Nghiên cứu tiềm năng và giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn huyện a lưới, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 23

MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của con người về du lịch
là một tất yếu. Du lịch có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người,
nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi giải trí cũng như mở mang thêm vốn tri thức
về thế giới xung quanh.
Trên thế giới, hoạt động du lịch đang diễn ra rất mạnh mẽ và ngày càng
phát triển,đây là một trong những nhân tố thúc đẩy tỉ trọng của ngành dịch vụ
tăng cao làm cho nền kinh tế ở những quốc gia này phát triển vượt trội như:
Mỹ, Pháp, Anh,…
Việt Nam một quốc gia có bề dày lịch sử lâu đời, là nơi hội tụ của 54 dân
tộc anh em, đã tạo cho Việt Nam sự đa dạng về văn hoá,phong tục tập quán
cũng như sự phong phú về các công trình kiến trúc của các dân tộc. Đây chính
là nguồn tài nguyên quý giá để Việt Nam phát triển hoạt dộng du lịch.Thừa
Thiên Huế được coi là trung tâm du lịch của cả nước, có tiềm năng du lịch tự
nhiên và nhân văn phong phú,hấp dẫn với quần thể di tích Cố đô và nhã nhạc
cung đình Huế được UNESSCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Du lịch
có đóng góp rất to lớn cho sự phát triển kinh tế địa phương, chính vì vậyThừa
Thiên Huế ngày càng chú trọng đầu tư khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của
mình, trong đó A Lưới được đánh giá là huyện có thế mạnh du lịch to lớn
đang được tỉnh cũng như các nhà đầu tư quan tâm xây dựng và phát triển.
Là một trong hai huyện miền núi vùng cao của tỉnh, từng là vùng đất nổi
tiếng của chiến trường Trị - Thiên trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ,
mảnh đất và con người nơi đây đã ghi nên bao chiến công oanh liệt với nhiều
tên đất, tên người đã đi vào lịch sử. A Lưới là mảnh đất giàu truyền thống văn
hóa - lịch sử, là nơi hội tụ những sắc màu văn hóa vật thể, văn hoá phi vật thể
và văn hoá ẩm thực của các dân tộc anh em Pa Cô – Tà Ôi – Katu – Pahy –
Vân Kiều - Kinh tạo nên những giá trị lịch sử văn hóa quý báu, đó chính là
những di tích lịch sử cách mạng; là những bảo tàng sống về kiến trúc, về lối
sống, sinh hoạt của đồng bào qua nhiều thế hệ; là các làng nghề truyền thống,

thông báo dân tộc học 2007, viện Dân tộc học 2007.
- Hội thảo quy hoạch du lịch trong tỉnh Thừa Thiên Huế tại huyện A
Lưới - (05/2011)
* Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.
- Mai Văn Chân, Hiện trạng và định hướng phát triển du lịch Thừa Thiên
Huế, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 2009.
- Lê Thị Dinh, Xây dựng các tuyến điểm du lịch ở Thanh Hóa, Khóa
luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 2009.
- Lê Phúc Chi Lăng, Nghiên cứu tác động của các kỳ Festival Huế đến
ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm,
Đại học Huế, 2007.
- Phan Thị Hồng Lê, Thực trạng và định hướng khai thác cụm di tích lịch
sử Hiền Lương - Vịnh Mốc phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị, Khóa
luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 2010.
- Bùi Thị Quý, Khai thác tiềm năng du lịch phong tục tập quán các dân
tộc ít người huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Sư phạm, Đại học Huế, 2011.
- Trần Thị Ái Vân,Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng
xã Thượng Lộ, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, Khóa luận tốt nghiệp
Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 2011.
- Nguyễn Thị Thúy Vân, Tiềm năng, hiện trạng và định hướng khai thác
tài nguyên du lịch nhân văn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, Khóa luận tốt
nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 2012.

