tìm hiểu thực trạng và vai trò của các kênh truyền thông đối với sản xuất nông nghiệp ở xã quảng thành huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

Phần một
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi
là nền móng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt khi Việt Nam
thực hiện chính sách mở cửa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO mở
ra cho sự phát triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, đã có không ít khó khăn và
thách thức mà chúng ta gặp phải, đặc biệt trong nông nghiệp nông thôn: hàng
nông sản kém sức cạnh tranh do chất lượng thấp, vấn đề an toàn vệ sinh thực
phẩm, chi phí sản xuất quá cao đó là do sự hạn chế trong khả năng tiếp cận
thị trường, không tận dụng được lợi ích do quá trình hội nhập mang lại, áp lực
cuộc sống dưới tác động của sự tăng giá mạnh, những hậu quả của tình trạng
biến đổi khí hậu Trong tiến trình hội nhập quốc tế, với việc Việt Nam gia
nhập WTO đã tạo cơ hội và thách thức lớn cho người nông dân, để đủ sức
đứng vững và không lạc hậu trong quá trình hội nhập, người nông dân cần có
những thông tin hữu ích, thiết thực nhằm nâng cao dân trí, cần cung cấp cho
người nông dân những thông tin kiến thức về khoa học kỹ thuật, về thị trường,
văn hóa và xã hội Cung cấp thông tin đến với người nông dân để họ có những
quyết định đúng đắn và kịp thời trong sản xuất và đời sống của mình.
Đối với các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, các vùng sản
xuất nông nghiệp, công tác truyền thông phục vụ sản xuất nông nghiệp giữ
vai trò to lớn và cần thiết đối với sự phát triển của địa phương, vì ở đó tồn tại
nhu cầu trao đổi học hỏi về kỷ thuật, kinh nghiệm sản xuất, thông tin giá cả
thị trường và cả thông tin về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường giữa nông
dân với cán bộ khuyến nông, cán bộ nghiên cứu nông nghiệp, các doanh
nghiệp, cán bộ quản lý… và chính giữa họ với nhau. Nông dân các vùng, địa
phương hiện có trình độ, tập quán khác nhau nên phát triển truyền thông sẽ
tạo cơ hội, môi trường cho họ học tập lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác
làm ăn, xây dựng thương hiệu, tìm hướng sản xuất đạt hiệu quả
Quảng Thành là một xã đồng bằng nằm cuối hạ lưu sông Hương, sông
Bồ, ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp nên sinh kế chính của người

Theo Kincaid và Schramm, truyền thông là một quá trình chia sẻ và mối
quan hệ của người tham gia trong quá trình đó.
Theo Blak, và Bryant (1992) truyền thông được định nghĩa là:
• Quá trình mà nhiều người chia sẻ nghĩa
• Quá trình mà qua đó một cá nhân (người cung cấp thông tin) truyền tải
sự kích thích (thường gọi là biểu tượng ngôn ngữ) để thay đổi hành vi của cá
nhân khác.
• Xuất hiện bất cứ lúc nào mà thông tin chuyển từ nơi này tới nơi khác
• Không đơn giản là lời nói mà cụ thể hơn là sự truyền tải một thông điệp
có chủ định
Theo Osgood (1957) truyền thông xuất hiện khi một hệ thống (nguồn
phát) ảnh hưởng đến nguồn khác (nguồn nhận), thông qua các biểu tượng
khác nhau được truyền tải qua kênh nối chúng với nhau.
2.2. Khái niệm về các kênh truyền thông
2.2.1. Khái niệm về báo chí: Là một trong những phương tiện truyền thông
đại chúng được sử dụng rất phổ biến. Bao gồm tất cả các ấn phẩm được xuất
bản theo định kỳ với một tiêu đề không đổi và hướng đến một đối tượng
người đọc nhất định, nó ra đời và phát triển vào khoảng thế kỷ 14 nhờ vào sự
3
phát triển của công nghệ in ấn và sản xuất giấy. In ấn được phát minh ra đầu
tiên ở Trung Quốc vào năm 846 trước công nguyên, với các sản phẩm đầu
tiên in trên tấm gỗ. Với phát minh của Johanner Gutenberg vào năm 1450, các
bài viết in ấn trên gỗ trước đây được chuyển sang vật liệu khác có thể di
chuyển được dưới dạng chữ viết bằng tay đơn giản. Đây là cuộc cách mạng
đối với hình thức truyền thông bằng chữ viết. [1].
2.2.2. Khái niệm về truyền thanh: Là một phương tiện thông tin đại chúng
được sử dụng rộng rãi trong phát triển. Nó có thể phủ sóng nhiều vùng rộng
lớn và đến với số lượng người nghe với chi phí tương đối thấp. Truyền thanh
ở đây bao gồm:
• Đài phát thanh

