Bản chất của ngân hàng thương mại và vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế quốc dân - Pdf 30

Đặt vấn đề
Ngân hàng thơng mại có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền
kinh tế.Trong các nớc phát triển,hầu nh không có công dân nào không có
quan hệ giao dịch với một ngân hàng.Nền kinh tế càng phát triển, hoạt
động và dịch vụ của ngân hàng thơng mại càng đi vào tận cùng những ngõ
ngách của nền kinh tế và đời sống của con ngời.Mọi công dân đều chịu tác
động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gởi tiền, một ngời vay, hay đơn
giản là ngời đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng
các dịch vụ ngân hàng.
Từ lâu, ở hầu hết các nớc có nền kinh tế phát triển, ngân hàng thơng
mại là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế. Song cho
đến nay, ở Việt Nam, ngân hàng thơng mại vẫn còn là phạm trù xa lạ, nó
còn đợc ít ngời biết đến, là một khái niệm chứa đầy bí ẩn cha đợc khám
phá. So với lịch sử phát triển hàng trăm năm của các ngân hàng thơng mại
trên thế giới, quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng thơng mại
Việt Nam quá ngắn ngủi. Để hiểu sự liên đới của ngân hàng thơng mại với
dời sống của nhân dân và nền kinh tế, cần nghiên cứu các nghiệp vụ của
ngân hàng thơng mại và bản chất của hoạt động kinh doanh này. Hoạt động
ngân hàng mang tính cạnh tranh cao độ. Trong nền kinh tế thị tờng, cạnh
tranh là qui luật hoạt động tự nhiên, không lệ thuộc vào nhận thức hoặc sự
lựa chọn chủ quan của con ngời. Xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các
doanh nghiệp, cạnh tranh là động lực của sự phát triển, mục đích của cạnh
tranh là việc giữ vững thị phần của mình, mở rộng thị phần sang thị trờng
tiềm năng xâm lấn thị trờng của đối thủ cạnh tranh. Mục tiêu của kinh
doanh là tối đa hoá lợi nhuận, an toàn trong kinh doanh, không ngừng gia
tăng doanh thu, nên cạnh tranh chính là một trong các chìa khoá của mỗi
doanh nghiệp để đạt đợc tham vọng trong thơng trờng. Ngày nay, do sự
phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ, sản xuất hàng hoá phát
1
triển với qui mô rộng lớn làm cho cạnh tranh càng quyết liệt và sâu rộng.
Cạnh tranh chính là yếu tố nội tại của quá trình kinh doanh và tiếp xúc với

ngân hàng trung ơng (nh việc phát hành tiền, điều chỉnh lãi suất, thay đổi
hạn mức dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, thay đổi khung chênh lệch tỷ
giá hối đoái...) đến khu vực phi ngân hàng và đến nền kinh tế. Ngợc lại,
cũng qua các ngân hàng trung gian và các định chế tài chính trung gian
khác, tình hình sản lợng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng
cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá... của nền kinh tế đợc phản hồi về cho ngân
hàng trung ơng để chính phủ và ngân hàng trung ơng có những chính sách
điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể.
b. Trung gian tài chính giữa ngời đi vay và ngời cho vay:
Các ngân hàng trung gian một mặt nhận những khoản tiền gửi tiết
kiệm của công chúng hoặc những khoản tiền chờ đợi để chi tiêu (tiền "nhàn
rỗi" ở các cơ quan doanh nghiệp hoặc trong nhân dân); mặt khác cho những
cá nhân, đơn vị cần tiền vay để sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng. Rõ
ràng ở đây ngân hàng đóng vai rò trung gian giữa ngời có tiền cha dùng đến
nhng muốn sinh lợi những số tiền đó và những ngời cần tiền vì nhiều lý do:
đầu t, kinh doanh, tiêu dùng, mua sắm... Chính những chức năng huy động
3
từ công chúng những khoản tiền và dùng nó vào việc sinh lợi của các ngân
hàng thơng mại đã giúp phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính
trung gian phi ngân hàng. Trong khi các ngân hàng thơng mại nhận tiền gửi
thờng xuyên hay các khoản ký thác và dùng các khoản tiền đó để cho vay,
thì các định chế tài chính không phải là ngân hàng lại không có chức năng
đó. Họ sử dụng vốn riêng của mình để cho vay hay đầu t. Nếu thiếu vốn họ
phát hành trái phiếu để huy động vốn.
