đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động trồng nấm rơm ở xã phú lương, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới ngày nay đã phát triển
mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực thụ và đã đưa lại
nguồn thu nhập khá lớn cho một số quốc gia. Với thành phần dinh dưỡng đặc
biệt và một số loại nấm có giá trị về mặt dược liệu nên ngành trồng nấm hiện
nay đang rất được chú trọng. Thế giới càng phát triển dân số ngày càng đông
trong khi diện tích sản xuất nông nghiệp đang bị thu hẹp do quá trình đô thị
hóa làm cho vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm càng trở nên cấp thiết đối
với mỗi quốc gia thì những ngành sản xuất thực phẩm như trồng nấm càng tỏ
ra thích hợp và mang lại hiệu quả.
Nấm Rơm là một loại thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng với hàm
lượng protein cao (2,66 – 5,05%) và 19 acid amin, trong đó có 9 loại acid
amin cần thiết cho cơ thể, không làm tăng lượng cholesterol trong máu. Ngoài
giá trị dinh dưỡng, nấm Rơm có thành phần chất xơ tương đối cao và thành
phần lipid thấp nên có khả năng phòng trừ bệnh về huyết áp, chống béo phì,
xơ cứng động mạch, chữa bệnh đường ruột,…Vì vậy nấm Rơm là nguồn thực
phẩm sạch có thể làm thực phẩm thay thế cho thịt, trứng
[2]
.
Xã Phú Lương, huyện Phú Vang đã được biết đến như một địa phương
trồng nấm nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên Huế với các loại nấm như nấm
Rơm, nấm Sò…Sản phẩm nấm của xã Phú Lương có chất lượng và số lượng
luôn đứng đầu toàn tỉnh. Đi đầu và mang tính dẫn dắt cho người dân đến với
nấm chính là Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Phú Lương 1 khi HTX chính là nơi tổ
chức các lớp tập huấn, hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật trồng nấm cho xã
viên. Được tiếp cận với kỹ thuật trồng nấm, xã viên vừa tự sản xuất ở nhà vừa
tham gia sản xuất cho HTX. Điều đó là một thuận lợi cho xã viên và cho
chính HTX khi vừa có sự phối hợp giữa một đơn vị lớn và những tổ sản xuất
nhỏ, tạo sự linh hoạt trong sản xuất và kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế

lượng, lợi nhuận… tính trên lượng chi phí đã bỏ ra.
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối
và tuyệt đối giữa lượng kết quả thu được với lượng chi phí bỏ ra. Để đạt được
cùng một khối lượng sản phẩm người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau
song do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu tăng lên của con người với sự hữu hạn
của nguồn tài nguyên, nên khi đánh giá kết quả của một quá trình sản xuất
kinh doanh cần phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và mất bao
nhiêu chi phí.
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là chỉ tiêu bểu hiện bằng tiền của toàn bộ
sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích canh tác trong một chu kỳ sản
xuất nhất định.
- Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung
gian, là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của hoạt
động trồng nấm.
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong
quá trình tạo ra sản phẩm. Nó bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ
mua, thuê ngoài của hộ trong hoạt động sản xuất.
VA = GO – IC
Trong đó: VA: Là giá trị gia tăng
GO: Là tổng giá trị sản xuất
IC: Là chi phí trung gian
- Giá trị sản xuất tính cho một đơn vị chi phí trung gian (GO/IC): Là chỉ
tiêu phản ánh về lượng số đơn vị giá trị sản xuất thu được khi bỏ ra một đơn
vị chi phí trung gian đầu tư sản xuất.
- Giá trị gia tăng tính chi một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC): Là chỉ
tiêu phản ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra để đầu
tư cho nấm thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng. Đây là chỉ tiêu quan
trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được.
- Giá trị gia tăng/lao động (VA/LĐ): Là chỉ tiêu phản ánh thu nhập tăng