4. Quan điểm nghiên cứu
4.1. Quan điểm lãnh thổ
Các nhân tố tác động đến du lịch nhân văn phân bố trong một không gian
rộng lớn và có những đặc trưng riêng. Vì vậy, khi nghiên cứu tiềm năng và
giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn huyện A Lưới phải đứng trên
quan điểm lãnh thổ, có nghĩa là nghiên cứu theo góc độ không gian để thấy rõ

Bản đồ là phương pháp đặc trưng của bộ môn Địa Lí,là sách giáo khoa
Địa Lí thứ hai. Qua bản đồ để minh hoạ, khai thác thông tin phục vụ cho
nghiên cứu và thể hiện một số kết quả nghiên cứu. Tôi sử dụng 3 bản đồ cùng
tỷ lệ là 1: 150.000 phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Bao gồm:
Bản đồ Hành chính huyện A Lưới.
Bản đồ phân bố tài nguyên du lịch nhân văn huyện A Lưới.
Bản đồ Định hướng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn huyện A Lưới.
5.3. Phương pháp thực địa
Thực địa nhằm cập nhật thông tin về đối tượng nghiên cứu, làm tăng tính
chính xác, cụ thể, thuyết phục của các kết quả nghiên cứu, đồng thời kiểm tra
lại sự chính xác của tư liệu nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã
tiến hành thực địa ở một số địa điểm: làng nghề dệt Zèng – A Đớt, các điểm di
tích lịch sử cách mạng (A So, A Túc…), làng văn hóa xã Nhâm, xã A Ngo, xã
A Roàng, xã Hồng Kim, xã Hồng Bắc…
5.4. Phương pháp so sánh đối chiếu.
- So sánh đối chiếu những tài liệu, số liệu tham khảo so với thực tế để từ
đó rút ra kết luận chính xác.
- Tìm ra những giá trị nhân văn quý giá để phát triển du lịch nhân văn
huyện A Lưới.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Nội dung
Tài nguyên du lịch nhân văn.
6.2. Không gian.
Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.
6.3. Thời gian
Từ năm 2010 đến 2020.


thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hoá -
lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội
và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, bởi những thay đổi về cơ cấu
và lượng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động này những thành phần mới mang
tính chất tự nhiên cũng như tính chất văn hoá, lịch sử. Nó là một phạm trù
động, bởi vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ
khoa học kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu.
Việc đưa ra một định nghĩa đồng nhất về tài nguyên du lịch là một điều
khó khăn. Cho nên từ trước đến nay, có những khái niệm khác nhau về tài
nguyên du lịch đã được đưa ra:
Theo I.I Pirojnik (1985), “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên,
văn hoá – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi,
phát triể thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khoẻ của con người mà
chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền
với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai trong điều kiện kinh tế - kỹ
thuật cho phép”.
Ngô Tất Hổ (2000) cho rằng “ Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có
sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra
hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”.
Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) định nghĩa:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người, các giá trị nhân văn
khác và các sự kiện đặc biệt có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du
lịch là yếu tố cơ bản hình thành khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị
du lịch”.
Như vậy, cách tiếp cận đối với tài nguyên du lịch giữa các nhà nghiên
cứu có sự khác nhau, nhưng về cơ bản có điểm chung là đều đề cập đến các
yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hoá do con người tạo ra có sức hấp dẫn đối
với du khách.

