ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VÀNG THỊ LÙNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NGHĨA THUẬN
HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Định hướng đề tài:
Hướng nghiên cứu
Chuyên nghành:
Phát triển nông thôn
Khoa:
Kinh tế và PTNT
Khóa học:
2015-2019
Khoa:
Kinh tế và PTNT
Khóa học:
2015 - 2019
Giảng viên HD:
Th.S Nguyễn Quốc Huy
Thái nguyên, năm 2019
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay em đã hoàn thành báo cáo thực
tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đạt ra với
tên đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới
tại xã Nghĩa Thuận - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang”.
Có được kết quả này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám
hiệu, Phòng đào tạo, khoa Kinh tế & PTNT, cùng với toàn thể thầy cô trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học
tập nghiên cứu tại trường và tạo điều kiện về mọi mặt để em thực hiên đề tài.
Cho phép em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Th.s Nguyễn
Quốc Huy giáo viên hướng dẫn em trong quá trình thực tập. Thầy đã chỉ bảo
và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết và thực tế cũng như
các kỹ năng khi viết bài, chỉ cho em những thiếu sót và sai sót của mình, để
Bảng 4.9. Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới ........... 61
Bảng 4.10. Ý kiến của cán bộ UBND xã Nghĩa Thuận về xây dựng nông thôn
mới .................................................................................................. 62
Bảng 4.11. Phân tích SWOT ........................................................................... 64
iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
CN - TTCN
:
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CNH - HĐH
:
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
GTVT
:
Mặt trận tổ quốc
NN&PTNT
:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM
:
Nông thôn mới
NVH
:
Nhà văn hóa
PT - TH
:
Phát thanh - truyền hình
PTNT
:
Ủy ban nhân dân
VH - TT- DL
:
Văn hóa - thể thao - du lịch
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................. 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ................................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu chung ......................................................................................... 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ......................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa học tập ....................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ...................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
2.1.1 Các khái niệm về nông thôn ..................................................................... 4
4.3.4. Người dân với những vấn đề xây dựng nông thôn mới ........................ 58
4.3.5. Nhận thức của người dân về xây dựng NTM tại địa phương. .............. 59
4.3.6. Sự tham gia của người dân vào xây dựng NTM ................................... 60
4.3.7. Ý kiến của cán bộ UBND xã Nghĩa Thuận về xây dựng nông thôn mới ... 61
4.4. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong tiến trình xây dựng
nông thôn mới tại xã Nghĩa Thuận. ................................................................ 64
4. 5. Một số giải pháp phát triển xây dựng NTM trên địa bàn xã Nghĩa Thuận ...... 65
4.5.1 Quan điểm xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Nghĩa Thuận....... 65
4.5.2 Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xây dựng NTM trên địa bàn xã Nghĩa Thuận . 66
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 71
5.1. Kết Luận ................................................................................................... 71
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 72
5.2.1. Đối với xã Nghĩa Thuận ........................................................................ 72
5.2.2. Đối với người dân trong xã Nghĩa Thuận ............................................ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 73
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông thôn là lĩnh vực rất quan trọng và cấp thiết trong chiến
lược kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây cùng
với sự phát triển chung của đất nước, nông thôn đã có sự phát triển và đổi mới
đáng kể đây là những vấn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm cả về
tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển. Để phát triển nông thôn
theo đúng hướng, có cơ sở khoa học, đảm bảo phát triển bền vững thì phải
tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn, đây là một vấn đề hết sức quan
địa bàn xã, tìm ra những thuận lợi, khó khăn, cần khắc phục trong việc xây
dựng nông thôn mới.
Xác định vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện các tiêu chí trên địa
bàn xã.
Phân tích được những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức trong
xây dựng nông thôn mới ở xã Nghĩa Thuận huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang.
Đề xuất được một số giải pháp nhằm thực hiện xây dựng nông thôn
mới được hiệu quả hơn.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập
Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên tổng hợp và củng cố kiến
thức đã học.
Có được tư duy một cách logic và biết cách vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tế, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn
và cũng là cơ hội để gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có
kinh nghiệm và người dân địa phương.
Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn
luyện kỹ năng phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên.
