thực trạng và các giải pháp phát triển chăn nuôi bò ở xã đông sơn huyện a lưới tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
A Lưới là một huyện miền núi thuộc phía tây của tỉnh Thừa Thiên Huế,
cách thành phố Huế 75 km. Huyện hiện có 20 xã và 1 thị trấn, ở A Lưới đời
sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp vẫn theo
phương pháp truyền thống, thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên năng suất cây
trồng và vật nuôi còn thấp. Để phát triển cuộc sống của người dân một cách
bền vững, cần phải phát triển hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự
nhiên, văn hoá, kinh tế xã hội. Hơn nữa khi mà trong điều kiện kinh tế của
người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn, chưa có khả năng để cơ giới hoá
hoàn toàn trong nông nghiệp thì việc chăn nuôi bò sẽ giải quyết phần nào khó
khăn cho người dân nơi đây như: giải quyết phần nào sức kéo, cung cấp phân
bón cho ngành trồng trọt và góp phần tăng thu nhập đáng kể cho người dân
nơi đây.
Hiện nay có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò thịt
như: Đất trồng cỏ, nguồn thức ăn tận dụng từ phế phụ phẩm của trồng trọt dồi
dào, thời gian lao động nhàn rỗi của nông dân còn nhiều, thị trường tiêu thụ
sản phẩm từ chăn nuôi bò thịt đang mở rộng. Tuy nhiên vẫn còn những khó
khăn chủ yếu như chăn nuôi bò trong nông hộ mang tính quảng canh, nhỏ lẻ,
người chăn nuôi tận dụng bãi chăn thả tự nhiên là chính, thiếu kinh nghiệm và
kiến thức về thú y, chất lượng con giống, thị trường tiêu thụ, người dân ở đây
chưa mạnh dạn trong việc đầu tư vốn, việc áp dụng khoa học kỹ thuật dịch vụ
phục vụ cho chăn nuôi bò còn nhiều hạn chế…
Nhằm tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng chăn nuôi bò của xã Đông Sơn
huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp phát triển chăn
nuôi bò trên đàn bò của xã. Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Thực trạng
và các giải pháp phát triển chăn nuôi bò ở xã Đông Sơn huyện A Lưới tỉnh
Thừa Thiên Huế”.
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu

mới sử dụng các loại thức ăn này, nếu không chúng sẽ bị thối rữa gây ô nhiễm
môi trường nhất là lượng rơm lúa đốt tại ruộng hay sử dụng làm nhiên liệu để
đun nấu tăng lên nếu không tận dụng để nuôi bò sẽ thải vào bầu khí quyển
lượng CO
2
khổng lồ góp phần phá hủy tầng Ozon của trái đất [1, 88-95].
3
2.1.2. Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam
Trong những năm qua nhất là khi thực hiện đường lối đổi mới trong
nông nghiệp với sự ra đời của nghị quyết 10 (1988), cũng như các ngành sản
xuất khác, ngành chăn nuôi bò của nước ta cũng có nhiều thay đổi mạnh mẽ:
nhiều mô hình, nhiều tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi đã được áp dụng, nhất
là khâu giống, thức ăn gia súc, kỹ thuật chăn nuôi và thú y. “Đã có những
trang trại tư nhân nuôi hàng 40-50 bò sữa, hàng trăm bò thịt. Những tỉnh có
nhiều mô hình chăn nuôi bò công nghiệp và bán công nghiệp là thành phố Hồ
Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Sông Bé và một số tỉnh khác” [1]. Từ đó đàn
bò không những tăng về số lượng mà tăng cả về chất lượng. Số lượng và tốc
độ tăng trưởng đàn bò của cả nước ta vẫn tăng đều qua các năm, riêng trong
năm 2001 số lượng đàn bò tuy có giảm do dịch bệnh xảy ra, nhưng vẫn không
ảnh hưởng lớn đến tốc độ gia tăng của đàn bò, tốc độ tăng trung bình
3,3%/năm, tốc độ tăng cao nhất là năm 2004 so với 2003 là 11,7% (Miền
Nam tăng 13,9% và Miền Bắc tăng 9,5%). Nguyên nhân chủ yếu là giá của
đàn bò lai sind và bò thịt của thị trường tăng đột ngột làm mọi người ở nông
thôn đã tích cực mua bò về nuôi. Tuy nhiên, sự phân bố đàn bò giửa hai miền
không có sự sai khác lớn. Đàn bò tập trung ở Miền Trung (Bắc Trung Bộ và
Duyên Hải Miền Trung) là 1.908.300 con, chiếm 38,85% đàn bò của cả nước.
Mặc dù khu vực này gặp nhiều khó khăn về khí hậu cũng như mức sống của
dân sống ở nông thôn còn chưa cao. Riêng khu vực Tây Nguyên là vùng có
nhiều điều kiện thuận lợi phát triển, nhưng đàn bò mới có 547.100 con [3].
Như vậy cần phát triển nhanh đàn bò thịt cả nước về số lượng và chất lượng.

