Hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính - Pdf 29


I) CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
1. quan điểm 1 :
1.1 Hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá
trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Trong thực tế, các quan hệ tài
chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp
hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế. Tuy nhiên, đó không
phải là một hoạt động hỗn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ những nguyên
tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất
đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng. Giữa các bộ phận này
luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ thống tài
chính.
Do vậy, hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một
cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực
khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất
định.
Các bộ phận trong hệ thống tài chính hoạt động trên các lĩnh vực: tạo ra
nguồn lực tài chính, thu hút các nguồn tài chính và chu chuyển các nguồn tài
chính (dẫn vốn). Với các lĩnh vực hoạt động này, toàn bộ hệ thống tài chính
thực hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo
nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xã hội.
1.2 Cấu trúc của hệ thống tài chính.
Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận
dẫn vốn bao gồm: Tài chính doanh nghiệp, Ngân sách Nhà nước, thị trường
tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư và các tổ chức
xã hội, tài chính đối ngoại
Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chính được tạo ra, đồng
thời cũng là nơi thu hút trở lại nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm

vi khác nhau. Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ

sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn. Như vậy hoạt động thu –
chi của Ngân sách Nhà nước đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa
nhà nước với các tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp dân cư, nhà nước với
các nhà nước khác. Các mối quan hệ kinh tế giữa một tụ điểm vốn quan
trọng: Ngân sách Nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống tài chính.
1.2.3. Tài chính dân cư và các tổ chức xã hội
Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính. Hoạt động tài
chính của các nước có nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính ở nước ta
những năm gần đây đã chỉ ra rằng: nếu có những biện pháp thích hợp, chúng
ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để
phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần to lớn vào
việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà
nước.
1.2.4. Tài chính đối ngoại
Trong nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ kinh tế đã quốc tế hoá thì hệ
thống tài chính cũng là một hệ thống mở với những quan hệ tài chính đối
ngoại hết sức phong phú. Trên thực tế, những quan hệ này không tập trung
vào một tụ điểm nhất định mà chúng phân tán, đan xen vào các quan hệ tài
chính khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và vị trí đặc biệt quan trọng của
quan hệ tài chính đối ngoại cho nên người ta thừa nhận nó hình thành một bộ
phận tài chính có tính chất độc lập tương đối. Với những kênh vận động của
tài chính như viện trợ, thanh toán xuất nhập khẩu... nếu chỉ đứng trên góc độ
của từng tụ điểm vốn ở trong nước để xem xét thì hoạt động tài chính đối
ngoại được xem như là một trong số các biện pháp để huy động nguồn thu
cho Ngân sách Nhà nước (qua viện trợ, vay nợ từ nước ngoài), huy động vốn
của các doanh nghiệp (qua liên doanh, góp vốn cổ phần)... đối với hoạt động

tài chính đối ngoại phải đứng trên góc độ tổng hợp, toàn cục để xem xét,
nghiên cứu. Khi đó các mối quan hệ cụ thể, cục bộ sẽ hoà nhập vào một tụ
điểm duy nhất và quan hệ tài chính sẽ xảy ra giữa hai tụ điểm lớn, đó là quan

tài chính...
2.1 Về thực trạng phát triển thị trường tiền tệ
Tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng
thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương
mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài,
Qũy tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo
hiểm và tái bảo hiểm, Quỹ đầu tư... Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị
trường liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị
trường mở... thì không phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các
NHTM NN, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài, một số công ty bảo hiểm...
Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập
trung ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng
Trung ương. Theo đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng 6-
2002, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất
cơ bản trước đó. Hàng tháng Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản,
vẫn quy định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; cùng với lãi suất
nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ Swap, lãi suất thị trường mở, lãi suất thị trường
đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước tác động vào lãi suất thị trường, lãi suất
huy động vốn và lãi suất cho vay của các Tổ chức tín dụng.
Tác động vào lãi suất còn có công cụ dự trữ bắt buộc. Khi Ngân hàng Nhà
nước điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, có tác động làm tăng chi phí đầu
vào của các TCTD. Do đó hoặc là các TCTD giữ nguyên lãi suất huy động
vốn thì phải tăng lãi suất cho vay; hoặc là đồng thời vừa phải tăng lãi suất
cho vay, vừa phải tăng lãi suất huy động vốn.
Công cụ điều hành tỷ giá cũng có tác động vào lãi suất của các TCTD trên
thị trường tiền tệ, nhưng không rõ nét.

