PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình hội nhập, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH,HĐH) đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói
riêng đã tạo cho nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta có bước
chuyển biến sâu sắc. Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển dịch theo
hướng giảm tỷ trọng lao động và hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng
tỷ trọng lao động và hàng hoá trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch
vụ thương mại. Nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, lạc hậu đã dần
chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá, nhiều loại nông sản đã có vị trí trên
thị trường quốc tế như: gạo, tiêu, cà phê…
Những thông tin, kiến thức của nền nông nghiệp thế giới cũng như của
nền nông nghiệp trong nước sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát
triển của hệ thống sản xuất nông nghiệp, tác động trực tiếp đến người mỗi
nông dân. Trong khi đó, trình độ người nông dân còn hạn chế dẫn đến hạn chế
trong việc tiếp cận và ứng dụng các thông tin và kiến thức về nông nghiệp.
Đặc biệt là các kiến thức và thông tin về tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, về thị
trường và về các chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước.
Xã Hưng Thuỷ là xã nằm phía nam của huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng
Bình, là một xã nghèo bãi ngang thuộc chương trình 135 của chính phủ. Sinh
kế của đại đa số người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên,
sản xuất nông nghiệp ở đây có quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, trình
độ sản xuất còn lạc hậu, năng suất thấp, sản phẩm không có sức cạnh tranh
trên thị trường hoặc thiếu thị trường tiêu thụ do người dân thiếu các nguồn
thông tin kiến thức về nông nghiệp. Vấn đề cấp thiết hiện nay đối với địa
phương là phải xây dựng được một hệ thống kiến thức thông tin về nông
nghiệp sao cho người dân có thể tiếp cận, trao đổi, khai thác các thông tin
kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau.
Vì vậy cần có những nghiên cứu để đánh giá thực trạng và vai trò của hệ
thống thông tin và kiến thức nông nghiệp hiện có tại địa phương, từ đó sẽ
hình thành những cơ sở thực tiễn để đề ra phương hướng và giải pháp giải
trọng đối với việc đưa ra các quyết định của nông dân, ví dụ những chính sách
về thuế, chính sách về giá cả...
* Nguồn thông tin
Là yếu tố khởi xướng việc thực hiện quá trình truyền thông tin, yếu tố
đó có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức. Khi sử dụng
thông tin cần quan tâm đến độ tin cậy, sự tín nhiệm và tính chính xác, mới
mẻ, hấp dẫn của thông tin [3, 15].
Người nông dân sử dụng nhiều nguồn khác nhau để thu thập thông tin và
kiến thức cho việc quản lý nông trại của họ. Những nguồn này bao gồm:
Ở những người nông dân khác
Những tổ chức Khuyến nông của nhà nước
Những tư nhân buôn bán vật tư, cung cấp tín dụng và thu mua nông
sản
Những công ty của nhà nước, văn phòng tiếp thị và nhà làm chính
sách
Những tổ chức của nông dân và các thành viên của nó
Các tạp chí nông nghiệp, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, và các
phương tiện thông tin đại chúng khác
Chỉ một ít nông dân có thể liên hệ trực tiếp với các nhà nghiên cứu, nhất
là ở các nước đang phát triển, nơi mà số nhà nghiên cứu tính trên số nông dân
còn ít, giao thông khó khăn và có một khoảng cách xã hội giữa họ. Nghiên
cứu chỉ thực sự có tác động đến sản xuất nông nghiệp khi có những người làm
công tác thông tin giữa các nhà nghiên cứu với nông dân. Việc thông tin
những vấn đề, những kinh nghiệm và tình hình thực tế của nông dân cho các
nhà nghiên cứu cũng là điều quan trọng để nắm được những kết quả nghiên
cứu có thực sự thích hợp và quan trọng cho sự phát triển của nông nghiệp hay
không. Sự phát triển của những kỹ thuật có ích trong một hoàn cảnh nào đó sẽ
yêu cầu một sự tổng hợp những kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau. Sự tổng
hợp này thường phó mặc cho nông dân, mặc dù các nhà nghiên cứu và
Khuyến nông đóng một vai trò quan trọng trong quá trình đó. Việc tổng hợp
Hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp (Agricultural Knowledge and
Information System - AKIS) là: Các cá nhân, các mạng lưới hoạt động, các cơ
quan và những mối tương tác và liên kết giữa họ thu hút hay quản lý việc nảy
sinh, chuyển đổi, chuyển giao, lưu giữ, hồi phục, tổng hợp, truyền bá và sử
dụng những kiến thức và thông tin, và cùng phối hợp hành động để cải thiện
đáng kể sự phù hợp giữa kiến thức và môi trường và kỹ thuật được sử dụng
trong nông nghiệp.[2, 27]
AKIS đã được hình thành từ cuối những năm 1970 bởi các chuyên gia
Khuyến nông hàng đầu thế giới do họ nhận thấy được sự không thích hợp, sự
hạn chế của luồng thông tin/kiến thức một chiều từ trung tâm nghiên cứu đến
nông dân (Nagel 1979). Giữa những năm 1980, Bunting (1986) and Röling
(1987) đã có những bước tiến xa hơn, hai ông đã nhắm vào những chức năng
khác nhau của những nhà nghiên cứu, những người làm công tác Khuyến
nông và sự phối hợp giữa họ. Bản chất của AKIS là sự kết hợp giữa ba hệ
thống kiến thức, chúng được xem như là một phần của hệ thống kiến thức
nông nghiệp tổng hợp (sơ đồ 1) [12].