2. Ngân hàng thơng mại - một kiểu mẫu ngân hàng trung gian:
Trong các ngân hàng trung gian, hệ thống các ngân hàng thơng mại
chiếm vị trí quan trọng nhất về quy mô tài sản và về thành phần các nghiệp
vụ. Hoạt động của ngân hàng thơng mại bao gồm 3 lĩnh vực: nghiệp vụ nợ
(huy động vốn), nghiệp vụ có( Cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới
trung gian (dịch vụ thanh toán, đại lý, t vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật

(Commercial bank) với các ngân hàng trung gian khác, ngời ta vẫn tách
ngân hàng thơng mại ra thành một nhóm riêng vì những lý do đặc biệt của
nó. Một trong những lý do này là tổng tài sản có của ngân hàng thơng mại
luôn luôn là khối lợng lớn nhất trong toàn bộ ngân hàng trung gian, khối l-
ợng séc hay tài khoản ký thác không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra là bộ phận
quan trọng trong tổng cung của nền kinh tế. Nh vậy ngời ta phân biệt nó
dựa trên các thành phần của tài sản nợ. Cho đến cuối thập niên 60, đIểm
đặc thù để phân biệt một ngân hàng thơng mại với các ngân hàng trung
gian khác là chỉ duy nhất có nó là đơn vị đợc phép mở tài khoản tiền gửi
không kỳ hạn cho công chúng. Vào lúc ấy tiền gửi không kỳ hạn bị cấm trả
lãi. Tuy nhiên, do nhu cầu giao dịch thông qua séc vãn tăng rất lớn hàng
năm, cho nên khối lợng séc có thể viết từ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
mà ngân hàng thơng mại có thể tạo ra là bộ phận quan trọng trong tổng
cung tiền tệ của nền kinh tế và là bộ phận mạnh nhất sau tiền mặt pháp định
(tiền ngân hàng trung ơng). Ngân hàng thơng mại đợc phát hành tiền bút
5
toán (bút tệ) , là một loại tiền có thể vợt qua đợc sự kiểm soát khối tiền tệ
của ngân hàng trung ơng. Đó là một ngoại tệ đối với độc quyền phát hành
tiền của ngân hàng trung ơng. Việc phát hành bút tệ có thể làm cho tiền lu
hành nhanh hơn, vì quyền lợi của ngân hàng thơng mại là nhận tiền gửi
càng nhiều càng tốt khi nó cho vay đợc nhiều và cho vay càng nhiều càng
hay.
Đặc trng hoạt động của các ngân hàng trung gian là thu hút và biến
đổi toàn bộ tài sản dới các tên gọi khác nhau của nhân dân từ "trạng thái
tĩnh" sang "trạng thái động". Cụ thể là tài sản từ chỗ bất động nh tiền mặt
trong túi, đất đai, chủ quyền nhà và các loại khác đợc ngân hàng trung gian
làm cho dịch chuyển thay đổi từ ngời này sang ngời khác, và trong quá
trình chuyển này, nó sinh ra giá trị mới, sinh ra lợi tức. Hoạt động của các
ngân hàng trung gian liên đới và bổ sung chặt chẽ cho nhau, và nhờ thế,
tiền từ sở hữu của chủ thể này sang sỏ hữu chủ thể khác một cách hợp lý và

mà chỉ mất chút ít hoặc không mất chi phí nào cả) hơn, mà từ đó thu đợc
các lãi suất cao hơn. Từ các diễn giải trên ta có thể rút ra một số nguyên tắc
kinh doanh mang tính đặc thù của ngân hàng thơng mại là:
Thứ nhất, các dịch vụ tài chính đợc cung cấp trớc hết phải bảo đảm lợi
ích cho khách hàng và trong đó có lợi ích của mình.