Năm Nước Đức Nước Anh Nước Pháp
1933 5.033.000 6.000.000 1.308.000
1939 13.711.000 8.900.000 4.992.000
Phát thanh ra đời là điển hình của sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khao
học, kĩ sư chế tạo, nhà doanh nghiệp với công chúng truyền thông.
Thế kỉ XX chứng kiến hai bước phát triển nhảy vọt của kĩ thuật phát thanh.
Thứ nhất những năm 40 phát thanh FM ra đời thay đổi về chất trong phát
sóng, chi phí đầu tư khai thác rẻ hơn, gọn nhẹ hơn. Kết hợp giữa sóng trung,
sóng ngắn và cực ngắn.
Thứ hai phát thanh DAB ra đời cuối thế kỉ XX. Với phát thanh kỹ thuật
số, chất lượng phát sóng có thể nói là hoàn hảo, khắc phục được các hiện
tượng can, nhiễu, méo, pha dính …nhất là mở ra giải tần rộng…
Vô tuyến truyền thanh chỉ mới trở thành công cụ ưu việt cho truyền
thông đại chúng tại các nước công nghiệp hoá vào cuối những năm 20 và nhất
là những năm 30 của thế kỉ trước. “Cơn sóng ngầm mãnh liệt” này vẫn bị xô
đẩy bởi hai động lực trên trái đất là phát triển công nghiệp hóa và việc tuyên
truyền chính trị hoặc thương mại. Phát thanh không có được như báo in,
không hiện đại hấp dẫn như truyền hình nhưng nó đòi hỏi phải được hiểu
ngay tức khắc và can dự trực tiếp vào các sự kiện chính trị nổi bật. [5].
Phát thanh ra đời đã tạo ra cuộc bùng nổ truyền thông đại chúng lần thứ hai.
Bởi vì, thông tin trên phát thanh không bị giới hạn, ngăn cách bởi hàng rào địa
lý, hải quan, biên phòng, thuế vụ, biên giới quốc gia, mà ngay lập tức tác động
đến hàng triệu người trên khắp hàng tinh và do tính chất này, năm 1939 nước
Đức ban hành văn bản pháp luật cấm người dân nghe đài nước ngoài.
5
Ở Việt Nam phát thanh được phát triển nhanh chóng từ sau khi giành
được độc lập năm 1945( trước cách mạng Tháng tám năm 1945 ở Việt nam
không có đài phát thanh với tư cách là tiếng nói quốc gia, mà chỉ có đài phát
thanh tư nhân thương mại, hoặc đài phát thanh thuộc Pháp dùng để phục vụ
công cuộc cai trị ).

nghe.Giọng nói có sức truyền cảm mạnh mẽ, nhờ chất giọng và kỹ năng
nói như cao độ, cường độ, tiết tấu ngữ điệu diễn cảm, chương trình phát
thanh hướng tới số đông, nhưng người lại nghe radio với tư cách cá
nhân, từng người một. Điều này đòi hỏi thiết kế thông điệp và trình bày
như nói với từng người.
Thứ tư là phát thanh là kênh truyền thông rẻ tiền, do đó phát thanh thích
ứng với cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân với mức sống thấp như nước ta.
Thứ năm là phát thanh có thể nghe và làm việc khác, không phải tập
trung mọi giác quan vào việc tiếp nhận thông tin. Điều này rất có lợi cho nông
dân vừa làm việc nhà vừa nghe phát thanh.
Thứ sáu là phát thanh đến với mọi đối tượng, không phân biệt trình độ
văn hoá cao hay thấp, biết chữ hay không, chỉ cần có khả năng nghe. Đồng
thời phát thanh có khả năng phục vụ giải trí cho công chúng với chất lượng
cao qua các chương trình ca nhạc, văn nghệ.
Thứ bảy là phát thanh có lợi thế trong việc giữ gìn ngôn ngữ lời nói của các
dân tộc. Tại Nam Phi trong lúc phát thanh phát 11 loại ngôn ngữ trên sóng phát
thanh thì truyền hình vất vả lắm mới chuyển được 3 loại ngôn ngữ trên sóng.
Thứ tám là hệ thống phát thanh, truyền thanh lan toả đến tận phường xã.
Các ấp dân cư và radio theo bà con lên rẫy là điều mà truyền hình, báo in, báo
mạng điện tử không thể sánh kịp. [5].
• Phát thanh cũng có những điểm hạn chế riêng:
Thứ nhất, do tác động theo tuyến tính thời gian nên có thể nghe đoạn đầu
mà bỏ mất đoạn cuối nếu không tập chung sự chú ý của thính giác liên tục.
Thứ hai, thông tin tiếp nhận qua phát thanh dễ quên, khả năng lưu dữ
thông tin qua radio khó khăn và hạn chế, mặc dù hiện nay điều kiện ghi âm,
băng từ khá hiện đại. Nhưng khi đã lưu giữ được thì đó là bằng chứng sống
động không thể ngụy tạo.
Thứ ba, trên sóng phát thanh khó có thể trình bày, phân tích những vấn
đề phức tạp, nhất là việc phân tích những số liệu, bởi thế mạnh của phát thanh
là thông tin và cổ động.

