị được dùng nước sạch và nước vệ sinh; 100% số xã được phủ sóng truyền
hình là những cơ sở thuận lợi để thực hiện có hiệu quả chương trình xây
dựng nông thôn mới.[22]
2.3. Một số thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM
2.3.2. Thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM của cả nước
2.3.2.1. Thuận lợi
Thuận lợi lớn nhất là được sự đồng thuận của toàn dân. Nhờ làm tốt
công tác tuyên truyền, nên người dân nơi đây đã đồng tình, ủng hộ việc xây
dựng NTM.Người dân được đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế
hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình
xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau Bởi vậy, quá trình
thực hiện đã thu hút được đông đảo người dân phấn khởi, đồng lòng tham gia.
Người dân tham gia đóng góp công sức, hiến đất, tiền bạc để thực hiện thành
công chương trình xây dựng NTM.[26]
Một thuận lợi khác là việc xây dựng NTM được đưa ra đúng vào thời
điểm với Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng, cho nên được
bàn rất sâu rộng từ chi bộ đảng tới đại hội.[31]
Ngoài ra, điều kiện để xây dựng NTM thích hợp là một thuận lợi không
nhỏ, nếu xây dựng NTM cách đây vài năm thì không dễ chút nào. Hiện trong
nước và quốc tế đều ủng hộ chúng ta xây dựng NTM. Việt Nam cam kết đến
năm 2020 cơ bản là nước công nghiệp, một nước công nghiệp mà nông thôn
lạc hậu, mà nông dân nghèo thì không thể là nước công nghiệp. Hơn nữa, việc
16
tổng kết 25 năm đổi mới đã cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm, vấn đề
là chuẩn bị thế nào cho thời gian tiếp theo phù hợp với thực tiễn.[31]
2.3.2.2. Khó khăn
Xuất phát điểm của các vùng nông thôn trong cả nước còn quá thấp là
một trong những khó khăn trong xây dựng NTM trong cả nước. Tình trạng
Huế luôn duy trì ở mức cao so với bình quân chung của cả nước 12%/năm.
Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực tăng tỷ trọng của ngành du lịch dịch
vụ từ 16,1% lên 21,2% năm 2010.[17]. Đây là một trong những điều kiện góp
phần đẩy mạnh việc triển khai các chương trình hành động xây dựng nông
thôn mới.
Mặc khác, việc thực hiện chương trình NTM được sự quan tâm của các
cấp, các ngành địa phương. Người dân hưởng ứng tích cực vào công cuộc xây
dựng NTM: Nam Đông người dân hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, ở
Quảng Phú người dân tham gia tích cực xây dựng NTM từ ý tưởng lập kế
hoạch đến tổ chức triển khai.[18]
2.3.3.2. Khó khăn
Việc thực hiện chương trình NTM trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Những chỉ tiêu chung của tiêu chí NTM
là khá cao so với thực trạng nông thôn Tỉnh Thừa Thiên Huế: Cả tỉnh có 152
phường xã, trong đó có 53 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 10% và 99 xã có tỷ lệ hộ
nghèo từ 10% trở xuống so với chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo trong xây dựng NTM
là dưới 6%. Đến tháng 6/2010 Thừa Thiên Huế chỉ có 25 % số trường đạt
chuẩn quốc gia trong khi để đạt được tiêu chí NTM cần đạt tới 80%.[4].
Mặc khác, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp cao
vào khoảng 62,93%. Để đạt được tiêu chí NTM là thấp hơn 35% cần có nhiều
biện pháp đồng bộ, dài hạn mới thực hiện được.[6] Sản xuất của nông dân còn
thiếu chủ động, lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường. Tình trạng được mùa rớt
giá diễn ra khá phổ biến. [4]
Ngoài ra, nguồn vốn để thực hiện chương trình còn thiếu, giải ngân vốn
nhà nước còn chậm làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện các hoạt động
xây dựng NTM.[4]
18
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
tình hình sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật của hộ. Đồng thời
xem xét khả năng quản lí, sử dụng nguồn vốn để đầu tư cho hoạt động tái sản
xuất của hộ. Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập
cho người dân.