Phương thức bán thâm canh: đây là phương thức chăn nuôi được xem là
tiến bộ nhất ở nông thôn hiện nay. Theo cách thức chăn nuôi này ít phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên nhưng đòi hỏi phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật như là giống lai, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Trước xu thế
đồng cỏ chăn thả ngày càng bị thu hẹp, nguồn thức ăn tự nhiên khan hiếm
đồng thời nhằm cải tạo đàn bò nội, nâng cao chất lượng giống, phát triển mở
rộng quy mô, tăng cao hiệu qủa kinh tế chăn nuôi, đặc biệt chú trọng nâng cao
chất lượng và số lượng thịt hướng ra sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của thị trường tiêu dùng. Vì thế phương thức này đang được nhà
nước và các địa phương khuyến khích nuôi.
Ngoài bốn phương thức chăn nuôi chủ yếu trên, còn có hình thức chăn
nuôi theo kiểu công nghiệp được đầu tư thâm canh cao. Tuy nhiên, hình thức
5
này rất ít được áp dụng trong sản xuất chỉ có chủ yếu ở những cơ sở thí
nghiệm, những trang trại chăn nuôi với quy mô lớn có sự đầu tư của nhà
nước.
Một số vấn đề đặt ra trong chăn nuôi bò ở nước ta:
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành nông nghiệp, ngành chăn
nuôi bò ở nước ta đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Tuy vậy, bên cạnh
những thành tựu đạt được ngành chăn nuôi bò ở nước ta vẫn còn gặp nhiều
khó khăn, hạn chế:
Quy mô chăn nuôi nhỏ bé: “số hộ chăn nuôi từ 1-2 con bò vẫn là chủ
yếu” [3]. Người nông dân Việt Nam có truyền thống chăn nuôi bò theo kiểu
chăn nuôi nhỏ. Hiện nay có khoảng 80% bò thịt đang được nuôi tại các nông
hộ, mỗi gia đình nông dân nuôi bình quân 1 con bò với mục đích chủ yếu là
dùng để cày kéo hoặc sinh sản [3, 202]. Hơn nữa do tập quán sản xuất nhỏ và
thiếu vốn đầu tư cho sản xuất nên số lượng bò được nuôi của hộ còn rất ít.
“Số hộ nuôi bò có qui mô 50-100 con trở lên còn rất ít, tập trung ở Duyên hải
miền trung và Tây Nguyên” [4, 205].
Tập quán chăn nuôi cổ truyền với kỹ thuật lạc hậu còn phổ biến: chăn

Việc khai thác và tận dụng các sản phẩm phụ của ngành chăn nuôi bò
chưa được chú ý. Chẳng hạn như công nghiệp chế biến da hoặc việc sử dụng
các hầm khí Biogas vẫn chưa được phát triển.
2.2. Vai trò và ý nghĩa của ngành chăn nuôi bò
2.2.1. Ngành chăn nuôi bò cung cấp cho con người nhiều sản phẩm có giá
trị
2.2.1.1 Thịt bò
Thịt bò là loại có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein hoàn thiện/ không
hoàn thiện là 550/1, protein thịt bò đầy đủ các loại acid amin không thể thay
thế. Thịt bò có độ cảm quan thực phẩm cao thông qua màu sắc, hương vị, độ
cứng mềm, độ ngọt, sợi cơ, Ở Mỹ, theo peasson, 1960 thì bốn yếu tố làm
nên tính hấp dẫn của thịt bò: màu sắc thịt nạc, màu sắc của mỡ, độ chắc khi
cắt và thớ thịt. Tính ngon miệng của thịt bò là cảm giác liên quan đến vật lý
và sự hấp dẫn bên ngoài của thịt. Các đặc điểm của thịt ảnh hưởng đến tính
ngon miệng đó là sự mềm mịn, độ nhớt, mùi thơm và tất cả những cái đó liên
quan đến kỹ thuật nấu nướng. Để cảm nhận phân biệt được độ mềm, độ nhớt,
7
mùi thơm của thịt, người ta căn cứ vào cảm nhận chung của số đông người
mà xác nhận.
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của thịt bò và một số loại gia súc, gia cầm
Loại gia
súc
Tỉ lệ thịt xẻ
(%)
Tỷ lệ (%)
Nlượng
(kcal)
Nước Lipit Protit Khoáng
Bò 46,80 70,50 10,50 18,00 1,00 171,00
Lợn 72,50 60,90 21,50 16,50 1,10 268,00