AKIS được mở rộng dựa trên cơ sở của các tổ chức bao gồm các tổ chức
cung cấp nguồn kiến thức nông nghiệp và tất cả các bên liên quan trong việc
sản sinh và phổ biến kiến thức nông nghiệp. Cơ sở của AKIS được dựa trên
các khái niệm về hệ thống kiến thức nông nghiệp. AKIS được mong đợi có
thể xúc tiến, đẩy mạnh mối liên kết giữa các tổ chức nông nghiệp trong một
vùng và giữa các vùng với nhau, đồng thời nó thúc đẩy mối liên kết giữa các
khâu, mắt xích trong hệ thống. Vào cuối những năm 1990, bản chất của AKIS
được xem xét lại. Nó không gói gọn trong sự phát triển nông nghiệp mà được
xét rộng ra trên cơ sở sự phát triển nông thôn (rural development (RD)), vì
vậy xuất hiện cụm từ AKIS/RD. Đến năm 2000, FAO và WB đã cùng nhau
công bố tài liệu: AKIS/RD: “Strategic vision and guiding principles”, và khái
niệm AKIS/RD được cộng nhận một cách rộng rãi. Một AKIS có hiệu quả
được thừa nhận như sự đáp lại: “công nghệ, kiến thức và thông tin cần thiết
cho người dân nông thôn; giúp cho họ đạt được những am hiểu để đưa ra
kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả của việc này vẫn
chưa phát huy hết và đem lại lợi ích cho nông dân. Lý do lớn nhất của việc
này là nông dân đang bị thiếu thông tin. Vì vậy, việc thiết lập hệ thống thông
tin đến với nông thôn là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong bối cảnh này.
Chi phí mà Nhà nước dành cho Khuyến nông mỗi năm lên đến hơn 100
tỉ đồng, tuy nhiên chỉ có 3% trong khoản kinh phí này dành cho việc thông tin
Khuyến nông, đây là khoản kinh phí quá ít ỏi cho một cường quốc về xuất
khẩu nông sản như Việt Nam.[5]
Hệ thống thông tin nông nghiệp của Việt Nam chủ yếu được chuyển tải
qua các kênh truyền hình quốc gia và địa phương. Tuy nhiên, thực tế thông tin
vẫn còn dàn trải và không tập trung vào lợi ích thiết thực của nông dân. Một
ông chuyên gia nông nghiệp trên đài truyền hình không thể nói tất cả về mọi
lĩnh vực trong nông nghiệp. Điều này vừa không chuyên nghiệp và thiếu
thuyết phục. Chưa kể một phần quan trọng mà nhà đài không để ý đến là việc
nông dân ba miền Bắc, Trung, Nam không thể nghe và hiểu được cùng một
giọng nói mà phát thanh viên chuyên về nông nghiệp nói.(Bùi Chí Bửu, viện
trưởng viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam)[5].
Vấn đề chuyển tải thông tin cho nông dân hiệu quả, cũng được các doanh
nghiệp trong ngành cà phê đem ra “mổ xẻ”. Thông tin chuyển tải cho nông
dân muốn hiệu quả, phải là thông tin trực quan. Đơn giản, khi đưa ra một
thông tin về Khuyến nông, 90% lượng thông tin mà nông dân nhận biết là lợi
ích thiết thực đối với họ, họ mới ghi nhận và thực hành những hướng dẫn này.
(Đặng Lê Nguyên Vũ, tổng giám đốc công ty cà phê Trung Nguyên)[5].
Ngoài ra thông tin phải đồng bộ, chuyên sâu và xuyên suốt, từ đài truyền
hình, phát thanh cho đến tài liệu in ấn về nông nghiệp. Cụ thể, nhà đài khi
phát một chương trình về Khuyến nông, phải nói rõ nơi nào bán tài liệu này
để nông dân mua về. Doanh nghiệp nông sản hoạt động trong ngành nghề,
hoàn toàn có thể phối hợp với đài để mua tài liệu phát miễn phí cho nông dân.