Thứ hai, cần phải thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn hoạt động
kinh doanh, chẳng hạn: cần duy trì mức vốn nhất định nhằm tơng hợp ý
muốn với ngời tiết kiệm, có khả năng chống đỡ những biến động của thị tr-
ờng; lựa chọn khách hàng, hạn chế tín dụng (hạn chế đền bù đối với hoạt
động bảo hiểm), giám sát thực hiện; đa dạng hoá tài sản để phân tán rủi ro;
sử dụng thị trờng tiết kiệm kỳ hạn hoặc thị trờng lựa chọn các công cụ vay
nợ và phơg pháp đổi chéo lãi suất để hạn chế rủi ro lãi suất, tỷ giá...
Là một doanh nghiệp đặc thù, doanh nghiệp ngân hàng có những tơng
đồng và những nét riêng so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế:
7
Trớc hết, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại khá gần gũi
với hoạt động của các doanh nghiệp thơng nghiệp trong chu trình sản xuất
và tiêu dùng hàng hoá. Sự khác nhau là ở chỗ, hàng hóa mà các ngân hàng
thơng mại kinh doanh là tiền và các giấy tờ có giá - một loại hàng hoá đặc
biệt bao gồm tiền tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý, chứng khoán...
Xét về chức năng, ngân hàng thơng mại không trực tiếp tham gia sản
xuất và lu thông hàng hoá nh các doanh nghiệp thông thờng mà nó thực
hiện các chức năng trung gian trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và
làm dịch vụ tiền tệ, t vấn tài chính cho các khách hàng... Ngân hàng kinh
doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng vốn tự có, mà chủ yếu bằng vốn của
những ngời gởi tiền qua vai trò trung gian tín dụng, làm môi giới cho các
nhà đầu t và những ngời có tích luỹ. Thực hiện các chức năng trung gian
của mình, ngân hàng thơng mại nắm trong tay một bộ phận lớn nhất của cải
xã hội dới dạng giá trị, nhng không có quyền sở hữu chúng, mà chỉ có
quyền sử dụng với những đIều kiện ràng buộc, đòi hỏi ngân hàng thơng mại

nắm bắt ngay sẽ khó có thể tìm lại cơ may, vì vậy việc thanh toán kịp thời,
đầy đủ, đúng hẹn là một yếu tố đặc biệt quan trọng giúp các doanh nghiệp
đón nhận thời cơ phát triển kinh doanh. Sự hạn chế do đặc tính phụ thuộc,
bị động trong sản phẩm dịch vụ ngân hàng tuyệt nhiên không phảI là cái cớ
để ngân hàng vi phạm các uỷ nhiệm của khách hàng.
Mức độ cạnh tranh trong sản phẩm của ngân hàng thơng mại đợc nhân
lên gấp bội so với mức cạnh tranh trong các sản phẩm của các doanh
nghiệp, do ngân hàng thơng mại bị chi phối bởi đặc điểm dùng nguyên liệu
chính là "tiền", loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao.
Tính xã hội hoá của nguyên liệu "tiền" thể hiện ở chỗ chỉ cần sự thay đổi
nhỏ về lãi suất cũng có thể có sự dịch chuyển của khách hàng từ ngân hàng
này sang ngân hàng khác, trong khi một doanh nghiệp tung ra bán một loại
sản phẩm với giá hạ hơn giá trớc đây của cùng loại đã từng đợc thị trờng
chấp nhận. Tính nhạy cảm cao bộc lộ rõ trong trờng hợp, ngay khi ngân
hàng thơng mại tạo ra một loại sản phẩm đợc xã hội a chuộng, thì trong
thời gian rất ngắn gần nh lập tức các ngân hàng khác cũng có thể tạo ra sản
9
phẩm đó để cạnh tranh, trong khi doanh nghiệp cần có khoảng thời gian dài
hơn để khai thác sản phẩm mới nhằm tạo ra lợi nhuận cạnh tranh. Nh vậy,
tính cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng phát sinh từ sự dễ thay đổi
của khách hàng trong quan hệ giao dịch với ngân hàng nhằm mục đích mua
sản phẩm dịch vụ ngân hàng với lãi suất thấp nhất và bán nguyên liệu "tiền"
với lãi suất cao nhất. Ngân hàng kinh doanh chủ yếu là dùng Iãi gửi (trả lãi
suấ cho khách hàng) và cho vay lại trên thị trờng và khach hàng (thu lãi
suất cho vay, từ đó hởng chênh lệch lãi suất). Nh vậy, mặc dù các dịch vụ
kinh doanh ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất đa dạng, nhng rõ ràng
công việc kinh doanh chính của một ngân hàng vẫn là hoạt động nh một
trung gian tài chính: thanh toán lãi cho phần tiền gửi của khách hàng và
tính lãi suất đối với khoản tiền cho khách hàng vay. Nói cách khác, lãi suất
tín dụng là giá cả của một loại sản phẩm chủ yếu nhất của ngân hàng thơng

thực hiện nghiệp vụ) khi giá cả biến động đột ngột, ngân hàng không thể
kịp thời diều chỉnh, nhất là đối với các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ hay
cho vay với giá cả hoặc lãi suất ấn định ngay từ thời điểm thực hiện nghiệp
vụ.