chung của các dòng du lịch. Trong mùa hoạt động du lịch tự nhiên cũng có
những thời kỳ, có những ngày, không thích hợp cho giải trí ngoài trời. Ở
những trường hợp như thế, việc đi thăm tài nguyên du lịch nhân tạo là một
giải pháp lý tưởng.
- Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân tạo rất phức
tạp và khác nhau, phụ thuộc vào cảm nhận của mỗi người theo những khía
cạnh khác nhau. Việc tìm tòi tài nguyên du lịch nhân tạo chịu ảnh hưởng
mạnh của các nhân tố như độ tuổi, trình độ văn hoá, hứng thú, nghề nghiệp,
thành phần dân tộc…
- Tài nguyên du lịch nhân tạo tác động theo từng giai đoạn.
 Giai đoạn thứ nhất: Thông tin, khách du lịch nhận được những tin tức
chung nhất, thậm chí có thể nói là mờ nhạt về đối tượng nhân tạo, và thường
thông qua thông tin miệng hay các phương tiện thông tin đại chúng.
 Giai đoạn thứ hai: Tiếp xúc, là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp
xúc bằng mắt thường với đối tượng, tuy chỉ là lướt qua nhưng là quan sát bằng
mắt thực.
 Giai đoạn thứ ba: Nhận thức, trong giai đoạn này khách du lịch làm
quen với đối tượng một cách cơ bản hơn, đi sâu vào nội dung của nó, thời gian
tiếp xúc lâu hơn.
 Giai đoạn thứ tư: Đánh giá nhận xét, ở giai đoạn này, bằng kinh nghiệm
sống của bản thân về mặt nhận thức, khách du lịch so sánh đối tượng này với
đối tượng khác gần với nó.
1.3. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn
1.3.1. Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử- văn hoá
Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch. Loại tài
nguyên này gắn với môi trường xung quanh, thể hiện sinh động của quá khứ
đã hun đúc nên và làm cho cuộc sống them đa dạng, phong phú. Qua các thời
đại, di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử văn hoá đã minh chứng cho
những sáng tạo to lớn về văn hoá, tôn giáo và xã hội loài người.
 Di sản văn hoá thế giới.

được công nhân là di sản văn hoá thế giới phải đảm bảo đầy đủ 1 trong 6 tiêu
chuẩn dưới đây:
Là tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng
con người.
Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc,
nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời gian nhất định, trong một khung
cảnh văn hoá nhất định.
Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã biến mất.
Cung cấp ví dụ hùng hồn về một dạng nhà ở truyền thống nói lên được
một nền văn hoá đang có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không
cưỡng lại được.
Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được
những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập
cũng như về vị trí.
*Đến hết tháng 8/2010, trên thế giới đã có 911 di sản, bao gồm 180 di
sản thiên nhiên, 704 di sản văn hoá và 27 di sản hỗn hợp.
 Di tích lịch sử - văn hoá.
Di tích lịch sử - văn hoá là tài sản văn hoá vô giá của mỗi địa phương,
mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành,
xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi nước, mà ở đó chứa đựng
tất cả những gì thuộc về truyền thống tố đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị
văn hoá, nghệ thuật. Di tích lịch sử - văn hoá có khả năng to lớn, góp phần
vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, vào việc phát triển khoa học
nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi
đất nước.
Những Kim tự tháp ở Ai Cập, đền Pác tê nông ở Hi Lạp, Chùa Tháp dát
vàng, dát bạc ở (Ấn Độ, Mianma), Ăngco Vát (Campuchia) cũng như thành
Cổ Loa, Đền Hùng, cung điện, lăng tẩm ở Cố đô Huế trên đất nước ta mãi mãi
là những biểu tượng chói ngời trong kho tàng văn hoá chung của nhân loại.
Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hoá (năm 2001) thì “Di sản văn hoá

để công nhận di tích văn hoá - lịch sử và danh lam thắng như sau:
Di tích lịch sử - văn hoá phải đạt được một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong
quá trình dựng nước và giữ nước;
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kì cách mạng, kháng chiến;
- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có
giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.

Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau:
- Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mĩ tiêu biểu;
- Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa
dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những
dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất.
Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử - văn hoá phục vụ mục đích
du lịch, cần dựa vào một vài tiêu chí thể hiện số lượng và chất lượng di tích
sau đây:
- Mật độ di tích: là số lượng các loại di tích trên một đơn vị diện tích
nhất định. Mật độ di tích càng cao thì càng có điều kiện để phát triển du lịch.
Tuy vậy, chỉ tiêu này chỉ mang tính chất tương đối vì mật độ di tích trên phạm
vi lãnh thổ có thể cao nhưng chất lượng các loại di tích không được bảo đảm
thì ý nghĩa du lịch vì thế cũng bị hạn chế.
- Số lượng di tích là chỉ tiêu thể hiện số di tích có trên lãnh thổ. Chỉ tiêu
này cũng mang tính tương đối, bởi vì trong một lãnh thổ số di tích có thể
nhiều nhưng chúng lại phân bố quá cách xa nhau thì ý nghĩa du lịch cũng bị
hạn chế một phần nào đó. Ngược lại, số di tích tương đối ít song phân bố tập