nấm đã được đem trồng với kỹ thuật tiên tiến và nó cũng trở thành một loại
dược phẩm ngày càng phổ biến trên thế giới. Bên cạnh giá trị về mặt dinh
dưỡng như nấm Rơm thì một số loại nấm rất có giá trị về mặt dược liệu như:
Nấm Đông Cô (Lentinut Edodes), nấm Bào Ngư (Pleurotus), nấm Chân Chim
(Schizophyllum), nấm Linh Chi (Ganoderma Lucidum), nấm Phục Linh(Poria
Cocos)
Hiện nay trên thế gới ghi nhận đã có hơn 2000 loài nấm ăn trong đó có
hơn 80 loài nấm ăn được nghiên cứu và nuôi trồng và nhất nhiều loài được
trồng làm dược liệu. Việc nghiên cứu nấm ăn, nấm dược liệu cũng như công
nghệ chế biến và bảo quản nấm trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực sự mang lại nhiều hiệu quả về
mặt kinh tế và xã hội cho các nước trên thế giới.
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm
Mỡ, nấm Hương, nấm Sò, nấm Rơm là chủ yếu. Khu vực Bắc Mỹ và Châu
Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp. Những nhà máy sản xuất nấm
Rơm có công suất từ 200 – 1000 tấn/năm được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý
nguyên liệu đến thu hái chế biến đều do máy móc thực hiện. Năng suất trung
bình đạt từ 40 – 60% so với nguyên liệu ban đầu.
Khu vực Châu Á bao gồm Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc,
Trung Quốc…Triển khai sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ,
đặc biệt là ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân.
Sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới
[2]
.
2.3 Một số điểm khái quát về ngành hàng sản xuất nấm ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu và phát triển nghề sản xuất nấm ăn ở Việt Nam bắt đầu
từ những năm 70 của thế kỷ 20.
- Năm 1984 thành lập và phát triển ngành sản xuất nấm ăn thuộc Đại học
tổng hợp Hà Nội.
- Năm 1985 được tổ chức FAO tài trợ và UBND thành phố Hà Nội quyết

kg nấm/năm; ở Nhật, Úc khoảng 4 kg nấm/năm… Bên cạnh đó, ngay ở thị
trường trong nước, lượng nấm tiêu thụ cũng vài chục nghìn tấn/năm.
Nấm Rơm là loại thực phẩm được xếp vào loại rau sạch rất giàu dinh
dưỡng, có thể thay thế thịt, cá. Vì vậy, lượng cung của nấm luôn thấp hơn
nhu cầu. Ở nước ta, cụ thể là Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng to lớn
để phát triển nghề nấm Rơm. Trong những mặt hàng rau xuất khẩu năm 2009,
kim ngạch xuất khẩu nấm luôn đạt cao nhất. Theo số liệu thống kê của Tổng
cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu nấm 11 tháng trong năm 2009 đạt 17 triệu
USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ 2008.
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm Rơm ở Huế
Hiện nay, trong số 10 loài nấm được sản xuất rộng rải ở các tỉnh thì nấm
Rơm được trồng nhiều nhất.
Nấm Rơm được dùng như một loại thực phẩm tươi giàu dinh dưỡng.
Mặc dù chi phí sản xuất và giá bán của nấm Rơm tương đối cao so với các
loại rau khác nhưng nó vẫn được sử dụng tương đối rộng rãi.
Ngoài các hộ gia đình, những khách hàng thường xuyên mua nấm tươi
chính là những khách sạn, nhà hàng phục vụ các món ăn đặc sản. Nấm Rơm
được chế biến thành nhiều món ăn ngon và cũng có thể chế biến kết hợp với
các loại thực phẩm khác như cá, tôm, thịt lợn, thịt gà.
Nghề trồng nấm ở Thừa Thiên Huế phát triển từ những năm 90 song quy
mô nhỏ lẻ, chủ yếu mang tính tự phát. Hiện nay hầu hết các huyện đều có
người trồng nấm. Nấm được phổ biến ở các huyện như Phú Vang, Quảng
Điền, Hương Trà, Hương Thuỷ…Nhu cầu về nấm trong tỉnh và cả nước ngày
càng tăng, hiện nay Thừa Thiên Huế cũng đã có sự quan tâm cho nghề nuôi
trồng nấm. Thị trường tiêu thụ nấm Rơm của tỉnh Thừa Thiên Huế là rất lớn,
số đông người dân theo đạo Phật do đó lượng tiêu thụ nấm là rất cao.
Ngày 13/01/2003 UBND Tỉnh đã có quyết định số 53/QĐ – UB về việc
ban hành quy định “ Một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cho các làng
nghề trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Đây sẽ là cơ hội cho các ngành nghề
truyền thống, tiểu thủ công nghiệp nói chung và sản xuất nấm nói riêng ngày