Phiếu điều tra đã được thử nghiệm để kiểm tra tính logic, đảm bảo các
phần trong bảng hỏi phản ánh đúng thực tế hoạt động sản xuất của địa
phương, thông tin thu thập chính xác. Sau đó được chỉnh sửa và hoàn thiện
trước khi điều tra chính thức.( Xem nội dung chi tiết ở phụ lục 1)
Chọn mẫu nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, 80 hộ đã được lựa chọn theo phương pháp
chọn mẩu ngẩu nhiên có định hướng dựa trên danh sách hộ của 4 thôn: bản
Khe Trăn, thôn Lưu Hiền Hoà, thôn Tân Mỹ, thôn Đông Thái. Định hướng ở
đây là các hộ được chọn có cả các hộ khá, trung bình,nghèo dựa theo tỷ lệ
giàu, nghèo ở địa phương. Các hộ tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp dịch vụ trên địa bàn. Bốn
thôn trên mang tính đại diện ở xã Phong Mỹ
Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp đại diện hộ được chọn với
phiếu điều tra đã chuẩn bị trước.
b. Phỏng vấn người am hiểu: Phỏng vấn sâu đã được thực hiện ở hai cấp: cấp
xã và cấp thôn.
- Ở cấp xã, tiến hành phỏng vấn Chủ tịch UBND xã, chủ tịch hội Nông
dân, cán bộ phụ trách nông nghiệp xã để tìm hiểu về thực trạng xây dựng
NTM trên địa bàn, các giải pháp mà địa phương đã và đang thực hiện để xây
dựng NTM trong thời gian qua. Đồng thời, để tìm hiểu hoạt động sản xuất,
nguyên nhân nghèo đói tại địa phương. Từ đó đề ra các giải pháp riêng cho
các lĩnh vực cụ thể để góp phần đạt được các tiêu chí quốc gia về xây dựng
NTM. (Xem nội dung chi tiết ở phần 1, phụ lục 2)
- Ở cấp thôn, tiến hành phỏng vấn trưởng thôn, chủ nhiệm HTX, để tìm
hiểu sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM tại địa phương.
Đồng thời, tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng các hoạt động sản xuất tạo thu nhập
Các số liệu thu thập được tổng hợp mã hoá và xử lý bằng phần mềm
EXCEL, SPSS 16.0 for Window để tính các tham số thống kê.
21
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Phong Mỹ
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý: Phong Mỹ là xã vùng gò đồi của huyện Phong Điền,
cách trung tâm huyện lỵ 15 km về phía Tây. Có diện tích đất tự nhiên là
39.400 ha, gồm 1210 hộ và 6279 khẩu. Là một xã thuần nông với các loại cây
trồng chính là lúa, lạc, cây cao su và trồng rừng, trên 90% dân số của xã sống
dựa vào nông nghiệp.
Phía Đông giáp xã Phong Xuân
Phía Tây giáp xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp huyện Alưới
Phía Bắc giáp xã Phong Thu.
Phong Mỹ có các tuyến đường giao thông kéo dài từ Đông sang Tây:
Tỉnh lộ 17, Tỉnh lộ 9, Tỉnh lộ 11B rất thuận lợi cho giao thông đi lại và phát
triển kinh tế.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình chủ yếu là vùng gò đồi chạy dọc theo dãy Trường Sơn. Vùng
đồi độ cao trung bình so với mực nước biển là 150 m.