Bên cạnh các yếu tố bên ngoài nêu trên, còn phảI kể đến các yếu tố
nội tại phát sinh từ môi trờng kinh doanh và công nghệ của ngân hàng.
Ngày nay, do sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, việc
quản lý ngân hàng thơng mại đã trở nên những thách thức cao do những
khái niệm và ký thuật đạt hiệu quả cao trong những năm gần đây đã trở nên
lỗi thời, những luật lệ và điều quy ớc về sản phẩm và địa lý đã hầu nh biến
mất.
Về môi trờng kinh doanh của ngân hàng, có thể nêu lên một số điểm
đáng chú ý. Thứ nhất, do các ngân hàng nằm trong số loại hình doanh
nghiệp đợc giám sát chặt chẽ nhất, buộc phải quản lý theo luật và các quy
định đã đợc ban hành. Nói cách khác, các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thơng mại thờng xuyên đổi mới với những điều kiện kinh tế năng
động và những điều chỉnh của pháp luật mà trong đó, việc quản lý ngân
hàng buộc phải tiến hành. Thứ hai, mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
11
hàng (ngời gửi tiền, ngời vay tiền) là mối quan hệ dựa trên cơ sở tính nhiệm
lẫn nhau và tạo thuận lợi cho nhau. Thứ ba, các cổ đông của một ngân hàng
thơng mại (giống nh các nhà đầu t khác) đòi hỏi một mức lợi tức phù hợp
với rủi ro của việc đầu t. Các điều kiện môi trờng kinh doanh (điều kiện
kinh tế và luật pháp) của mỗi nớc có thể có một vài ảnh hởng nào đó đối
với các hoạt động ngân hàng đang đợc tiến hành. Chẳng hạn, trong một số
trờng hợp, số vốn đã huy động đợc bị ứ đọng tạm thời, tức là không cho vay
đợc, trong khi vẫn phải trả lãi cho khách hàng (ngời gửi tiền) và trong nhiều
trờng hợp khác, thì ngợc lại số vốn đã huy động không đủ để phục vụ khách
hàng (ngời đi vay tiền). Thừa vốn hay thiếu vốn đều ảnh hởng đến việc định
giá sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

4. Đặc trng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại:
Ngày nay, ngời ta khó có thể hình dung nổi nền kinh tế thị trờng mà
lại vắng bóng các tổ chc tài chính trung gian làm chức năng cầu nối giữa
ngời có vốn và ngời cần vốn. Trong thực tế, các tổ chức tài chính trung gian
đợc hình thành ở rất nhiều dạng, nhng nội dung hoạt động của chúng lại
đan xen lẫn nhau rất khó phân biệt rõ ràng. Trong số các tổ chức tài chính
trung gian, hệ thống các ngân hàng thơng mại chiếm vị trí quan trọng nhất
cả về quy mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ.
Xét về đặc trng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại, cần
chú ý các vấn đề quan trọng sau:
a. Quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở hoàn trả:
Ngân hàng thơng mại với t cách là một doanh nghiệp kinh doanh tiền
tệ hoạt động trên cơ sở "đi vay" để "cho vay" thông qua nghiệp vụ tín dụng
của mình. Việc "buôn" tiền của ngân hàng thơng mại suy cho cùng phải đạt
đợc lợi nhuận. Muốn vậy phải kinh doanh, kinh doanh có hiệu quả. Hành vi
mua bán tiền của ngân hàng thơng mại thực chất là đi mua quyền sử dụng
13
vốn (thuê) để bán (cho thuê) lại quyền sử dụng vốn đó, nhng nó hoàn toàn
khác với các loại hình kinh doanh khác của các tổ chức kinh tế.