Với sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các TCTD,
với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương

chính thực hiện rất đa dạng và phong phú các sản phẩm và dịch vụ thu hút
tiền gửi, huy động vốn.

Tuy nhiên trong việc phát triển thị trường này, có thể thấy một tồn tại lớn là
chưa thu hút được tối đa tiền gửi không kỳ hạn, tiền nhàn rỗi trong dân cư
vào hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó lựa chọn các dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng hay rút tiền mặt ra chi tiêu bất cứ lức nào có nhu cầu. Đây là
nguồn vốn rất lớn và rất quan trọng, tạo đà cho phát triển thị trường tiền tệ,
bởi vì nó gia tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, gia tăng vốn khả dụng cho
các TCTD.
4.1 Về quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán:
Sau một thời gian xây dựng và phát triển, đến nay đã có trên 100 công ty
niêm yết cổ phiếu và một số loại trái phiếu được niêm yết trên trung tâm
giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lĩnh vực này, hệ
thống ngân hàng tiếp tục đóng vai trò tích cực trong phát triển thị trường
chứng khoán, với hầu hết trong số gần 50 công ty kinh doanh chứng khoán
đang hoạt động là trực thuộc các ngân hàng thương mại, với đa dạng các
nghiệp vụ: môi giới, tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán, cho vay thanh toán
chứng khoán... Hầu hết các công ty này đều kinh doanh có hiệu quả. Một số
công ty đã tổ chức đại lý đấu thầu cổ phiếu của một số NHTM cổ phần phát
hành mới tăng thêm vốn điều lệ.
NHNN cũng đã ban hành quy định tạm thời về việc niêm yết cổ phiếu của
NHTM cổ phần trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Hiện nay nhiều
NHTM cổ phần đã sẵn sàng niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch
chứng khoán. Được biết hiện nay NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã
có đơn và hồ sơ đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép vấn đề này.
Tuy chưa chính thức niêm yết giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng
khoán, nhưng thời gian qua, cổ phiếu của nhiều NHTM cổ phần đã giao dịch
đơn lẻ, không chính thức trên thị trường phi tập trung OTC. Mệnh giá cổ
phiếu của nhiều NHTM cổ phần được giao dịch cao gấp 1,1 lần đến 2,5 lần

các NHTM là rất lớn. Việc các NHTM cổ phần niêm yết cổ phiếu trên Trung
tâm giao dịch chứng khoán, các NHTM NN cổ phần hóa thực hiện phát hành
cổ phiếu lần đầu trên Trung tâm, cũng như tới đây sẽ có thêm một số Công
ty kinh doanh chứng khoán của các NHTM đi vào hoạt động... sẽ tạo đà thúc
đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh hơn nữa.
Song cho đến thời điểm này, mới chỉ có gần 100 công ty cổ phần niêm yết
cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là
quá ít, tạo ra sự nghèo nàn hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu
của các NHTM chưa được niêm yết và giao dịch cũng phần nào hạn chế tính
sôi động của thị trường. Tính thanh khoản của thị trường chưa cao. Thông
tin chưa thật sự minh bạch.
6.1 Nguyên nhân của tình trạng trên:

Ngân hàng TW chưa thực sự mạnh, năng lực điều hành chính sách tiền tệ và
vận hành nghiệp vụ NHTW còn hạn chế. Họat động dịch vụ của các NHTM
và TCTD chưa phát triển. Tiến trình cơ cấu lại các NHTM chưa đạt được
các kết quả như dự kiến, đặc biệt là xử lý nợ xấu đang có xu hướng gia tăng
trở lại. Việc tăng vốn điều lệ để đảm bảo tỷ lệ an toàn theo thông lệ quốc tế.
Tiến trình cổ phần hóa DNNN nói chung, cổ phần hóa NHTM Nhà nước nói
riêng còn rất chậm, đây cũng là lực cản cho sự phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, việc Hội đồng quản trị các NHTM cổ phần
có tư tưởng chần chừ, chậm đưa cổ phiếu của các NHTM cổ phần của mình
niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán, cũng làm chậm tiến trình
nói trên.
7.1 Giải pháp và kiến nghị cho phát triển thị trường tài chính ở nước ta
trong thời gian tới:
Việt Nam không thể đẩy quá nhanh việc xây dựng thị trường tài chính, cũng
như thị trường chứng khoán vượt lên trên sự phát triển chung của nền kinh
tế, tức là phải phát triển đồng bộ, tất nhiên là phải có sự ưu tiên xây dựng
các tiền đề, cơ sở hạ tầng nào đó. Chúng ta không thể nôn nóng, cũng như