truyền hình thử nghiệm qua dây dẫn đầu tiên được thực hiện thành công tại
Mỹ, giữa hai thành phố Washington và New York cách nhau 250 dặm.
Năm 1936 lần đầu tiên trên thế giới đài BBC bắt đầu phát chương trình truyền
hình đều đặn.
8
Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã làm ngưng trệ tốc độ phát triển
của truyền hình. Mãi tới cuối những năm 40 nhất là những năm 50 của thế kỷ
XX truyền hình mới tiếp tục có bước phát triẻn và bùng nổ với sự đón đợi của
công chúng và thị trường châu Âu, châu Mỹ, nhất là Bắc Mỹ, rồi Nhật Bản là
những nơi phát triển mạnh truyền hình. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân 14% hàng năm, những năm 50 của thế kỷ XX Nhật Bản đầu tư mạnh
vào công nghệ sản xuất truyền hình màu và trở thành một trong những cường
quốc về công nghệ truyền thông.
Ở Việt Nam truyền hình ra đời muộn .Tại miền Nam dưới sự kiểm sóat
của Mỹ Ngụy từ 1962 trung tâm truyền hình theo hệ FCC được xây dựng và
băt đầu hoạt động từ năm 1966. Đến trước 1975 Mỹ đã đầu tư xây dựng các
đài truyền hình khu vực Cần Thơ, Nha Trang, Đà Lạt, Buôn Mê Thuật, Quy
Nhơn, Đà Nẵng và Huế. Ngay sau ngày miền Nam giải phóng các cơ sở này
được tiếp quản và đi vào hoạt động phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Ở miền Bắc 7/9/1970 đã phát chương trình truyền hình thử nghiệm tại 58
phố Quán Sứ, Hà Nội do các cán bộ đài phát thanh dược cử đi đào tạo tại
Cuba đảm nhiệm. Từ ngày 27/1/1971, phát thử nghiệm 3 chương trình mỗi
tuần, chủ yếu trong khu vực Hà Nội.
Từ ngày 7/5/1976 truyền hình Việt Nam chính thức phát hành ngày với
thời lượng mỗi ngày 3-4 giờ. Tháng 9/1978, truyền hình Việt Nam thử
nghiệm phát sóng truyền hình màu vào các buổi sáng chủ nhật. Từ năm 1990
phát trên hai kênh VTV1, VTV2, từ năm 1994 thêm VTV3 sau đó thêm
VTV4, truyền hình cáp chuyển đổi công nghệ sang truyền hình số …Trong
những năm gần đây Đài truyền hình Việt Nam không ngừng mở rộng kênh và
tăng cường thời lượng phát sóng, đổi mới công nghệ cải tiến chương trình