Trớc hết, vốn mà ngân hàng mua quyền sử dụng của những chủ thể có
vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế phải đợc trả lại cả vốn và lãi cho chủ sở hữu
của nó theo những cam kết đã giao ớc. Là ngời đi vay, ngân hàng thơng mại
phảI đảm bảo hoàn trả đúng hạn vốn huy động hoặc đáp ứng yêu cầu thanh
toán của khách hàng với một món lợi tức hợp lý kèm theo.
Là ngời cho vay, ngân hàng thơng mại sử dụng vốn đI thuê để cho
thuê lại, tức là tạm thời bán quyền sử dụng vốn cho ngời khác, ngân hàng
thơng mại vẫn luôn mong muốn khách hàng của mình sử dụng vốn vay có
hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳ hạn theo những qui định đã
cam kết. Nh vậy, trong mối quan hệ tay ba giữa ngân hàng thơng mại, ngời
gửi tiền ký thác và ngời đi vay đều dựa vào lòng tin của nhau để giảI quyết

b. Lãi suất - biểu hiện đặc trng về hoạt động kinh doanh của một
trung gian tài chính:
Khi sử dụng khoản vay vào trong quá trình sản xuất hoặc kinh doanh,
ngời đi vay sẽ thu đợc lợi nhuận, một phần lợi nhuận này đợc trả cho ngời
cho vay và đợc gọi là giá cả quyền sử dụng khoản vay hay là lãi suất. Nh
vậy, khác với hoạt động sản xuất kinh doanh thông thờng, lợi nhuận ở đây
đợc phân chia chứ không phải nhân lên, phần lợi nhuận đem chia đó là chi
phí mà ngời đi vay phải trả cho việc "thuê" giá trị khoản vay về sử dụng
trong kinh doanh theo thời gian nhất định. Khoản chi phí này cũng giống
nh chi phí trả tiền thuê nhà, khác chăng là trong quá trình sử dụng giá trị
căn nhà giảm dần do hao mòn, còn giá trị khoản vay thì bất biến. Đó là đặc
điểm khác biệt của việc "cho thuê giá trị" so với các loại hình cho thuê tài
sản trong kinh doanh thông thờng khác.
15
c. Yếu tố lòng tin trong hoạt động kinh doanh tín dụng ngân hàng:
Trong giới tài chính, một ngời đợc xem là có uy tín khi ngời khác tin
tởng và sẵn sàng ký thác tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta. Tín dụng là sự
cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện mức tín nhiệm
của ngời cho vay, yếu tố tín nhiệm là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín
dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Trong quan hệ kinh doanh thông thờng khác, uy tín vẫn là yếu tố đợc
đặt lên hàng đầu trong nhiều trờng hợp, nhng không đóng vai trò quyết
định trong mua bán bởi các lẽ sau: thứ nhất hàng hoá thờng cồng kềnh
mang tính chất chuyên dùng, khả năng thanh toán kém nên khó tẩu tán,
chiếm dụng; thứ hai, việc mua bán thờng diễn ra "mua đứt bán đoạn" nên
việc kiểm tra uy tín kinh doanh trong mối quan hệ giao dịch dễ dàng,
không cần thử thách.
Ngợc lại, kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh "quyền sử
dụng các khoản tiền tệ", ngân hàng chỉ bán "giá trị sử dụng của tiền" chứ
không bán "tiền", nên khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, tiền quay về

e. Ngân hàng thơng mại là trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro
trong nền kinh tế:
Công nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của các đồng tiền đợc xem là công
nghệ đặc thù của trung gian tài chính (trong đó có ngân hàng thơng mại).
Nhờ có công nghệ này, ngân hàng thơng mại đã trở nên quan trọng hơn rất
nhiều so với chức năng "cấu nối" cung cầu vốn đơn thuần. Với vai trò cầu
nối giữa ngời cho vay đàu tiên với ngời đi vay cuối cùng, ngân hàng thơng
mại thực hiện chức năng trung gian nh là một "ổ cắm", nhng khi thực hiện
chức năng biến đổi cơ cấu thời hạn của các đồng tiền, ngân hàng thơng mại
17
thực hiện chức năng nh một "biến thế" và một "ổn áp" trong chu chuyển tài
chính của nền kinh tế.