Những trung tâm Khuyến nông ở các địa phương ở xã huyện cũng cần phát
huy tốt vai trò của mình thông qua việc liên kết với doanh nghiệp, các cơ
còn là một trong những điều kiện thuận lợi để thực hiện xúc tiến thương
mại(Ngô Long Bồi, Trưởng phòng KHCN, Sở NN&PTNT Vĩnh Long)[].
2.5. Vai trò và sự phân tích AKIS.
Quan điểm của AKIS là người nông dân sử dụng rất nhiều nguồn khác
nhau để thu thập kiến thức và thông tin mà họ cần cho sản xuất nông nghiệp
và quản lý nông hộ của hộ. Những kiến thức mới không chỉ do cơ quan khoa
học tạo ra, mà còn do nhiều tác nhân khác tạo ra và phát triển lên. Điều này
rất có ích khi phân tích xem tất cả những nguồn này bổ sung và hỗ trợ lẫn
nhau như thế nào, hoặc giữa chúng có mâu thuẫn gì hay không. Nông dân sử
dụng những nguồn nào để thu thập kiến thức và thông tin, và làm thế nào để
những nguồn đó có được thông tin và kiến thức ấy. AKIS cũng phân tích
những luồng thông tin từ người dân này tới các người dân khác, tới các nhà
nghiên cứu, người làm chính sách và các nhà doanh nghiệp khác.
* Sự phân tích AKIS
Phân tích AKIS cho một vùng hay một lĩnh vực nào đó của nông nghiệp
là rất quan trọng để phát hiện ra những lỗ hổng đang kìm hảm sự phát triển
của nông nghiệp, cũng như những sự chồng chéo đang làm lãng phí nguồn lực
và có thể gây ra những mâu thuẩn không đáng có. Phân tích AKIS có thể là
trách nhiệm của dịch vụ Khuyến nông. Các tổ chức của nông dân cũng đóng
một vai trò có giá trị trong tiến trình này bằng việc làm rõ các thông tin cần
thiết của các thành viên và khuyến khích các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức
Khuyến nông và các tác nhân khác cung cấp những thông tin đó.
Thông tin nông nghiệp có thể được kết hợp trong những sản phẩm kỹ
thuật như thuốc trừ sâu, máy móc hoặc hạt giống và những bước đệm cho
việc sử dụng chúng. Những cái đó được Bennett (1990) gọi là những kỹ thuật.
Những thông tin và kỹ năng khác thường không được kết hợp trong một sản
phẩm, như việc dự tính dự báo sâu bệnh, thời vụ làm cỏ hay thời vụ luân canh
cây trồng,...Những việc này gọi là những thao tác (kỹ thuật canh tác). Các
công ty thương mại có thể thu được lợi nhuận từ việc bán và cung cấp những
thông tin về công nghệ, nhưng những thông tin về kỹ thuật canh tác thì chỉ
trò của mạng lưới hoạt động này có thể được thực hiện với những thông tin về
kỹ thuật sản xuất, cũng như đối với việc phát triển các mối quan hệ hiệu quả
hơn với thế giới bên ngoài, đặc biệt là thị trường.
PHẦN 3: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hưng Thuỷ
Đặc điểm tự nhiên:
Vị trí địa lý
Địa hình, đất đai
Đặc điểm kinh tế, xã hội
Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Tình hình nuôi trồng thuỷ sản
Các ngành nghề dịch vụ khác
Cơ sở hạ tầng
3.1.2 Mô tả hệ thống thông tin kiến thức về nông nghiệp của người dân
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
ở địa phương.
Các nguồn thông tin kiến thức.
Thông qua các kênh thông tin/phương tiện truyền thông.
Loại thông tin người dân được tiếp cận.
3.1.3 Vai trò của hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp trong hoạt động
sản xuất nông nghiệp của người dân
Phạm vi thông tin
Sự sẳn có phương tiện tiếp nhận thông tin của người dân (đài, ti
vi, báo…)
Sự phù hợp của thông tin với nhu cầu, nguyện vọng, trình độ
người dân
Đánh giá vai trò của các kênh thông qua sự bình chọn (xếp thứ
tự ưu tiên) của của người dân, của cán bộ địa phương.
2005 đến 2008 và các tài liệu liên quan khác.
Phỏng vấn sâu cán bộ địa phương và một số người am hiểu cộng
đồng như: Cán bộ Khuyến nông xã, trưởng thôn, hội trưởng hội
nông dân, hội trưởng chi hội phụ nữ...
Điều tra nông hộ theo phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc. Mẫu
được chọn ngẩu nhiên gồm 15 hộ sản xuất nông nghiệp.
Phỏng vấn bán cấu trúc các đối tượng khác gồm: các thương lái, hộ
thu gom nông sản; các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp.