gian làm cho đối tượng tiếp nhận hoàn toàn bị động về tốc độ và trình tự tiếp
nhận cũng phải tập trung vào màn hình.
Thứ hai, muốn tiếp nhận chương trình truyền hình phải có máy thu. Với
điều kiện kinh tế, mức sống hiện nay không phải gia đình nào cũng có điều
kiện mua máy thu hình nhất là một nước nghèo như Việt Nam, nông dân bà
con vùng sâu vùng xa càng khó khăn hơn.
Thứ ba, chi phí sản xuất truyền hình rất tốn kém .
Thứ tư, tính tư liệu thấp, khó lưu giữ thông tin cho số đông, mặc dù các
điều kiện băng đĩa ghi hình hiện đại hơn và đã được cải thiện.
10
Thứ năm, tính hai mặt của truyền hình là rõ rệt. Năng lực tác động rất
mạnh mẽ nhất là đối với lớp trẻ. Một cảnh quay hay một hình ảnh lên màn
hình có thể làm đảo lộn những bài giảng đạo đức trong các nhà trường. Trong
khi các chương trình truyền hình cho các thanh thiếu niên và chương trình
giảng dạy trong nhà trường chưa có sự phối hợp nhằm tạo nên sự cổng hưởng
tích cực tới mục tiêu giáo dục toàn diện.
2.2.4. Khái niệm về tài liệu in ấn:
Có chữ viết hoặc hình ảnh hoặc là sự phối hợp giữa chữ viết và hình ảnh
được sử dụng phổ biến trong phát triển để nâng cao hiệu quả của truyền
thông. Tài liệu in ấn giúp cho người thúc đẩy trong việc thông tin giữa người
này với người khác trong đào tạo hoặc trình diễn(thuyết minh). Một số tài liệu
truyền thông chủ yếu:
• Tranh ảnh, áp phích: Là công cụ truyền thông nội bộ nhằm tạo ra những
cuộc hội thoại và xây dựng mối quan hệ giữa cán bộ hiện trường và cộng
đồng nông thôn. Nó đặc biệt hiệu quả ở những vùng sâu vùng xa.
• Tờ rơi, sách mỏng, tranh lật: Là tài liệu kết hợp giữa hình ảnh và nội dung,
có thể dùng cho các lớp tập huấn, cho hội thảo đầu bờ rất tiện và dễ sử dụng. [1].
2.2.5. Khái niệm về Internet: Là loại phương tiện truyền thông hiện đại
được sử dụng phổ biến vào ngày nay mang lại đầy đủ thông tin cần thiết cho
người sử dụng. [6].

hạt tròn, hạt dài, gạo thơm?
- Thông tin thời tiết là trạng thái tổng hợp của các yếu tố khí tượng xảy
ra trong khí quyển ở một thời điểm hay một khoảng thời gian xác định.
Những đặc trưng quan trọng nhất của thời tiết là các yếu tố khí tượng: nhiệt
độ, không khí, áp suất khí quyển, gió, độ ẩm; và các hiện tượng thời tiết như:
giáng thủy, sương mù, giông tố.
Thời tiết rất quan trọng đối với người làm nông nghiệp. Nông dân cần
biết năm nay dự báo mưa gió, lũ, bão như thế nào để bố trí lịch thời vụ cho
hợp lý. Thông tin thời tiết chính xác thì bố trí thời vụ làm lúa, xuống giống,
né rầy thuận lợi, đúng vào tiết trời, lúa ít sâu bệnh năng suất lại cao hơn.
- Thông tin chính sách nhà nước đối với nông nghiệp: Hệ thống các
chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò thúc đẩy việc hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng, làm cho
nó vận động, phát triển theo hướng có lợi nhất, phù hợp với mục tiêu và định
hướng đã đặt ra.
12
Nông dân thường nghe thông tin chung chung trên báo, đài về các chính
sách nhà nước đối với nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên thông tin về chính
sách cho nông dân vay vốn để tăng gia sản xuất phát triển nông thôn được
người dân quan tâm hơn cả. Việc hỗ trợ tiền vay 4%, hỗ trợ 30% tiền mua
máy nông nghiệp, hỗ trợ tiền mua lúa giống, hỗ trợ tiền mua con giống như
bò, heo, tôm, cá Nhưng thường chỉ là những thông tin về chính sách, còn
thông tin thủ tục xin vay lại chưa được phổ biến rộng rãi và dễ hiểu đến từng
nông dân, nên nông dân thường đi không lại về không, gây khó khăn trong
việc tiếp cận với các chính sách ưu tiên cho nông dân, người dân trở nên thờ ơ
với các chính sách nông nghiệp nông thôn. Do đó, nếu có chính sách nhà
nước hỗ trợ nông nghiệp thì nên phổ biến cho rõ ràng đầy đủ thông tin trên
báo chí hay đài cũng phải chi tiết cụ thể thì nông dân mới nắm bắt được.
- Thông tin về những tiến bộ khoa học kỹ thuật bao gồm: sự phát triển
khoa học, công nghệ và việc áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất. Ngày