3
Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và các sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo địa
phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm xây dựng nông thôn mới một
cách hợp lý, có hiệu quả để nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của
người dân tại xã Nghĩa Thuận và các xã khác.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định
chất, tinh thần của dân cư nông thôn thấp hơn dân cư thành thị. Tuy nhiên những
di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường phong phú
hơn thành thị.
5
Quan điểm khác lại nêu ra chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường. Nhưng có ý kiến khác
lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp chủ yếu, tức
nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng đều từ sản xuất nông nghiệp. Những
quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước. Như vậy,
khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian, theo tiến trình phát
triển kinh tế xã hội.
Khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời
gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể
hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều
nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng
của các tổ chức khác”. [6]
Như vậy khi nói về nông thôn người ta nghĩ ngay đến các hoạt động
nông nghiệp và những hoạt động, tổ chức liên quan đến nông nghiệp.
* Khái niệm về phát triển nông thôn:
Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường, ngày
nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo ra sự phát triển
lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc
gia. Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là sự phát
triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phải phát triển đa
ngành và giải quyết thích đáng mối liên hệ đa ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát
xã hội[5].
* Khái niệm xây dựng nông thôn mới:
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
7
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh[5].
* Đặc trưng của nông thôn mới:
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản
Lao động 2010)[4], đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ CNH - HĐH, giai
đoạn 2010 - 2020, bao gồm:
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao;
Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
An ninh tốt, quản lý dân chủ;
Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao…
2.1.2. Các vấn đề về nông thôn
Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư
Về chính trị: Phát huy tinh thần dân chủ trên cơ sở chấp hành pháp
luật, tôn trọng đạo lý bản sắc địa phương. Tôn trọng hoạt động của đoàn thể,
các tổ chức, hiệp hội vì cộng đồng, đoàn kết xây dựng nông thôn mới.
Về văn hóa – xã hội: Chung tay xây dựng văn hóa đời sống dân cư,
các làng xã văn minh, văn hóa.
Về con người: Xây dựng hình tượng người nông dân tiêu biểu, gương
mẫu. Tích cực sản xuất, chấp hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và
sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong
lành, đảm bảo môi trường nước trong sạch. Các khu rừng đầu nguồn được bảo
9
vệ nghiêm ngặt. Chất thải sinh hoạt được xử lý trước khi vào môi trường.
Phát huy tinh thần tự nguyện chấp hành pháp luật của mỗi người dân. [7]
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của 1 số nước trên thế giới
2.2.1.1. Mô hình nông thôn mới ở Hàn Quốc
Những năm đầu 60 của thế kỉ XX đất nước Hàn Quốc còn phát triển
chậm, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, dân số trong khu vực nông thôn
chiếm đến 2/3 dân số cả nước. Trước tình hình đó Hàn Quốc đã đưa ra nhiều
chính sách mới nhằm phát triển nông thôn. Qua đó xây dựng niềm tin của
người nông dân, tích cực sản xuất phát triển, làm việc chăn chỉ, độc lập và có
tính cộng đồng cao. Trọng tâm là phong trào xây dựng “Làng mới” (Seamoul
Undong)
Nguyên tắc cơ bản của làng mới là: Nhà nước hỗ trợ vật tư cùng với sự
đóng góp của nhân dân. Nhân dân quyết định các dự án thi công, nghiệm thu và
chỉ đạo các công trình. Nhà nước Hàn Quốc chú trọng tới nhân tố con người
trong việc xây dựng nông thôn mới. Do trình độ của người nông dân còn thấp,
Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một
cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản. Phong trào "mỗi
làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: Địa phương hóa rồi
hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ
trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh.
Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa
phương có giá trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu
lúa mạch, cam Kabosu,... giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương. [8]
2.2.1.3. Mô hình nông thôn mới ở Thái Lan (One Tambon one Product - OTOP)
Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP của Nhật Bản, Chính phủ Thái
Lan đã xây dựng dự án cấp quốc gia "mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon
one Product - OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương
11
có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP được
phân loại theo 4 tiêu chí:
Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu
Sản xuất liên tục và nhất quán
Tiêu chuẩn hóa
Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Các tiêu chí trên đã
tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng
kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối sống
của người dân địa phương. Kết quả nông thôn Thái Lan đã có những bước chuyển
biến rõ rệt, các sản phẩm của Thái Lan có được chỗ đứng nhất định trên thị trường
thế giới của Thái Lan. [9]
2.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Theo cổng thông tin điện tử chương trình mục tiêu quốc gia về xây
huyện Lục Ngạn-tỉnh Bắc Giang có 16.300 ha vải thiều; Hưng Yên có khoảng
4.000 ha nhãn; huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình có khoảng 2.800 ha trồng cây có
múi (trong đó diện tích trồng cam hơn 1.650 ha…); mô hình cây vụ đông có giá trị
cao đạt 300-400 triệu đồng/ha (Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam,Ninh Bình…); phát
triển các mô hình nông thôn mới gắn với sản xuất nông nghiệp sạch theo quy trình
chuẩn, hình thành chuỗi liên kết (Hà Nam, Hà Nội, Bắc Giang, Hòa Bình, Lâm
Đồng, Vĩnh Long…); mô hình nông thôn mới gắn với du lịch sinh thái (Quảng
Ninh, Ninh Bình, Thành phố Cần Thơ, Sơn La, Lào Cai, Bắc Kạn, Thừa Thiên –
Huế…); mô hình liên kết trồng cây dược liệu (Nam Định, Hưng Yên, Thanh
Hóa…); mô hình làng hoa, làng nghề gắn với du lịch Homestay (Hà Giang, Thái
Bình, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đồng Tháp…)
Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương, cả nước có khoảng 4.823 sản
phẩm đặc sản cấp xã, huyện có lợi thế, trong đó mới có 1.086 sản phẩm (khoảng
22,52%) có đăng ký/công bố tiêu chuẩn chất lượng; có 695 (14,4%)sản phẩm có
đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ và tính tới hết năm 2017, cả nước có 62,3% số xã
đạt tiêu chí thu nhập (tăng 2,8%), 58,5% số xã đạt tiêu chí giảm hộ nghèo (tăng
7,8%), 94,8% số xã đạt tiêu chí lao động có việc làm (tăng 5,3%). Riêng tiêu chí
13
tổ chức sản xuất, cả nước có 71,2% số xã đạt (giảm 5,1% do rà soát lại theo yêu
cầu mới của Bộ tiêu chí quốc gia) và có 4.795 xã đạt tiêu chí môi trường và an
toàn thực phẩm (đạt 53,7%, tăng 6,3%); có 76,7% số xã đạt tiêu chí văn hóa, tăng
7,4% so với cuối năm 2016. [10]
2.2.2.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Cao Bằng
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự đồng thuận của
người dân các địa phương trong tỉnh, năm 2017 toàn tỉnh có thêm 5 xã về đích
xây dựng nông thôn mới, nâng số xã đạt chuẩn lên 10 xã.
Đó là các xã: Nam Tuấn, Hồng Việt (huyện Hòa An), Cao Chương (Trà
công nhận xã đạt chuẩn NTM và xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm
6,88%. Trong đó, 04/116 xã đạt chuẩn NTM 19/19 tiêu chí, 04/116 xã cơ bản
đạt chuẩn nông thôn mới đạt từ 15 -18 tiêu chí. Có 13 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí,
chiếm 11,20%; 54 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí, chiếm 46,55%; 41 xã đạt dưới 5 tiêu
chí, chiếm 35,34%; số tiêu chí đạt bình quân/xã là 6,29 tiêu chí/xã, tăng 0,14
tiêu chí/xã so với năm 2016.
Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Điện Biên có 2 huyện dẫn đầu trong
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là thành phố Ðiện
Biên Phủ và huyện Ðiện Biên.
Đối với thành phố Điện Biên Phủ, có 2 xã Thanh Minh, Tả Lèng đã
thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, đến tháng 9/2017
kết quả thực hiện bộ tiêu chí của thành phố đạt 30 tiêu chí, bình quân đạt 15
tiêu chí/xã.
Đối với huyện Điện Biên, có 25 xã trong đó có 02 xã là Thanh Chăn và
Noong Hẹt đã có Quyết định công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt
19/19 tiêu chí; 03 xã cơ bản đạt chuẩn từ 15 – 18 tiêu chí.