2.2.1.2. Sữa bò
Sữa là loại thực phẩm quý đối với con người, đặc biệt đối với trẻ em,
người già yếu và những người lao đông nặng nhọc. Sữa bò được xếp vào loại
cao cấp vì sự hoàn chỉnh về dinh dưỡng, rất dễ tiêu hoá (98%) và hấp thụ với
tỷ lệ cao: mỡ sữa 95%, protein sữa 96%, đường sữa 98% .
Trong sữa bò có khoảng 12,5 đến 13% vật chất khô, trong đó mỡ chiếm
với tỷ lệ 3,6-3,8%; protein 3,3%; đường 4,8% và khoáng là 1%. Ngoài ra còn
một lượng nhỏ vitamin, kich tố rất cần thiết cho cơ thể. Có rất nhiều loại
gia súc cho sữa nhưng tập trung chủ yếu vẩn là sữa bò, sau đó là sữa trâu.
Bảng 3: Thành phần (%) của sữa ở một số gia súc khác nhau
Gia
súc
Nước VCK Mỡ
Protein
Đường Khoáng
Năng
lượng
Carein
Glob
uli
Anbu
min
Bò 87,0 13,0 3,9 2,7 0,5 4,7 0,7 655
Trâu 82,7 17,3 7,9 3,8 0,5 4,3 0,8 1050
Ngựa 90,0 10,0 4,0 1,0 1,0 6,7 0,3 457
Dê 87,2 12,8 4,5 2,8 0,7 4,2 0,8 722
Cừu 82,1 17,9 6,7 5,0 0,8 4,6 0,8 1053
Nguồn : Nguyễn Văn Thưởng, 1999
Trong sữa bò có trên 150 acid béo, trong protein sữa có đủ các loại acid
amin không thể thay thế với hàm lượng cao, không có loại thực phẩm nào có

thô xanh, kém chất lượng, là những phế phụ phẩm của ngành nông nghiệp,
công nghiệp, thức ăn không cần kỹ và khó tìm kiếm như lơn và gia cầm.
Nguồn thức ăn chủ yếu của bò là cỏ tươi ngoài bải chăn thả, cỏ khô, rơm
rạ và một vài thức ăn thô xanh khác: ngọn mía, thân cây ngô, thân lá đậu các
loại… Ngoài ra còn bã mía, rỉ mật, khô dầu … Thông qua thức ăn phong phú
10
rẻ tiền này sẽ cho ra một lượng chất hửu cơ quý giá đáng kể và năng lượng
khổng lồ cung cấp cho con người mà không phải đầu tư cao.
Do vậy trong điều kiện kinh tế còn khó khăn vẫn có thể phát triển chăn
nuôi bò nếu biết tận dụng tốt nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương để đem
lại kinh tế nâng cao thu nhập và giải quyết tốt vấn đề lương thực giữa con
người và vật nuôi.
2.2.2.2. Cung cấp sức kéo và phân bón cho sản xuất nông nghiệp
Từ xa xưa con người đã biết dùng trâu bò để cày kéo, chuyên chở đồ
đạc. Hiện nay, trâu bò vẫn đang đóng một vai trò quan trọng trong việc cung
cấp sức kéo và phân bón.
Nhìn chung vấn đề này đem lại hiệu quả kinh tế ở các vùng miền núi và
trung du nhất là vấn đề làm đất và kéo tải nhẹ. Ở đây, địa hình khá phức tạp,
máy móc không phát huy được tính ưu việt của nó. Tuy nhiên không chỉ vùng
núi và trung du mà ngay cả vùng đồng bằng, trâu bò vẫn giữ được vai trò
quan trọng của chúng trong cày bừa và vận chuyển.
Bảng 4: Tỷ lệ phần trăm sức kéo /ha
Vùng Loại sức kéo (%)
Người Súc vật Máy kéo
Châu Á (trừ Trung Quốc) 26 57 23
Châu Phi 35 17 57
Châu Mỹ Latinh
09 20 71
Nguồn: Nguyễn Trọng Tiến, 1991
Ngoài cung cấp sức kéo, nghành chăn nuôi trâu bò còn cung cấp cho