- Quy mô của lễ hội: Có quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Có lễ hội diễn ra
trên địa bàn rộng, thậm chí có quy mô quốc tế. Ngược lại, có lễ hội chỉ bó gọn
trong một địa phương nhỏ hẹp.
- Địa điểm diễn ra lễ hội: Các lễ hội thường được tổ chức tại những di
tích lịch sử - văn hoá. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội
vào mục đích du lịch.
Trên thế giới, lễ hội có nguồn gốc và hình thức vô cùng đa dạng. Có thể
phân biệt một số hình thức lễ hội chính sau đây:
- Lễ ghi nhớ những sự kiện của đời sống như sinh nở, khai tâm, cưới xin,
ma chay.
- Lễ hội “Phục hồi” nhằm làm sống lại một cách ngoạn mục ký ức về
một quá khứ hay một nền văn hoá đã tiêu vong.
- Lễ hội có nghi lễ mô phỏng một cuộc tế lễ mang màu sắc sân khấu và
có vẻ đẹp trang nghiêm.
- Lễ hội kỉ niệm mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tổ chức một
cách trang nghiêm để nhắc nhở bằng một công ước hay khế ước nào đó, hoặc
một sự kiện khai sinh ra nhà nước hiện tại.
- Ngoài ra, còn có thể phân biệt lễ hội theo nhóm lễ hội truyền thống dân
gian, lễ hội đương đại.
1.3.3. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá,
phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình
và có những địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức
hấp dẫn riêng đối với khách du lịch.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các
tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến
trúc, trang phục, ca múa nhạc…
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của
mình để thu hút khách du lịch. Kho tàng văn hoá, sinh hoạt văn hoá đặc thù là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển.

mang sắc thái văn hoá riêng đã tạo cho nước ta sự đa dạng, phong phú về
nguồn tài nguyên du lịch nói chung và tài nguyên du lịch nhân văn nói riêng.
Hiện nay, đất nước ta đã và đang đưa vào sử dụng nguồn tài nguyên quý giá
này để phát triển du lịch góp phần làm tăng thu nhập kinh tế quốc dân, và đưa
những giá trị văn hoá của đất nước ta quảng bá với các nước trên thế giới. Cụ
thể, có những tài nguyên sau đã được đưa vào khai thác để phát triển du lịch: * Các di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia và địa phương.
Được chia thành các loại: Các loại di tích khảo cổ, các di tích lịch sử, các
di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích thắng cảnh.
Từ 1962 - 2006, Nhà nước đã xếp hạng được 2.888 di tích lịch sử văn
hoá và thắng cảnh cấp quốc gia, trong đó gồm:
- 1.367 di tích lịch sử.
- 1.355 di tích kiến trúc- nghệ thuật.
- 62 di tích khảo cổ
- 104 di tích thắng cảnh.
- Trong đó có 110 di tích được xếp hạng đặc biệt.
Tính đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh
trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di
tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh
vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.
-
Di tích lịch sử văn hóa chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng.

- Di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng.
- Di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.
- Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng.
*Các công trình đương đại.
Bao gồm 128 bảo tàng, trong đó: 89 bảo tàng thuộc Bộ văn hoá Thông

là văn hoá ẩm thực Thăng Long - Hà Nội; Văn hoá ẩm thực Huế; Văn hoá ẩm
thực xứ Lạng (Lạng Sơn); Văn hoá ẩm thực Hội An.
* Nguồn lao động trong hoạt động du lịch.
Theo số liệu thống kê của năm 2010 thì nguồn lao động tham gia trực
tiếp vào hoạt động du lịch ở nước ta là 381.500 người, nguồn lao động gián
tiếp ước tính khoảng 839.300 người. Dự báo đến năm 2015, tổng số lao động
trực tiếp trong ngành du lịch là 503.202 người. Về tạo việc làm, năm 2012,
tổng lao động trong ngành du lịch Việt Nam tăng 1,4% tương đương
4.355.000 gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp và sẽ tăng trung bình 1,1%
hàng năm và sẽ đạt 4.874.000 vào năm 2022.
Bảng 1.1. Nguồn lao động du lịch Việt Nam thời kì 1993- 2010
Năm
Loại
lao động

