Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính - Pdf 94

LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường tài chính - một thị trường đang trên đà hình thành là nơi diễn ra các
hoạt động luân chuyển, đầu tư các nguồn lực xã hội, cung ứng các nguồn vốn cho
hoạt động kinh tế. Điều này đã góp phần làm thay đổi sâu sắc, từ những thói quen
tiêu dùng, tiết kiệm tiền nhãn rỗi trong tiêu dùng đến những bước phát triển vĩ mô
đánh dấu sự hoàn thiện của nền kinh tế thị trường. Nó góp một phần đắc lực cho công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo thế và lực mới cho dân tộc ta bước
vào thế kỷ XXI.
Tuy vậy, sau 15 năm đổi mới, thị trường tài chính còn là một vấn đề khá mới
mẻ khi mà phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính là một tất yếu khách quan cho
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Những hình thành ban đầu còn nhỏ bé, manh
mún, chưa thực sự tạo được động lực cho phát triển. Chúng ta không chỉ tụt hậu so
với sự phát triển hàng trăm năm của thị trường tài chính thế giới mà còn so với cả sự
phát triển của khu vực.
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 97 xảy ra còn
để lại nhiều hậu quả nặng nề buộc chúng ta phải nhận thấy rằng vấn đề phát triển và
hoàn thiện thị trường tài chính càng trở nên quan trọng hơn, cấp thiết hơn cho việc
xây dựng một thị trường tài chính lành mạnh, ổn định, năng động.
Để có thể góp một ý kiến chung vào việc tìm hiểu, đánh giá nghiên cứu phạm
trù "Thị trường tài chính" cũng là để nâng cao hơn nữa khả năng về chuyên ngành
mình đang học, em đã chọn đề tài " Thị trường tài chính và vai trò của thị trường
tài chính trong việc góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn tài chính".
Bài viết chủ yếu đưa ra các vấn đề xung quanh thị trường tài chính từ đó có
những đánh giá, nhìn nhận và các giải pháp cho sự phát triển hoàn thiện thị trường tài
chính Việt Nam.
1
Đề tài gồm có các phần như sau (Mục lục):
Lời nói đầu.
Nội dung
Phần I: Tổng quan về TTTC:

hàng hoá.
Chủ nghĩa tư bản trải qua quá trình hình thành và phát triển đã đưa kinh tế hàng
hoá lên thành kinh tế thị trường, đưa ra những tiền đề cần thiết để nảy sinh, hình
thành TTTC. Như vậy sự phát triển của kinh tế thị trường sự tham gia của tiền tệ vào
hoạt động kinh tế, sự tích lũy tập trung tư bản... là những tiền tệ quan trọng hình
thành TTTC.
Các nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và hoàn
thiện TTTC, từ việc in ấn, phát hành đều lưu thông, huy động tiền tệ và các nguồn
lực sản xuất quốc gia đến việc phân bổ các nguồn lực tài chính ra toàn xã hội và còn
vượt qua khỏi phạm vi quốc gia hình thành nên TTTC quốc tế.
Những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho sự phát triển của TTTC và ngược lại,
đến lượt mình, TTTC đã làm cho nền kinh tế xã hội phát triển ở bước cao hơn.
Ngày nay, trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá các nền kinh tế, TTTC đã
mở rộng ra phạm vi toàn thế giới và đang ngày càng đóng góp và nền kinh tế thế giới.
Chính xu thế toàn cầu hoá đã hội nhập các TTTC lại với nhau biến các TTTC nhỏ bé
độc lập thành những TTTC khổng lồ, hoạt động phụ thuộc lẫn nhau và tạo động lực
cho nhau cùng phát triển.
Việt Nam chúng ta cần đánh giá đúng bản chất ra đời, tồn tại của TTTC từ đó
mà dựa trên các quy luật khách quan để xây dựng một TTTC hợp lý, từng bước phát
triển, hội nhập vào quốc tế, khu vực.
3
2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của TTTC.
TTTC là nơi diễn ra các hoạt động luân chuyển vốn trực tiếp từ các tổ chức cá
nhân có vốn sang các tổ chức cá nhân cần vốn đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã
hội hàng ngày.
Mọi nền kinh tế đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển vào có
thể được huy động từ nhiều nguồn nhà nước, ngân hàng... và cuối cùng là qua trung
gian TTTC - một công cụ hết sức quan trọng của nền kinh tế thị trường về phương
diện cung cấp và luân chuyển vốn.
Nếu như trên thị trường hàng hoá, đối tượng mua bán là các loại sản phẩm hàng