trọng đối với kinh tế của hộ nông dân, điều này được thể hiện ở những điểm
sau:
Chăn nuôi bò cung cấp phân bón và sức kéo cho ngành trồng trọt: đây là
hai sản phẩm phụ thu được từ chăn bò rất cần thiết cho hoạt động sản xuất
trồng trọt. Phân bò là loại phân hữu cơ có chất lượng kém hơn phân lợn và
một số phân động vật khác, nhưng số lượng thải ra hàng ngày lớn hơn rất
nhiều so với các loài động vật khác cho nên vẫn là nguồn phân hữu cơ chính
cho trồng trọt. Đồng thời đây cũng là nguồn phân có giá trị rẻ mà lại rất có ý
nghĩa trong việc cải tạo đất lâu dài, giúp tăng độ phì của đất, bảo vệ nguồn tài
nguyên vô cùng quý giá đó. Mặt khác việc tận dụng nguồn phân bò đã giải
quyết một phần chi phí đáng kể về phân bón cho nông hộ trong trồng trọt.
12
Ngoài ra, bò còn cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển. Từ
xưa khi máy móc chưa được phát triển thì chăn nuôi trâu bò để lấy sức kéo là
mục đích chính của người dân. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển
nhiều nơi máy móc đảm nhiệm phần lớn khâu làm đất, nhưng bò vẫn được sử
dụng nhiều trong việc làm đất, đặc biệt là ở những vùng nghèo, vùng có điều
kiện địa hình khó khăn, sản suất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ gặp nhiều trở
ngại trong áp dụng cơ giới hóa, ở những vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại
khó khăn, địa hình phức tạp thì việc chuyên chở các loại hàng hóa (gỗ, phân
bón, lương thực, ) chủ yếu vẫn dùng sức kéo của trâu bò.
Đặc điểm của lao động nông thôn Việt Nam hiện nay phần lớn mang tính
mùa vụ, vì vậy lao động nhàn rỗi vẫn còn nhiều. Theo số liệu điều tra “có
khoảng 7 triệu người thất nghiệp hoàn toàn hoặc tiềm tàng” [9, 12]. Ở những
vùng ruộng đất ít, dân số đông, người dân chỉ sử dụng khoảng 65-75% thời
gian lao động trong năm, còn lại 30-35% thời gian nhàn rỗi [7, 15]. Vì vậy,
chăn nuôi bò góp phần sử dụng hợp lý nguồn lao động nhàn rỗi để tăng thu
nhập, cải thiện mức sống trong nông hộ. Đồng thời đây cũng là hướng giải
quyết vấn đề việc làm tại chỗ cho người dân nông thôn, hạn chế sức ép gia
tăng dân số lên các thành phố lớn do người dân đi tìm việc làm, tránh được