1993
1995
2000
2005
2010
Lao động trực tiếp
36.851
81.760
150.000
820.000
381.500
Lao động gián tiếp
81.072
179.872
330.000

6000
7000
8000
1990 1995 2000 2005 2010 2012
Năm
Nghìn lượt khách
Các thị trường khách đều tăng so với cùng kỳ năm 2011, cụ thể: Hàn
Quốc tăng 31,5%; Malaysia tăng 25,6%; Thái Lan tăng 24,6%; Nhật tăng
20,8%; Đài Loan tăng 17,0%; Pháp tăng 6,5%; Mỹ tăng 2,7%; Trung Quốc
tăng 0,8% và Úc tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2011.
Như vậy đúng với dự đoán của thị trường du lịch Việt Nam sẽ hoàn
thành mục tiêu đề ra là đón được 6,5 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2012.
* Cơ sở lưu trú.
Theo số liệu đến năm 2008 cả nước có 1856 khách sạn đạt chuẩn từ 1
đến 5 sao, tuy nhiên số khách sạn từ 3 sao trở lên chưa nhiều.
Bảng 1.2. Bảng xếp hạng khách sạn ở Việt Nam năm 2010.
Khách sạn
Số lượng
Số phòng
5 sao
38
8596
4 sao
112
12950
3 sao
225
15574
2 sao
760

* Các di tích lịch sử văn hoá - cách mạng.
Bảng 1.3. Quy mô bảo tàng và các khu di tích lịch sử xếp hạng tại Thừa Thiên Huế
ST
T
Tên bảo tàng, khu di tích lịch sử
đã xếp hạng
2012
2020
2030
Quy

(m
2
)
Lao động
(người)
Lượng
khách
tham quan
(người)
Quy mô
(m
2
)
Lao
động
(người)
Lượng
khách
tham quan

85.870
21.402
35
100.870
21.402
40
140.870
3
Trung tâm BTDT Cố đô Huế
30.000
712
2.500.000
30.000

6.110.000 14.03.500
4
Bảo tàng Văn hoá Huế

5
25
5
Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá
Đảng
1.417
14
6000
1.417

9.000
8
Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
6.572,5

2.000
6.572,5

6.000
6.572,5

15.000
9
Khu lưu niệm di tích Phan Bội
Châu

Do Bảo tàng
LS&CM
quản lý

10
Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn
Chí Diểu
7.687,8

quản lý
6.000 18.000 40.000
13
Nhà văn hoá Thư viện Đại
tướng Lê Đức Anh

Mới khánh thành

(Nguồn: Sở văn hóa, thể thao và du lịch Thừa Thiên Huế - Phòng Nghiệp vụ du lịch)
* Các lễ hội
Thừa Thiên Huế có hơn 500 lễ hội bao gồm lễ hội cung đình, lễ hội dân
gian truyền thống, lễ hội tôn giáo tồn tại cùng với truyền thống văn hóa lâu
đời của mỗi vùng miền. Hiện nay, có hơn 100 lễ hội dân gian, lễ hội truyền
thống và hiện đại đã được các địa phương khôi phục và phát huy, bao gồm lễ
hội cung đình Huế, các lễ hội văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội tưởng nhớ
các vị khai canh, thành hoàng, lễ tưởng niệm các vị tổ sư làng nghề và nhiều
lễ hội khác như lễ hội Đền Huyền Trân, Ngày hội Văn hóa, Thể thao, Du lịch
đồng bào các dân tộc miền núi Thừa Thiên Huế… Đặc biệt, Festival Huế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status