Với chức năng "ổ cắm", ngân hàng thơng mại làm nhiệm vụ trung
gian tín dụng. Hoạt động sản xuất kinh doanh tong nền kinh tế luôn tạo ra
tình trạng lỡng lập, nghĩa là sản sinh ra những ngời thừa tiền muốn cho vay
và những ngời thiếu tiền muốn đi vay. Nói cách khác, tín dụng tồn tại là do
quá trình tuần hoàn và chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, trong sản xuất
và trong tiêu dùng. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có chu chuyển tiền tệ khác
nhau và không ăn khớp với nhau về thời hạn, điều đó dẫn đến tình trạng các
chủ thể kinh tế có lúc tạm thời thừa tiền hoặc có lúc tạm thời thiếu tiền, nói
là tạm thời nhng là hiện tợng thờng xuyên và phổ biến. Nh vậy, vấn đề cơ
bản nảy sinh trong hoạt động tài trợ tín dụng là làm sao nối kết ý nguyện
giữa chủ thể thừa tiền muốn cho vay với chủ thể thiếu tiền muốn đi vay.
Khi làm công việc nối kết đó, ngân hàng thơng mại đã ngầm chứa đựng rủi
ro. Hơn nữa, khách hàng của ngân hàng là các chủ thể chứa đựng rủi ro, họ
tìm đến ngân hàng là muốn san sẻ rủi ro đó cho ngân hàng. Khách hàng
vay vốn của ngân hàng chủ yếu bao gồm hai loại: khách hàng vay sản xuất
và khách hàng vay tiêu dùng.
Ngời sản xuất cũng là những ngời hoạt động trong một môi trờng đầy
rủi ro. Các yếu tố gây rủi ro cho ngời sản xuất rất đa dạng và phong phú

trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tác hại nhanh chóng lan
truyền làm sụp đổ, phá sản các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp trong
nền kinh tế.
Với chức năng "biến thế", ngân hàng thơng mại nhận tiền gửi của
những ngời cho vay đầu tiên muốn cho vay ngắn hạn và đem tiền đó cho
ngời đi vay cuối cùng khi họ muốn vay dài hạn (để đầu t...). Những ngời
cho vay đầu tiên là những ngời thừa tiền giả sử là khu vực gia đình, khuyn
hớng của họ là muốn tối đa hoá lợi ích (hữu dụng) của việc tiêu dùng trong
đời sống mỗi ngày. Với ý nghĩ nh vậy, khi thừa tiền, gia đình có nhu cầu
mua các tài sản có sinh lời (tài sản tài chính) gắn với mục tiêu chọn lựa
những tàI sản có tính hữu dụng tối đa, đó thờng là các tài sản ít rủi ro, có
19
tính thanh khoản cao, thuận lợi, phí tổn thấp... Vì vậy hoạch định đầu t tối u
của gia đình trong việc sử dụng tiền thừa là "cho vay ngắn hạn". Đổi lại,
ngời đi vay cuối cùng thờng là các doanh nghiệp. Mục tiêu của họ là muốn
tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy khoản vay
thích hợp với họ thờng là các giá trị dài hạn. Bởi lẽ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, máy móc cũ thờng bị hao mòn, lỗi thời, họ cần phải đầu t
thay thế, hơn nữa muốn tăng lợi nhuận họ phải mở rộng qui mô sản xuất,
tức là có nhu cầu đầu t ròng. Tổng đầu t của nó là những giá trị dài hạn, nếu
không có vốn tích luỹ hay cổ phần bổ xung, thì khoản tài trợ cần thiết đối
vói họ là "khoản vay dài hạn". Ngân hàng thơng mại nối kết ý nguyện về
thời hạn giữa ngời cho vay đầu tiên và ngời đI vay cuối cùng lại vói nhau.
Nh vậy, ngân hàng thơng mại đã biến đổi thời hạn của các đồng tiền. Và
khi làm việc đó, ngân hàng thơng mại đã biến đổi rủi ro - giảm rủi ro tái
đẩu t cho ngời đi vay cuối cùng và giảm rủi ro thanh khoản cho ngời cho
vay đầu tiên. Nhng khi làm nh thế ngân hàng thơng mại đã nhận về mình
các rủi ro do khách hàng chuyển đến.