Thảo luận nhóm
- Mục đích:
Xác định các nguồn thông tin kiến thức về nông nghiệp mà người dân
địa phương có thể tiếp cận.
Đánh giá vai trò, hiệu quả của các nguồn thông tin, kênh thông tin qua sự
bình chọn của người dân.
Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho việc phát triển
hệ thống thông tin kiến thức về nông nghiệp ở địa phương.
- Các bước tiến hành:
+ Chọn người tham gia: 15 người đã được lựa chọn tham gia vào
buổi thảo luận nhóm (tối 02/04/2009). Với 6 đại diện của thôn Đấu Tranh, 6
đại diện của thôn Thắng Lợi (trưởng thôn, chi hội trưởng chi hội nông dân
thôn, chi hội trưởng chi hội phụ nữ thôn, 3 người dân tham gia sản xuất nông
nghiệp), 1 người thu gom nông sản, 1 người kinh doanh vật tư nông nghiệp ở
địa phương và cán bộ Khuyến nông xã.
+ Tiến hành thảo luận:
⋅ Xác định các nguồn thông tin kiến thức về nông nghiệp mà
người dân địa phương có thể tiếp cận, nội dung (loại) thông tin
nhận được trong mỗi nguồn.
⋅ Thảo luận vai trò, hiệu quả của các nguồn thông tin. Xếp thứ tự
ưu tiên các nguồn/kênh thông tin với các tiêu chí:
Sự phù hợp của thông tin với nhu cầu người dân.
Tổng diện tích đất tự nhiên 1184,79 100
1 Đất nông nghiệp 504,06 42,54
2 Đất lâm nghiệp 131,07 11,06
3 Diện tích mặt nước 73,23 6,18
4 Đất thổ cư 47,23 3,99
5 Đất chuyên dụng 93,50 7,89
6 Đất chưa sử dụng 335,7 28,34
Nguồn: Kế hoạch phát triển Hưng Thuỷ giai đoạn 2005 - 2010
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 1184,79 ha trong đó đất dùng
cho nông nghiệp là 504,06 ha chiếm 42,54%. Theo xu hướng chung ở xã
Hưng Thuỷ diện tích đất nông nghiệp ngày càng được mở rộng tuy nhiên bình
quân đất nông nghiệp/đầu người không tăng mà còn có xu hướng giảm do sự
gia tăng dân số và do các nguyên nhân khác. Xã hội ngày càng phát triển, dân
số ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng đất đai của con người để làm nhà, đất
cho các công trình, đất sản xuất kinh doanh, phi nông nghiệp ngày càng gia
tăng. Do đó diện tích đất nông nghiệp một phần cũng bị thu hẹp, một phần lấy
từ quỹ đất chưa sử dụng của địa phượng.
4.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội
4.1.2.1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là một hoạt động sản xuất phụ nhưng nguồn thu nhập đem lại
cho các hộ nông dân tương đối lớn chủ yếu trang trải các chi phí sinh hoạt
hàng ngày. Lợn và trâu, bò là gia súc chủ yếu trong xã. Tổng đàn lợn nuôi là
4.590 con, bình quân: 3 con/hộ và có khoảng 85% hộ nuôi lợn. Đàn Trâu có
267 con, đàn bò có 855 con trong đó 10% là sử dụng cho cày kéo, 90% nuôi
kinh doanh để tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình. Đàn gà có 19.500 con,
đàn vịt có 7.150 con. (Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KT - XH, QPAN
năm 2008)
Lao động tham gia vào chăn nuôi lợn chủ yếu là nữ, còn nuôi trâu và bò
là nam giới. Trong đó khoảng 80 % là nam trong độ tuổi lao động còn 20%
người chưa đến tuổi lao động hoặc hết tuổi lao động tham gia hoạt động này.
vận chuyển sản phẩm về. Phụ nữ chủ yếu là làm cỏ, tỉa dặm và tham gia gặt
lúa.
Người dân địa phương chủ yếu sử dụng các giống lúa như: Giống lúa
Khang Dân, giống lúa Lai Trung Quốc, giống lúa X
21
, giống lúa Xuân Mai
(vụ hè thu) nên năng suất đạt tương đối cao. Nguồn giống chủ yếu mua từ
các công ty giống cây trồng (Được thực hiện dưới hình thức người dân đăng
ký giống tại trưởng thôn, sau đó trưởng thôn làm việc trực tiếp với công ty
giống).
4.1.2.3. Tình hình nuôi trồng thuỷ sản.
Tổng diện tích ao hồ đạt 22 ha và trên 30 ha cá lúa. Hàng năm nuôi thả
trên 80 vạn cá giống, thu trên 85 tấn cá thịt. Các giống cá chủ yếu là trắm cỏ,