Có 2 hệ thống sông chính đó là sông Ô Lâu và sông Quao, 1 đập thuỷ
lợi có sức chứa 9,7 tỷ khối cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp địa
phương.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của lãnh thổ cả nước,
kèm theo đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu xã Phong Mỹ mang
những nét riêng là: Nhiệt độ trung bình năm: 18 – 20
ha 0,78
2.1.3 Đất quốc phòng ha 17,89
2.1.4 Đất an ninh ha
2.1.5 Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp
ha 44,49
2.1.6 Đất có mục đích công cộng ha 130,17
2.2 Đất tôn giáo, tín ngưỡng ha 2,54
2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa ha 25,77
2.4 Đất mặt nước chuyên dùng ha 158,49
3. Đất chưa sử dụng ha 12090,24
(Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng đất xã Phong Mỹ, 2010)
Đất đai trên địa bàn xã chủ yếu là dạng đất thịt nhẹ, phù hợp với các
loại cây trồng công nghiệp: cao su, hồ tiêu, lạc… Cơ cấu sử dụng đất cho
23
thấy, lâm nghiệp là một trong những thế mạnh của xã khi chiếm tới 62%
trong khi, diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 5% diện tích đất tự nhiên của
xã.
Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy tài nguyên đất của xã vẫn chưa được
khai thác tối đa. Cơ cấu đất chưa sử dụng chiếm đến 31% diện tích đất tự
nhiên của xã. Do đó xu hướng mở rộng diện tích đất sản xuất vẫn còn rất lớn.
4.1.2.2. Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là nhân tố quyết định đến việc phát triển kinh tế của
địa phương. Nó vừa tạo tiềm lực phát triển, vừa cản trở việc phát triển khi
việc làm và đời sống nhân dân không được đảm bảo. Chúng tôi đã tìm hiểu
chỉ tiêu này và kết quả được trình bày ở bảng 4. 2.
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động của xã Phong Mỹ
STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2010
1 Tổng số hô Hộ 1.278
2 Tổng số nhân khẩu Người 5.568
việc đi lại, giao lưu buôn bán hàng hóa với các vùng khác, người dân có điều
kiện phát triển sản xuất, đời sống người dân ngày càng được cải thiện.
4.1.2.4. Tình hình phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành mang lại thu nhập cho các hộ
dân trên địa bàn với các loại cây lương thực (lúa, lạc), cây cao su, cây sắn.
Sản xuất lúa chủ yếu để cung cấp lương thực và phụ phẩm làm thức ăn cho
chăn nuôi. Diện tích lúa gieo cấy cả năm là 269,4 ha, chủ yếu là giống lúa
Khang dân, HT1. Năng suất lúa còn ở mức thấp bình quân đạt 40 tạ/ha.
Trồng sắn là một trong những thế mạnh của xã với diện tích trồng sắn trong
năm khoảng 225 ha, năng suất bình quân 20 tạ/ha. Ngoài ra, sản xuất lạc cũng
đem lại thu nhập không nhỏ cho các hộ. Lạc Thường được trồng vào vụ Đông
Xuân với diện tích 168 ha, năng suất lạc bình quân khoảng 20 tạ/ha. Bên cạnh
đó, cây cao su là một trong những cây thế mạnh của địa phương với diện tích
lên đến 1.260 ha, đã đưa vào khai thác khoảng 674,3 ha, thu nhập bình quân
đạt từ 43-50 triệu đồng/ha/năm.
Ngành Lâm nghiệp cũng là một trong những ngành sản xuất kinh tế
mũi nhọn của địa phương với tổng diện tích đất trồng rừng có khoảng 21.885
ha. Trong đó, rừng đặc dụng là 19.095 ha do khu bảo tồn thiên nhiên Phong
Điền quản lí. Rừng phòng hộ 1.870 ha do công ty lâm nghiệp Phong Điền
quản lí được phân bổ trồng sát dọc thượng nguồn sông Ôlâu, sông Quao.
Rừng trồng kinh tế là 1.409 ha do các hộ dân trồng theo dự án ngành lâm
nghệp ( WB3), rừng trồng theo dự án 327, trồng rừng kinh tế, gần đất sản
xuất.
25