sách tài chính, điều hoà các hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện giám sát điều chỉnh
nền kinh tế vĩ mô.
Thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính trên thị trường, các hệ thống
giám sát của nhà nước có thể theo dõi sát sao các hoạt động không chỉ trong lĩnh vực
tài chính tiền tệ mà cả sản xuất kinh doanh.
Chính phủ có thể điều tiết lượng cung - cầu tiền tệ đảm bảo bình ổn hoạt động
của nền kinh tế, bù đắp thâm hụt kích cầu tiêu dùng. Mặt khác, nhà nước có thể thông
qua chính sách lãi suất hướng hoặc hạn chế vào một số lĩnh vực sản xuất, ưu tiên các
ngành hướng về xuất khẩu, mũi nhọn v.v...
+ TTTC tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước
ngoài.
Do việc hình thành và phát triển TTTC quốc gia hàng năm ngoài xu thế quốc tế
hoá. TTTC tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân hoà nhập vào nền kinh tế thế giới,
giúp các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn mua cổ phiếu trực tiếp trên thị trường, góp
vốn liên doanh đầu tư sản xuất... Thông qua hệ thống luật hoàn chỉnh và tính chất
"mở cửa" có thể cho phép nới lỏng, thu hẹp hoạt động đầu tư nước ngoài. Điều đó
đảm bảo tính hợp lý cho phát triển kinh tế đối ngoại.
Như vậy, TTTC đóng một vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế xã hội
vai trò đó chỉ được phát huy khi nó được hình thành trong một điều kiện thích hợp và
hoạt động trong một cơ chế linh hoạt, lành mạnh.
Tuy vậy, bản thân nền KTTT cũng như TTTC đều có những khuyết tật của nó
đòi hỏi phải nắm vững cơ chế vận hành của TTTC, có những biện pháp hữu hiệu
giám sát và thúc đẩy hoạt động của nó.
3. Cấu trúc của TTTC.
Là một thực thể trừu tượng, đa dạng, TTTC có thể được xem xét, đánh giá dưới
nhiều góc độ khác nhau. Mỗi góc độ đưa ra một đặc trưng riêng trong sự đa dạng của
TTTC.
1. Dựa trên phương thức huy động vốn: Thị trường nợ và thị trường vốn cổ
phần:
a. Thị trường nợ:

Thông qua cơ chế hoạt động huy động vốn của các công ty cổ phần, các công ty
này phát hành cổ phiếu, trái phiếu mà hiện nay chủ yếu là trên TTCK, các nguồn vốn
nhãn rỗi sẽ trực tiếp đầu tư vào hoạt động ở các công ty. Vốn được thu hút từ mọi
nguồn cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và được thu hút vào các công ty cổ phần các
ngân hàng, tổ chức tài chính và cả chính phủ.
6
Đặc trưng của cổ phiếu trái phiếu là không có một thời hạn cụ thể, sự đóng góp
vốn vào công ty có thời hạn phụ thuộc vào việc lưu giữ cổ phiếu của người sở hữu và
cả tình hình kinh doanh của công ty, thông thường sau một kỳ hạn nhất định (thường
là một năm) chủ sở hữu cổ phần được chia lợi tức.
Hoạt động trên thị trường vốn cổ phần không phản ánh mối quan hệ giữa những
người đi vay và người cho vay về ở đây không được đặc trưng bởi sự vay mượn các
công cụ nợ. Nó là mối quan hệ giữa những người chủ sở hữu trong công ty cổ phần
họ cùng tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty và thu lợi nhuận. Điều đó lý giải tại
sao cổ phiếu, trái phiếu không có một thời hạn cụ thể.
Như vậy, mỗi cá nhân, tổ chức mua cổ phiếu, trái phiếu sẽ là một nhà đầu tư do
đó, họ sẽ không được hưởng lợi đầu tư như những nhà cho vay. Lợi nhuận sau thuế
được phân bổ trả lãi thuế vốn, tài sản, tái đầu tư, thuê lao động... sau đó mới chia cho
các cổ đông. Nếu có rủi ro xảy ra, họ phải cùng liên đới chịu trách nhiệm hữu hạn
ứng với phần vốn đã đóng góp.
Diễn biến kinh tế trên thị trường vốn cổ phần phụ thuộc vào lợi nhuận kinh
doanh của công ty. Lãi suất chỉ có tác động gián tiếp vì mỗi mức lãi suất sẽ tác động
đến đầu tư, thu nhập và lợi nhuận ròng của công ty. Còn lợi nhuận ảnh hưởng trực
tiếp đến trị giá cổ phiếu mà mỗi cổ đông có thể nhận được khi đầu tư vào công ty cổ
phần. Nếu tình hình kinh doanh thấp kém, các nhà đầu tư để đồng loạt bán ra cổ
phiếu, trái phiếu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn công ty.
Như vậy, việc huy động vốn trên thị trường nào, nợ hay vốn cổ phần là tuỳ
thuộc vào tình hình mỗi công ty cũng như sự quy định của luật doanh nghiệp. Thông
thường, các doanh nghiệp huy động vốn cơ bản chủ yếu là trên thị trường nợ đảm
bảo nguồn vốn lớn, tập trung cho đầu tư sản xuất. Còn khi muốn mở rộng sản xuất,

pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế.
Ngoài ra còn thị trường thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng chủ yếu tham gia
phát hành các công cụ vay ngăn hạn.
b. Thị trường vốn:
Là một bộ phận của TTTC diễn ra việc mua bán, trao đổi các công cụ nợ trung,
dài hạn và cổ phiếu.
Các công cụ lưu hành có tính lỏng kém, thời gian lưu hành dài. Do đó hoạt
động trên thị trường vốn mang tính rủi ro cao và giá cả biến đổi phức tạp do kỳ hạn
dài.
Thị trường vốn xét về mặt bản chất phản ánh các quan hệ mua bán không phải
là số lượng nhất định các khoản tiền mặt, các tư liệu sản xuất mà là các quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất và vốn tiền mặt. Như vậy, thị trường vốn là một bộ phận của
TTTC được chuyên môn hoá đối với các nguồn lực tài chính và trao quyền sử dụng
8
dài hạn. Do đó, các nguồn lực tài chính này chủ yếu là được đầu tư dài hạn vào đầu
tư sản xuất kinh doanh.
Khi lãi suất không ổn định, xu hướng lạm phát cao, hoạt động của thị trường
vốn bị thu hẹp và phải nhường chỗ cho thị trường tiền tệ vì lúc đó tham gia thị trường
vốn có độ rủi ro rất cao. Do đó, tính ổn định của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng lớn
đến hoạt động của thị trường vốn.
Vai trò của thị trường vốn:
Đảm bảo nguồn tài trợ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, cho các tổ chức tín
dụng ngân hàng đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn.
Tạo cơ hội kinh doanh cao cho các nhà đầu tư.
Nhà nước có thêm vốn đầu tư vào các công trình lớn, cơ sở hạ tầng. Các bộ
phận của thị trường vốn:
+ Thị trường trái phiếu chính phủ chủ phát hành các công cụ nợ có mệnh giá
cao, khối lượng lớn của chính phủ, lãi suất thấp không có rủi ro.
+ Thị trường trái phiếu công ty do các công ty phát hành trái phiếu, lãi suất tuỳ
thuộc vào tình hình công ty song có độ rủi ro cao.