PHẦN 3
NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là những hộ gia đình trồng nấm Rơm ở xã Phú
Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi: Xã Phú Lương, Huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 1-5 năm 2011.
3.3 Nội dung nghiên cứu:
3.3.1 Những thông tin chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Phú
Lương
3.3.2 Lịch sử hình thành mô hình nấm Rơm và thực trạng sản xuất nấm Rơm
ở Phú Lương
3.3.2.1 Lịch sử hình thành mô hình nấm Rơm
3.3.2.2 Thực trạng sản xuất nấm Rơm ở xã Phú Lương
3.3.3 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ nấm Rơm
3.3.3.1 Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất của người dân
3.3.3.2 Cách khắc phục khó khăn của người dân
3.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng nấm Rơm
3.3.4.1 Hiệu quả về mặt kinh tế
3.3.4.2 Hiệu quả về mặt xã hội
3.3.4.3 Hiệu quả về mặt môi trường
3.4 Phương pháp nghiên cứu:
3.4.1 Phương Pháp chọn mẫu:
- Khảo sát trực tiếp 30 hộ trồng nấm Rơm tại 3 thôn Vĩnh Lưu, Lê Xá
Đông, Đông B của xã Phú Lương, chọn ngẫu nhiên mỗi thôn 10 hộ có trồng
nấm Rơm. Vì tại 3 thôn này tập trung nhiều hộ trồng nấm Rơm, tổng số hộ
trồng nấm Rơm của 3 thôn này chiếm tới 26% số hộ toàn xã.
- Tiêu chí chọn mẫu: Phải là hộ trồng nấm Rơm, bao gồm cả 2 loại hộ:
Nghèo và không nghèo (các hộ được phân loại theo tiêu chuẩn mới của Bộ

hạn vào mùa khô. Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến việc sản xuất nông
nghiệp nói chung và sản xuất nấm Rơm nói riêng của xã.
Phú Lương có một phần diện tích thuộc vùng đất trũng, chủ yếu ở 2 hợp
tác xã Phú Lương II và III nên sản xuất nấm gặp nhiều khó khăn ở đây
chủ yếu sản xuất nông nghiệp, sản xuất nấm ở 2 hợp tác xã này chủ yếu thích
hợp từ tháng 4 đến tháng 10. Hợp tác xã Phú Lương I nằm ở vùng cao hơn
nên có nhiều thuận lợi hơn để trồng nghề nấm phát triển, người dân ở vùng
này trồng nấm quanh năm.
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất của xã Phú Lương
Hình thức sử dụng Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)
1. Đất nông nghiệp 1.154,37 63,74
2. Đất lâm nghiệp 55,00 3,04
3. Đất nuôi trồng thủy
sản
26,30 1,45
4. Đất ở 96,00 5,30
5. Đất chuyên dùng 226,21 12,49
6. Đất chưa sử dụng 241,34 13,98
Tổng diện tích 1.811,00 100,00
(Nguồn: Phòng thống kê xã Phú Lương)
4.1.2.2 Khí hậu thời tiết
Xã Phú Lương cũng như các xã khác của huyện Phú Vang đều chịu sự
chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng của
khí hậu đại dương, vì vậy có những đặc trưng về thời tiết, khí hậu là: Nhiệt độ
cao đều quanh năm (25
0
C – 39,8
0
C), lượng mưa biến động theo mùa khá rõ
ràng (mùa mưa và mùa khô) và chịu ảnh hưởng nhiều của bão. Nằm trong

công ăn việc làm ổn định, nâng cao mức sống, tăng kinh tế hộ gia đình. Và
trong năm nay đã có chủ trương chính sách xây dựng làng nghề trồng nấm
của xã Phú Lương, hiện vốn đầu tư ban đầu là 200 triệu, đây cũng là bước đầu
khởi sắc, đem lại hy vọng lớn đối với người lao động. Việc quy hoạch lại cơ
sở hạ tầng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ để từng bước đưa một vùng
trồng nấm lâu đời thành một làng nghề phục vụ cho du lịch, ẩm thực sẽ là
thuận lợi lớn trong việc giải quyết việc làm cho người dân trong những năm
sắp tới
[1]
.
4.1.3.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
-Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Xã đã tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả việc phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng một số ngành nghề có trên địa
bàn như cơ khí phục vụ nông nghiệp, mộc, nề, may mặc…
Hơn nữa, xã đã duy trì thực hiện việc ứng dụng KHKT vào sản xuất meo
nấm Sò và nấm dược liệu có giá trị kinh tế cao.
- Về sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt:
Bảng 2: Diện tích đất trồng trọt qua 2 năm 2009, 2010
Loại cây Năm 2009 Năm 2010
Tổng diện tích gieo trồng (ha) 2.218,40 2.241,67
Diện tích Lúa (ha) 2.200,40 2.232,67
Diện tích màu và cây công nghiệp (ha) 18,00 9,00
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 2009, 2010 xã Phú Lương)
Tổng diện tích gieo trồng năm 2010 là 2.241,67 ha. Trong đó diện tích
lúa: 2.232,67 ha đạt 100% kế hoạch, tăng 0,7% năm 2009; Nguyên nhân tăng
diện tích gieo trông lúa là do chuyển từ diện tích màu sang.
Do triển khai có hiệu quả tăng năng suất cuối vụ đạt năng suất 61,89
tạ/ha tăng 1,14% so với kế hoạch, sản lượng 13.819 tấn đạt 101,52% kế