+ Phỏng vấn người am hiểu: Cán bộ trạm khuyến nông, cán bộ phòng
nông nghiệp huyện, cán bộ thú y. Phỏng vấn sâu ông Phan Đình Toan phụ
trách Văn hoá xã hội, trưởng ban VHTT xã Quảng Thành.
+ Phỏng vấn hộ: chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn 30 hộ (10 hộ thôn Thanh
Hà, 10 hộ thôn Kim Đôi, 10 hộ thôn Thành Trung), trong đó sản xuất nông
nghiệp là nghề chủ yếu của mỗi hộ.
14
Nội dung phỏng vấn: những nguồn thông tin mà hộ được tiếp xúc,
những loại thông tin cần thiết và những thông tin đã nhận được, việc áp dụng
và phản hồi thông tin sau khi nhận được, mức độ thỏa mãn với các kênh
thông tin đã được tiếp xúc, các kênh thông tin mà hộ được tiếp xúc, thuận lợi
và khó khăn khi tiếp xúc đối với mỗi kênh thông tin, hiệu quả hoạt động của
từng kênh thông tin đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, việc kết hợp các
thông tin ở các kênh khác nhau và hiệu quả của việc kết hợp đó.
+ Thảo luận nhóm:
Nội dung: Xác định các nguồn, kênh, loại thông tin kiến thức về nông
nghiệp mà người dân địa phương có thể tiếp cận, với mỗi nguồn thì người dân
thu nhận được những loại thông tin gì?
Xác định vai trò, hiệu quả của các nguồn thông tin và nguồn thông tin
nào hiệu quả nhất.
15
Phần bốn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của xã Quảng Thành
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên:
Khái quát đặc điểm tự nhiên:
• Vị trí địa lý: Xã Quảng Thành là xã đồng bằng nằm về phía Đông Nam
của huyện Quảng Điền, ranh giới hành chính được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Quảng An, huyện Quảng Điền
- Phía Nam giáp xã Hương Vinh, huyện Hương Trà

cao nhất lên tới 4.927
mm
, năm thấp nhất khoảng 1.850
mm
. Số ngày mưa bình
quân/năm khoảng 160 ngày, chiếm 43% số ngày trong năm. Mưa tập trung
nhiều vào đầu tháng 9 đến tháng 12 hàng năm và thường xảy ra lũ lụt do lượng
mưa những tháng này thường chiếm từ 70 - 75% lượng mưa của cả năm.
• Tài nguyên:
+ Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 1.082 ha, hiện tại đất
đang sử dụng cho các mục đích là 1.081,75 ha chiếm 99,98% tổng diện tích tự
nhiên, trong đó đất nông nghiệp là 640,39 ha chiếm 59,19% tổng diện tích tự
nhiên, đất phi nông nghiệp là 441,36 ha chiếm 40,79% tổng diện tích tự
nhiên, đất chưa sử dụng là 0,25 ha chiếm 0,02% tổng diện tích đất tự nhiên
toàn xã.
+ Mặt nước: Nguồn nước mặt của xã được lấy từ các chi nhánh của sông
Bồ và sông Hương chảy qua trên địa bàn, có hệ thống sông nhỏ và hói tương
đối nhiều nên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên
lượng nước trong mùa mưa quá lớn nên thường gây ngập úng. Ngoài ra mặt
nước đầm phá trên địa bàn xã cũng tương đối thuận lợi cho việc tổ chức phát
triển nuôi trồng thuỷ sản.
17
+ Khoáng sản: Chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp, mặt nước Sông,
phá Tam Giang để nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ dân sinh, chưa phát hiện
được khoáng sản trên địa bàn xã.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Trên địa bàn toàn xã có 2477 hộ, và 11.411 nhân khẩu, được chia làm 9
thôn trong đó có thôn Quán Hoà được dịnh cư sau cơn bão số 8 năm 1995 và
trên 20 % dân số sống ven sông, ven hói và thấp trũng.Quảng Thành là một
xã thuần nông dân số làm nghề nông nghiêp chiếm trên 70 %, lao động