Với chức năng "ổn áp", ngân hàng thơng mại ổn định thời hạn của tiền
ký thác hoặc tiền cho vay, mặc dù khi một bên có thể tha đổi cơ cấu thời

tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền
kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên cơ sở số vốn đã
huy động đợc, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng... của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động
liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Nh vậy,
ngân hàng thơng mại vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho vay, hay nói cách
khác, nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thơng mại là đi vay để cho vay.
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận dộng
liên tục và biểu hiện các hình thái khác nhau qua mỗi giai đợn của quá trình
sản xuất, tạo thành chu kỳ tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát
vvà kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dới dạng tiền tệ. Trong
quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của
các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất
- lu thông. Từ đó xảy ra hiện tợng thừa và thiếu vốn tạm thời: tại một thời
22
điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
(thừa vốn) và có những đơn vị khác tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tợng
mang tính chất tạm thời nhng xảy ra thờng xuyên và phổ biến trong bất kỳ
nền kinh tế nớc nào, làm nảy sinh yêu cầu ngày càng bức thiết phải giải
quyết cho đợc vấn đề điều hoà vốn. Ngân hàng thong mại với vai trò là một
trung gian tín dụng đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều hoà
cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp của nền kinh tế, đã góp phần diều
tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp không bị gián đoạn.
Để mở rộng sản xuất, đối vois từng donh nghiệp yêu cầu về vốn là một
trong nững mối quan tâm hàng đầu đợc đặt ra. Các doanh nghiệp không thể
chỉ trông chờ vào vốn tự có, mà còn phải biết dựa vào vốn của nhiều nguồn
khác nhau trong xã hội. Ngân hang thơng mại với t cách là nơi tập trung đài
bộ phận vốn nhàn rỗi, sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu
t phát triển. Nh vậy, tính udngj ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp rút

nhiều vốn hơn cho ngời vay trong thị trờng tài chính.
Tác dụng của trung gian tài chính là giảm thiểu những chi phí thông
tin và chi phí giao dịch trong nền kinh tế. Vì một ngời cho vay muốn tìm r
đợc một ngời muốn vay đòi hỏi tập trung tì giờ và tiền của cho một cuộc
kiểm tra tín nhiệm để biết đợc liệu ngời đi vay có hoàn trả vốn vay hay
không. Khi những trung gian tài chính đi vào hoạt động trong nền kinh tế,
những ngời có món để dành nhỏ có thể cung cấp vốn của họ cho thị trờng
tài chính bằng cách cho một trung gian có đủ tín nhiệm vay vốn. Ví dụ
ngân hàng thơng mại á Châu, sau khi huy động tiền gửi đem vốn này ra
cho vay hoặc mua những chứng khoán nh cổ phiếu và trái khoán.
Hơn nữa, tín dụng ngân hàng còn là một trong những nguồn hình
thành vốn lu động và vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng ngân
hàng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh đợc liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích lũ và đầu t,
động viên vật t hàng hoá đa vào sản xuất lu thông, mở rộng nguồn vốn thúc
đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.
24
2.Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phơng
tiện thanh toán:
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủ
quỹ của các doanh nghiệp, tức là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài
khoản hay chi trả gtiền theo lệnh của chủ tài khoản. Công việc của ngời thủ
quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán. Một trong các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng co nguồn gócc xa xa đó là hoạt động thanh toán hộ
cho khách hàng của mình. Hoạt động thanh toán của ngân hàng là cơ sở
hoạt động tín dụng ngày nay. Khi một khách hàng thiếu tiền để thanh toán,
ngân hàng sẽ trả hộ và khoản trả hộ đó sẽ trở thành khoản vay của khách
hàng. Với việc kinh doanh tiền tệ dới hình thức ban đầu giản đơn và thuần
tuý của nó, ngời thủ quỹ thực hiện chức năng trung gian thanh toán một
cách riêng rẽ, tách khỏi chế độ tín dụng. Còn trong ngân hàng thơng mại,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status