của gia đình trong phạm vi làng xã hay cộng đồng.
Thứ hai là lao động: Lao động là một đặc tính nổi bật của người nông
dân. Nguồn lao động ở nông thôn rất dồi dào, phần lớn lao động ở nông thôn
mang tính chất thời vụ do đó kéo theo tình trạng thiếu việc làm.Vì vậy phát
triển mở rộng các hoạt động sản xuất ngay tại địa phương nhằm giải quyết
công ăn việc làm cho người dân trong những lúc nông nhàn. Điều này góp
phần làm tăng thêm thu nhập, phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thứ ba là vốn và sự tiêu dùng: Trong nông hộ không có sự phân biệt
giữa lợi nhuận từ doanh thu với tiền công lao động của hộ. Từ đó có thể thấy
rằng sản xuất và tiêu dùng của nông hộ là khó có thể tách rời, người lao động
làm những công việc của gia đình mình chứ không phải kinh doanh thuần túy,
khác biệt hoàn toàn với đơn vị kinh doanh khác.
Thứ tư là sản xuất nhỏ lẻ và manh mún: Kinh tế hộ gia đình nông dân
nhìn chung là nền sản xuất nhỏ lẻ mang tính tự cung, tự cấp, nếu có sản xuất
hàng hóa cũng với năng suất thấp. Tuy nhiên nó có vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp.
14
Thứ năm: Hộ là môt đơn vị kinh tế độc lập tự chủ. Trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, hộ có quyền ra quyết định trong tất cả các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Từ việc sở hữu về tư liệu sản xuất, sử dụng đất cho đến
các quyết định tự quyết trong phân phối những sản phẩm sản xuất ra sau khi
trừ ra chi phí sản xuất đều do những người có uy tín hay có quyền lực tối cao
trong gia đình.
Từ những vấn đề đã nêu trên có thể thấy rằng hộ nông dân là một đơn vị
kinh tế xã hội có chung một cơ sơ kinh tế, chung một ngân quỹ, ăn chung và
chung sống dưới một mái nhà. Hộ nông dân có những đặc trưng khác với các
thành phần kinh tế khác.Vì vậy cần nắm rõ những đặc trưng đó để vận dụng
vào việc phát triển kinh tế nói chung cũng như hoạt động sản xuất chăn nuôi
bò của nông hộ nói riêng.
2.4.2. Hiệu quả kinh tế

nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng
trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung thể hiện ở
chỗ:
- Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có.
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Như vậy, qua phân tích ở trên chúng ta thấy rằng có nhiều quan điểm
khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó đó là
hiệu quả kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với
chi phí kinh tế bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù
kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và
quản lý kinh doanh của chủ thể kinh tế.
2.4.3. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi ở nông hộ
Hiệu quả kinh tế chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng là một
phạm trù kinh tế phản ảnh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí
các nguồn lực đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ.
Kết quả chăn nuôi bò ở nông hộ được biểu hiện bằng hệ thống các chi phí
sau:
16
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ của
nông dân được tạo ra trong một thời kì nhất định (thường là một năm). Giá trị
sản xuất bò là giá trị sản phẩm bò tạo ra trong năm nghiên cứu.
Giá trị gia tăng (VA): Là toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động
sản xuất kinh doanh của nông hộ trong thời kì nhất định (thường là một năm).
VA = GO - IC
Trong đó IC: Chi phí trung gian, bao gồm:
Chi phí vật chất: Nguyên vật liệu chính, phụ bán thành phẩm, giá trị
công cụ sản xuất nhỏ được phân bổ trong năm, sửa chữa thường xuyên
TSCĐ, thiệt hại tài sản lưu động trong định mức và chi phí vật chất khác.