dụng, có cơ chế điều hòa vốn linh hoạt hơn của hệ thống này. Trên cơ sở đó
tạo điều kiện thu hút Quỹ tín dụng tham gia thị trường liên ngân hàng và các
dạng khác của thị trường tiền tệ so NHNN tổ chức, vận hành.
- NHNN nâng cấp thị trường nội tệ liên ngân hàng, thể hiện rõ vai trò can
thiệp cuối cùng của NHNN trên thị trường này. Tiến tới công bố được lãi
suất thị trường nội tệ liên ngân hàng ở Việt Nam do là lãi suất chủ đạo của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Bản thân các Tổ chức trung gian tài chính cần phải nhanh chóng đa dạng
hóa các nghiệp vụ kinh doanh của mình, nhất là nghiệp vụ kinh doanh trên
thị trường tiền tệ theo thông lệ quốc tế. Các NHTM mạnh dạn đầu tư hơn
nữa cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và thu hút tiền gửi không kỳ
hạn, dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Đây cũng chính là các nhà đầu tư
cá nhân trên thị trường chứng khoán trong thời gian tới, cũng như là khách
hàng tiềm năng của nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà Ngân hàng
thương mại cần nhằm tới thu hút./.
2. Quan điểm 2: Căn cứ theo vai trò kiểm soát của nhà nước , đặc biêt là
kiểm soát với lãi suất thì: hệ thống tài chính chia thành hai mô hình là hệ
thống tài chính được kiểm soát và hệ thống tài chính tự do.
*Hệ thống tài chính được kiểm soát:

+ Đặc trưng:
-Lãi suất ngân hàng được ấn định, kiểm soát chặt chẽ và gần như cố định.
-Tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao.
-Tông tại tình trạng phân bổ và chỉ định tín dụng.
- Không tồn tại yếu tố cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng độc quyền bởi nhà
nước.
-Sự can thiệp và kiểm soát của nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng thuộc
sở hữu nhà nước là điều kiện để kiểu hệ thống tài chính này tồn tại và phát triển.
+Mục đích: ổn định kinh tế, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên phát triển.
+Nơi áp dụng: một số nước đang phát triển và nền kinh tế đang chuyển đổi.

9%
"2619/QĐNHNN
05/11/2010"
05/11/2010
8%
2561/QĐ-NHNN
27/10/2010
01/11/2010
8% 2281/QĐ-NHNN 27/9/2010 01/10/2010
8% 2024/QĐ-NHNN 25/8/2010 01/09/2010
8% 1819/QĐ-NHNN 27/7/2010 01/08/2010
8% 1565/QĐ-NHNN 24/6/2010 01/07/2010
8% 1311/QĐ-NHNN 31/5/2010 01/06/2010
8% 1011/QĐ-NHNN 27/4/2010 01/05/2010
8% 618/QĐ-NHNN 25/03/2010 01/04/2010
8% 353/QĐ-NHNN 25/2/2010 01/03/2010
8% 134/QĐ-NHNN 25/01/2010 01/02/2010
8%/năm
2665/QĐ-NHNN
25/11/2009
01/12/2009
7%
2459/QĐ-NHNN
28/10/2009
01/11/2009
7,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009
7% 2024/QĐ-NHNN 26/8/2009 01/09/2009
7% 1811/QĐ-NHNN 30/7/2009 01/08/2009
7% 1539/QĐ-NHNN 30/6/2009 01/07/2009
7% 1250/QĐ-NHNN 22/5/2009 01/06/2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status