công ty phát hành, nhưng phạm vi diễn ra rộng lớn và thông tin phong phú, phổ biến.
Thị trường cấp II như là một dấu hiệu theo dõi công việc kinh doanh không chỉ của
doanh nghiệp mà còn của cả nền kinh tế. Hoạt động đã diễn ra khỏi nội bộ các nhà
kinh doanh và liên quan đến hoạt động, chú ý của dân chúng.
Cả hai thị trường phụ thuộc vào nhau. Thị trường cấp II ảnh hưởng đến thị
trường cấp I, việc định giá cả, khối lượng ở thị trường cấp II vừa quy định, vừa phụ
thuộc vào hoạt động của thị trường cấp I.
Thông thường không tồn tại ranh giới rõ rệt giữa hai thị trường, các hoạt động
đan xen hoà lẫn vào nhau. Thị trường cấp I là cơ sở cho thị trường cấp II, còn thị
trường cấp II lại là động lực cho thị trường cấp I.
4. Các công cụ trên TTTC:
a. Các công cụ của thị trường tiền tệ:
+ Trái phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn do chính phủ phát hành nhằm
bù đắp thâm hụt ngân sách tạm thời và tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình.
Trái phiếu kho bạc có độ an toàn cao nhất vì khả năng vỡ nợ của chính phủ là
gần như không thể xảy ra, tuy vậy lại có lãi suất thấp nhất và được trả cùng với gốc
(lãi suất chính phủ là lãi suất cơ sở của thị trường). Khách hàng của trái phiếu kho
bạc là nhân dân, ngân hàng thương mại, NHTW các tổ chức tài chính trung gian.
+ Các chứng chỉ tiền gửi là việc chứng nhận cho tiền gửi vào các ngân hàng
thương mại của các nhân, tổ chức.
10
Phổ biến nhất là hình thức sổ tiết kiệm, séc thanh toán... có thể dùng các chứng
chỉ này để thanh toán, tuỳ thuộc vào mức độ chấp nhận thanh toán của dân cư, nền
kinh tế và quy định của các tổ chức.
+ Các thương phiếu kỳ phiếu do các ngân hàng thương mại phát hành chủ yếu
là để huy động vốn tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách của các ngân
hàng, lãi suất cao song thời gian rất ngắn.
b. Các công cụ của thị trường vốn:
+ Cổ phiếu là một chứng chỉ chứng nhận quyền góp vốn của các cổ đông, nó
không phải là một công cụ vay nợ trên TTTC.

Nền kinh tế thị trường đó phải được phát triển ổn định trong một thời gian dài,
ổn định cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh.
Chuyển sang kinh tế thị trường nhưng phải luôn luôn khẳng định vai trò của nhà
nước và thành phần kinh tế nhà nước trong việc định hướng phát triển của nền kinh
tế, tạo điều kiện thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tài chính - tiền tệ.
Nền kinh tế phải có những chuyển biến tích cực, bắt đầu có tích luỹ và xuất
hiện nhu cầu gửi tiền dư thừa cũng như đầu tư trong dân chúng.
Đã xây dựng được một mạng lưới cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như hệ thống
thông tin liên lạc rộng khắp, hiện đại, đồng bộ trong cả nước tạo thành một thể thống
nhất từ TW đến địa phương.
Các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng được phép hoạt động độc lập tự chủ,
hoạt động trong phạm vi khuôn khổ pháp luật. Nới lỏng và tiến đến tự do hoá lãi suất
tín dụng.
Đã xây dựng được một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh làm cơ sở cho quản lý
điều hành đất nước.
2. Đặc điểm của TTTC Việt Nam hiện nay:
Trước hết, cần khẳng định TTTC Việt Nam là một TTTC Xã hội chủ nghĩa
chính vì vậy mà nó có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với TTTC của thế giới
TBCN.
Cơ sở tồn tại và xây dựng TTTC Việt Nam được xây dựng chủ yếu dựa trên chế
độ công hữu về TLSX, có mối quan hệ bình đẳng hợp tác cùng có lợi giữa các loại
hình, thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp và người lao động. Ngân hàng TW là
chủ thể của cơ cấu tài chính, của TTTC. Điều này rất khác biệt so với TTTC TBCN
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status