2.5.1. Nhóm nhân tố tự nhiên
2.5.1.1. Thời tiết, khí hậu
Giống như các đối tượng khác của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi bò
phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, mỗi vùng khác nhau thì số lượng, chất
lượng và tính năng sản xuất của bò cũng khác nhau.
Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến chăn nuôi bò, khi di chuyển gia
súc tới những vùng có khí hậu khác nhau sẽ làm ảnh hưởng tới sức khỏe của
chúng, đặc biệt là sự nhập nội của giống bò cao sản. “Nếu gia súc không được
sống trong điều kiện thuận lợi sẽ làm giảm sức sản xuất, tăng chi phí thức ăn,
giảm chất lượng sản phẩm, ngoài ra còn giảm khả năng chống bệnh”. Các
giống gia súc cao sản có nguồn gốc từ các nước ôn đới thường không thích
nghi tốt với khí hậu ở vùng nhiệt đới đặc biệt là tính chịu nóng.
Khí hậu, thời tiết tác động tới sự hình thành và phát triển của một số
dạng bệnh. Khí hậu nóng khô và khí hậu nóng ẩm thường gây nên những rối
loạn quá mức về điều hòa nhiệt, dẫn đến ngất do nóng, co rút do say nắng, suy
kiệt do mất nhiều nước cơ thể. Đối với gia súc nhiều bệnh truyền nhiễm đã
phát sinh và phát triển trong mùa ẩm như: dịch tả, tụ huyết trùng
Yếu tố đầu tiên tác động tới cơ thể gia súc là nhiệt độ" ở loài nhai lại,
phần lớn nhiệt lượng được hình thành do tiêu hóa lên men và do trao đổi chất
nhất là khẩu phần giàu chất xơ. Nhiệt lượng này tỷ lệ thuận với thức ăn ăn
vào và cường độ trao đổi chất trong cơ thể". Các giống bò cao sản có quá
trình trao đổi chất mạnh, nhiệt lượng tỏa ra lớn nên chỉ thích hợp với điều
kiện khí hậu mát mẻ.
Khi nhiệt độ không khí gần bằng nhịêt độ cơ thể, con vật khó thải được
nhiệt mà nó tạo ra và nhiệt độ môi trường lên cao vượt quá khả năng điều hòa
18
của gia súc thì sẽ dẫn đến rối loạn sinh lý do đó sẽ làm giảm sức sản xuất.
Nhiệt độ môi trường làm ảnh đến trao đổi nhiệt của cơ thể dẫn đến ảnh hưởng
đến chức phận của tinh hoàn hay buồng trứng, do đó khi thời tiết trở lạnh hay
nóng lên có thể làm ngưng trễ quá trình sinh tinh và sinh trứng, ở gia súc dẫn

nguyên tố.
• Đồng cỏ
Nước ta có mật độ dân số cao, đất đai thiếu tổng diện tích cây trồng
khoảng 32000ha. Thực ra, những nơi được gọi là "đồng cỏ" chỉ là những vùng
đất xấu, năng suất cỏ thấp. Vì vậy, việc xác định chiến lược vấn đề, giải quyết
vấn đề thức ăn cho trâu bò dựa trên đồng cỏ tự nhiên là không phù hợp.
Với năng suất và chất lượng đồng cỏ kém, sẽ làm năng suất vật nuôi thấp
và như vậy làm cho chăn nuôi bò không phát triển được nhất là chăn nuôi
theo hướng quảng canh.
• Nguồn nước
Nước là yếu tố sinh quyển quan trọng nhất. Nước có vai trò quan trọng
đối với các sinh vật. Chất lượng nước xét trên đặc tính hóa học là độ pH và độ
mặn nó ảnh đến vật nuôi. Độ pH trong nước làm thay đổi tính thẩm thấu do
đó làm ảnh đến chức năng bài tiết và quá trình sống của gia súc. Độ pH trong
môi trường nước làm hưng phấn hoặc ức chế hoạt động của hệ thần kinh, làm
thay đổi cân bằng của hệ thống hô hấp. Nước được coi là một trong những
điều kiện mà sức khỏe và sức sản xuất của vật nuôi đều phải phụ thuộc.
Nước là yếu tố quan trọng trong chăn nuôi nó ảnh hưởng tới sự phân bố
của gia súc. Bò trung bình mỗi ngày cần 30 - 45 lít nước. Trong quá trình làm
việc nặng nhọc gia súc bị mất nước thông qua mồ hôi, nếu mất 20% lượng
nước cơ thể thì gia súc sẽ chết sau 4-8 ngày sau khi đình chỉ không tiếp nước.
Do đó chăm sóc nuôi dưỡng cần phải thường xuyên bổ sung nước uống cho
bò kết hợp với lượng nước vi lượng mà cơ thể cũng bị mất theo mồ hôi trong
quá trình làm việc.
2.5.2. Nhóm nhân tố các điều kiện kinh tế xã hội
• Vốn
Đây là vấn đề bức xức nhất hiện nay làm ảnh hưởng đến chăn nuôi
chung và chăn nuôi bò nói riêng. Mặc dù chăn nuôi bò chủ yếu dựa vào
những phế phụ phẩm công nông nghiệp, đồng cỏ rẽ tiền nhưng cũng phải đầu
tư con giống, chuồng trại hơn nữa. Vòng quanh vốn trong chăn nuôi bò chậm