Tuy nhiên, là một tỉnh nghèo, địa bàn rộng, đi lại còn gặp nhiều khó
khăn, nhu cầu vốn cho xây dựng nông thôn mới tại Điện Biên là rất lớn, nhất
là cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Trong khi đó, nguồn lực
đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu, năng lực của một số cán bộ còn hạn chế,
15
nhất là cấp cơ sở… Đây cũng là những khó khăn, thách thức lớn đối với Điện
Biên trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
2.2.2.3. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ số xã đạt chuẩn NTM cao nhất vùng trung
du miền núi phía Bắc, là một trong những địa phương sớm ban hành Bộ tiêu
chí về xã “Nông thôn mới kiểu mẫu”. xóm “Nông thôn mới kiểu mẫu” và hộ
phẩm”. Góp phần tăng nhanh thu nhập cho người dân nông thôn và bảo tồn
truyền thống văn hóa của từng vùng, đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trong năm 2017, tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ cho 11
dự án phát triển sản xuất với tổng số vốn hỗ trợ trên 8 tỷ đồng, hỗ trợ 18.112
tấn xi măng xây dựng kênh mương và hạ tầng khu phát triển sản xuất.
Nhiều mô hình nâng cao thu nhập cho người dân đáng để các tỉnh có
thể học tập, đó là đi đầu trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tân Cương đã góp
phần nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm chè truyền thống, bảo vệ môi
trường và gắn với du lịch sinh thái, đây chính là mô hình.
2.2.2.4. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hà Giang
Năm 2017, là năm thứ hai thực hiên chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Với nỗ lực của các cấp ủy, chính
quyền các cấp, sự vào của cuộc các tổ chức đoàn thể nhân dân. Chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bà tỉnh Hà Giang đã đạt được một số kết quả nhất
định. Trong năm có thêm 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số đạt xã
chuẩn trên toàn tỉnh lên 23 xã.
Có được những kết quả đó, là do tỉnh đã kịp thời ban hành các cơ chế chính
sách, văn bản hướng dẫn để tổ chức triển khai thực hiện chương trình. Các cơ chế,
chính sách đặc thù của tỉnh đã tạo quyền chủ động cho các huyện, xã và cộng
đồng lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn trong thực hiện xây dựng
nông thôn mới; Người dân chủ động lập kế hoạch thực hiện, qua đó đã huy động
có hiệu quả việc quản lý, sử dụng nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước, nhất là
huy động từ người dân.
17
Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, trên địa bàn toàn tỉnh đã làm mới
được trên 400km đường bê tông nông thôn các loại; cải tạo, nâng cấp trên 200
phòng học; xây mới 60 nhà văn hóa thôn; nhân dân hiến 362.370 m² đất, đóng góp
Thiết chế văn hóa cơ sở tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao. Hoạt động văn
hoá văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Thực hiện tốt công tác đưa văn
hoá, thể thao về cơ sở góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội, xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh ở địa phương. Công tác bảo vệ môi trường đã được
cấp ủy chính quyền các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, tăng cường công
tác giám sát và thông tin về chất lượng môi trường, đảm bảo phát triển kinh
tế, xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững. Tại
các xã tổ chức ra quân làm vệ sinh môi trường, thu gom xử lý chất thải, rác
thải; khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, ao hồ và hệ thống thoát
nước; trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh; bảo vệ nguồn nước…
Đội ngũ cán bộ xã được nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên
môn. Hàng năm cán bộ xã được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng
cao năng lực, trình độ chuyên môn, tham quan học tập... Do vậy, đã từng
bước nâng cao năng lực tổ chức quản lý, điều hành trong công việc chung của
xã cũng như trong xây dựng nông thôn mới.
An ninh trật tự trên địa bàn được được giữ vững và ổn định. Tình hình
tội phạm, tệ nạn xã hội được kiểm soát, ngăn chặn và được đẩy lùi. Duy trì
chặt chẽ các chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai, tìm kiếm
cứu nạn từ tỉnh đến cơ sở. Làm tốt công tác huấn luyện cho lực lượng dân
quân tự vệ.
Với những kết quả mà toàn tỉnh đã đạt được trong năm 2017, phấn đấu
trong năm 2018 có thêm 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt
chuẩn trên toàn tỉnh lên 29 xã.
2.2.2.5. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Quản Bạ
Quản Bạ là một trong 4 huyện cao nguyên đá và là một trong 6 huyện
nghèo của Hà Giang được thụ hưởng các chính sách theo Nghị quyết 30a của
Chính phủ. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao (tính đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