• Phương tiện cơ sở vật chất phục vụ truyền thông tại xã tương đối đầy
đủ, phần nào hổ trợ, giúp đỡ bà con nông dân về chọn giống, biện pháp phòng
chóng dịch bệnh một cách kịp thời mang lại hiệu quả trong sản xuất.
Bảng 1: Tình hình hoạt động truyền thông của xã
STT Nội dung hoạt động Đơn vị tính
Thực hiện
trong năm
1/ Tuyên truyền cổ động trực
quan
a Cờ thả Lượt 120
b Băng rôn Mét 840
c Tuyên truyền lưu động Buổi/Km 36/ 180
a Số tăng âm Cái/ Watt 4/ 700
2/ Hoạt động hệ thống truyền
thanh
b Trong đó: - Hữu tuyến Cái/ watt 2/ 300
- Vô tuyến Cái / Watt 1 / 100
c Số loa công cộng Cái 146
Trong đó: - Loa nén Cái 88
- Cụm FM Cái 58
d Tổng đường dây hữu tuyến Km 12
3/ Thư viện
- Số thôn có tủ sách Thôn 01
- Tổng số sách hiện có Bản/ Đầu sách 450/ 202
4/ Bưu điện Cái 1
5/ Tập huấn, chuyển giao kỹ
thuật
Lớp/ năm 3
(Nguồn: Theo báo cáo của ban Văn hóa thông tin xã 2009)
Theo báo cáo của huyện Quảng Điền thì trung bình mỗi xã có 40 loa phát

vốn để làm ăn, cho con em đến trường Việc tiếp nhận thông tin trong lĩnh
vực tín dụng được người dân tiếp thu khá tốt thông qua các kênh truyền thanh
của xã và qua các buổi họp dân từ các hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội
nông dân, hội cựu chiến binh… Đến kỳ trả lãi và gốc, người dân tiếp nhận
thông tin chủ yếu từ hệ thống truyền thanh của xã và chấp hành nộp đúng thời
gian quy định.
20
Thông tin về lao động việc làm trong công tác truyền thông: Lao động và
việc làm là một vấn đề bức thiết hiện nay. Tỷ lệ lao động thất nghiệp trên thế
giới và nước ta rất lớn. Hiện nay truyền thông rất phát triển và phân bố rông
rãi. Các thông tin tuyển dụng về lao động và việc làm của các công ty, doanh
nghiệp được truyền bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên
ở nông thôn việc người dân tiếp cận với lĩnh vực lao động và việc làm thì gặp
nhiều khó khăn trong khi đó nông thôn lại là vùng cung cấp một lực lượng lao
động khá lớn. Thông qua các buổi họp dân tập huấn công tác tuyển dụng, giới
thiệu việc làm đến với người dân là cần thiết.
Ở Quảng Thành thương hiệu rau sạch Hóa Châu đã được công nhận nên
xã rất quan tâm phát triển xây dựng thương hiệu và thông tin thị trường là yêu
cầu cần thiết nhất, để người dân có thể biết được giá cả, vật liệu đầu vào, đầu
ra một cách nhanh nhất hiệu quả nhất. Truyền thanh xã là kênh cung cấp
thông tin chủ yếu cho bà con ở đây.
• Thông tin về lĩnh vực môi trường
Môi trường là một điều kiện cốt tử đảm bảo cho sự phát triển bền vững
của các quốc gia, dân tộc. Do đó công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường là
nhiêm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội.Với sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, nhât là kỹ thuật sản xuất đóng gói bao bì, nhiều loại giấy, hộp
được làm chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc…rất tiện lợi và làm thay đổi tập
quán phong cách sống của người dân nông thôn. Bên cạnh các mặt tích cực ấy
là lượng rác thải ra ngày càng lớn. Nó đã và đang trở thành vấn đề được mọi
người quan tâm. Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong

nữ, hội nông dân, mặt trận, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh…tổ chức
tuyên truyền vân động người dân trong công tác dân số KHHGD, tổ chức các
cuộc thi, các cuộc tìm hiểu… Trạm y tế phối hơp với đài truyền thanh và xã
thường xuyên phát các băng đĩa và tăng thời lượng phát sóng.
Hằng năm đã tổ chức được 3 đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGD. Trước và sau các chiến dịch đều tổ
chức tuyên truyền phổ biến trên hệ thống đài truyền thanh xã. Đội ngũ cộng
tác viên dân số ở đây khá đông là người “đi từng ngõ gõ từng nhà” vận động
từng đối tượng nằm trong diện cần áp dụng các biện pháp tránh thai.
Đặc biệt là đối tượng trong diện 3-4 con tự nguyện đình sản sau khi sinh.
Lồng ghép đưa chính sách dân số vào quy ước làng văn hóa, như: đăng ký
xây dựng cụm dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên, xây dựng chế độ
thưởng phạt trong công tác dân số - KHHHGD. Những người vi phạm thì
22
không được công nhận là gia đình văn hóa, và không được vay vốn ưu đãi.
Với những nỗ lực trên tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm 1,6% so với năm 2008, tỷ lệ
sinh con thứ 3 năm 2010 là 24,7%. Mục tiêu 2011 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
xuống dưới 20%.
• Các bên cung cấp thông tin truyền thông chính trên địa bàn xã
Quá trình nguyên cứu cho thấy có rất nhiều tổ chức, cơ quan và cá nhân
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có mặt thường xuyên ở địa phương để
tham gia vào việc cung cấp thông tin nói chung và thông tin nông nghiệp nói
riêng. Người nông dân ở đây có thể nhận thông tin và kiến thức nông nghiệp
từ nhiều nguồn khác nhau :
- UBND xã: Là cơ quan đứng đầu của xã, chịu trách nhiệm quản lý mọi
lĩnh vực trong xã. Những thông tin từ UBND xã đưa về cho người dân rất
phong phú với nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội, môi trường….Người
dân tiếp nhận thông tin từ UBND như nguồn thông tin khá quan trọng quyết
định đến cuộc sống của họ, nhưng hiệu quả của các hoạt động chưa thực sự
như mong muốn, nó bị kìm chế bởi sự hoạt động kém hiệu quả của tổ chức

Từ những người thương lái, những người thu gom hàng hóa mà chủ yếu
là những người thu mua hàng nông sản ở địa phương (Thu mua đầu ra cho sản
xuất nông nghiệp). Khi những người nông dân bán sản phẩm cho những
thương lái, những người thu gom thì đồng thời họ cũng có quá trình trao đổi
thông tin, kiến thức nông nghiệp.
- Cán bộ khuyến nông, cán bộ thú y
Cán bộ khuyến nông là người đem những tiến bộ khoa học mới giới thiệu
với người nông dân, người thường xuyên tiếp xúc với người dân, tìm kiến sự
hỗ trợ từ bên ngoài để giúp họ phát triển sản xuất. Những thông tin mà cán bộ
khuyến nông truyền đạt: Giới thiệu giống mới có hiệu quả cao, kỹ thuật sản
xuất mới, các loại máy móc nông nghiệp mới…Những thông tin được chuyển
đến với người dân thông qua các buổi tập huấn, xây dựng các mô hình, tuyên
truyền qua loa, đài…
Cán bộ thú y là những người chuyên phụ trách về chăm sóc sức khoẻ cho
gia súc, phòng chống dịch bệnh….Trong quá trình hoạt động cán bộ thú y cơ
sở liên kết với cán bộ thú y cấp trên để xử lý các dịch bệnh lớn xảy ra trong xã.
4.3. Đánh giá khả năng truyền tải thông tin đến người dân của các kênh
truyền thông
4.3.1. Mức độ tiếp cận các kênh truyền thông thông tin của người dân
Xã Quảng Thành là một trong những xã có hệ thống hạ tầng nông thôn
còn yếu, nhất là hệ thống giao thông, cơ sở vật chất giáo dục và cơ sở vật chất
văn hoá. Do đó cuộc sống vật chất tinh thần người dân còn hạn chế, việc tiếp
24
cận với phương tiện truyền thông xã hổ trợ, việc đáp ứng tiện thông tin phục
vụ sản xuất chưa cao, vẫn còn phụ thuộc, vì vậy cần được quan tâm nên việc
sử dụng các kênh thông tin gặp nhiều khó khăn. Các thông tin được truyền tải
thường là các thông tin về: giáo dục, thời tiết, kĩ thuật, Tuy nhiên, mức độ
quan tâm của người dân đối với các kênh thông tin là không giống nhau.
Nguyên nhân chính là do các thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu của người
dân hoặc thông tin không đáp ứng kịp thời. Mức độ quan tâm của người dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status