(thịt, trứng, sữa) nhiều nhất. Thủ đô hà nội mỗi ngày tiêu thụ 200 tấn thịt các
loại, hàng triệu quả trứng và hàng ngàn lít sữa.
21
Như vậy nếu thị trường rộng lớn, nhu cầu về thịt bò cao sẽ thúc đẩy
ngành chăn nuôi bò phát triển và ngược lại.
2.5.3. Nhóm các nhân tố điều kiện kỹ thuật
• Con giống
Con giống là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến năng suất chăn
nuôi, con giống tốt thì năng suất cao và ngược lại.
Đàn bò nước ta phần lớn chưa được cải tạo, tầm vóc nhỏ bé năng suất
sản xuất thấp, hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò không cao. Do đó cần phải
tiến hành cải tạo đàn bò để nâng cao tầm vóc, tăng năng suất, thu nhập cho
người chăn nuôi cũng như thúc đẩy ngành chăn nuôi bò ngày một phát triển
Giống bò là một yếu tố quan trọng và cần thiết, phải được quan tâm hàng
đầu trong việc phát triển chăn nuôi bò, thường xuyên chọn lọc cải tạo hoặc có
thể kết hợp với việc nhập nôi các giống bò thích nghi với điều kiện địa
phương.
• Dinh dưỡng và vấn đề thức ăn
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng sản xuất. Khan
và Davis, 1981 khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của bò cho sữa và giống
bò địa phương chưa cải tạo thu được kết quả như sau: Trong điều kiện dinh
dưỡng tốt với khẩu phần cơ bản và rơm xử lý amoniac thì bò lai tăng trọng
nhanh hơn bò địa phương. Nhưng ngược lại trong điều kiện dinh dưỡng kém
khẩu phần cơ bản là rơm chưa xử lý thì bò địa phương ít bị giảm tăng trọng.
Ước tính hàng năm nước ta có khoảng 20 triệu tấn rơm rạ, gần 6 triệu tấn
lạc thân ngô, bã sắn. Đây là cơ sở giải quyết thức ăn cho bò. Dân số ngày
càng tăng, diện tích trồng cỏ ngày càng thu hẹp, việc xây dựng hệ thống chăn
nuôi gia súc nhai lại dựa trên các phế phụ phẩm sẵn có là yêu cầu sống còn
hiện nay và trong tương lai.
Thức ăn là yếu tố quan trọng nhất trong phát triển chăn nuôi bò. Cũng

quan thống kê và các cơ quan chuyên môn về chăn nuôi bò, nông nghiệp và
phát triển nông thôn. Các báo cáo về tình hình chăn nuôi bò đã được công bố
trong nước, các báo cáo về tình hình phát triển chăn nuôi bò ở các cơ quan
23
chuyên ngành và chính quyền xã. Ngoài ra các báo cáo khoa học và kết quả
nghiên cứu của nhiều tác giả công bố trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành
chăn nuôi, nông nghiệp, internet.
Thu thập số liệu sơ cấp:
Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn mục đích nghiên cứu.
3.3. Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu được mã hóa và xử lý trên máy tính phần mềm Excel.
3.4. Nội dung nghiên cứu
3.4.1. Thực trạng chăn nuôi của xã
- Quy mô chăn nuôi của các nông hộ
- Cơ cấu đàn bò
- Mục đích chăn nuôi bò
- Tình hình sử dụng nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò
- Tình hình sử dụng lao động cho việc chăn nuôi bò
- Phương thức chăn nuôi bò
- Tình hình chăm sóc và nuôi dưỡng
- Thú y, dịch bệnh
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm trong chăn nuôi
- Tình hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò
- Kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò của nông hộ
3.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò của nông hộ
- Thị trường
- Chính sách
- Dịch vụ đầu vào
- Tài nguyên đất (Đất, Đồng cỏ…)
3.4.3. Một số giải pháp để phát triển chăn nuôi bò

C tập trung vào tháng 5;6;7.
Nhiệt độ thấp nhât là 6
0
C trong các tháng 12;1;2. Lượng mưa bình quân hàng
năm 1600-1900(mm) lượng mưa cao nhất là 2810(mm) và lượng thấp nhất là
1120(mm). Tuy lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều cho các vùng vì
vậy nó còn ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người cũng
như vật nuôi.
 Đất đai và tình hình sử dụng đất tại xã Đông Sơn, huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên Huế:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status