học được xây dựng và phát triển, được lãnh đạo xã quan tâm và vận động
nhân dân bỏ ra hàng trăm triệu đồng để đầu tư.
- Y tế
Y tế của xã trong năm qua ổn định, hoạt động có hiệu quả, hoàn thành
100% kế hoạch chương trình tiêm chủng mở rộng, triển khai có hiệu quả
chương trình mục tiêu quốc gia chống các bệnh xã hội, thực hiện chính sách
BHYT cho tất cả các đối tượng, làm tốt công tác khám và chữa bệnh tại trạm
y tế
[1]
.
4.2 Lịch sử hình thành mô hình nấm Rơm và Thực trạng sản xuất nấm
Rơm ở Phú Lương
4.2.1 Lịch sử hình thành mô hình nấm Rơm
Nghề trồng nấm Rơm ở Phú Lương đã có hơn 10 năm nay, ban đầu là tự
phát nhưng sau đó nhận định thấy đây là một nghề có hiệu quả kinh tế, hợp
tác xã Phú Lương 1 đã đầu tư thuê thầy ở HTX Hương ở Phú Yên hướng dẫn
thêm về khâu kĩ thuật làm nấm Rơm cho bà con xã viên. Tham gia đợt tập
huấn này có 45 người tham gia. Từ năm 2002 đến nay được sự chỉ đạo và hỗ
trợ của UBND huyện, phòng nông nghiệp huyện phối hợp với Trung tâm
Khuyến nông khuyến lâm tỉnh cũng tổ chức được nhiều lớp tập huấn trên địa
bàn toàn xã. Nhận thấy đây là nghề tạo được thu nhập nên bà con toàn xã
tham gia học hỏi, trồng thử dần dần nghề trồng nấm Rơm đã phát triển ra toàn
xã Phú Lương. Vào đầu năm 2004, HTX Phú Lương 1 cử xã viên Nguyễn
Thụ đi học tập kỹ thuật trồng nấm Linh Chi, Sò, Mộc Nhĩ ở Viện Di truyền
học Hà Nội và thực nghiệm trồng nấm Linh Chi ở Hợp tác xã Hương ở tỉnh
Phú Yên. HTX cũng tổ chức được nhiều lớp tập huấn về trồng nấm Sò và
Mộc Nhĩ. Đây có thể nói là một bước ngoặt cho sự phát triển nghề trồng nấm
ở xã Phú Lương nói riêng và cả huyện Phú Vang nói chung, khi không chỉ
nấm thực phẩm được trồng mà cả nấm dược phẩm cũng được HTX Phú
Lương 1 tiếp cận.

2 Giang Đông A 85 13 15,3
3 Giang Đông B 123 83 67,5
4 Giang Tây 129 32 24,8
5 Khê Xá 99 40 40,4
6 Lê Xá Đông 215 120 55,8
7 Lê Xá Trung 57 6 10,5
8 Lê Xá Tây 211 36 17,0
9 Lương Lộc 129 50 38,8
10 Vĩnh Lưu 205 150 73,2
Tổng 1.343 566 42,1
(Nguồn: Phòng thống kê xã Phú Lương 2010)
4.3 Đặc điểm các hộ trồng nấm Rơm khảo sát tại Phú Lương
4.3.1 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra
Bảng 5: Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra
(Tính BQ/hộ)
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ trọng (%)
Số nhân khẩu Khẩu 5,23 100,0
Số lao động LĐ 2,07 39,5
Số khẩu/lao động Khẩu/LĐ 2,53 -
Tuổi của chủ hộ Tuổi 49,67 -
Năm sản xuất
nấm Rơm
Năm 7,80 -
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Qua số liệu điều tra, ta thấy số nhân khẩu BQ/hộ là 5,23 khẩu, Số lượng
lao động trong gia đình là 2,07 chiếm 39,5%, mỗi nhà có từ 2 đến 3 lao động
đây là lực lượng lao động chính để phát triển kinh tế hộ gia đình. Hầu hết số
lượng lao động trong gia đình làm nông nghiệp, chứng tỏ nghề nông mang lại
thu nhập chủ yếu cho người dân, một phần nhỏ làm các ngành nghề phụ khác
cũng góp phần không nhỏ để nâng cao cuộc sống gia đình. Nhưng vào những

2 Đất canh tác
19,73 92,85
2.1 Đất trồng lúa
19,50 98,82
2.2 Đất màu,nuôi cá
0,23 1,18
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
4.3.3 Quy mô trồng nấm Rơm của các hộ điều tra
Bảng 7: Quy mô trồng nấm của các hộ điều tra
Số vòm nấm Số hộ Tỉ lệ (%)
2 Vòm 28 93,3
3 Vòm 2 6,7
Tổng 30 100,0
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Trong 30 hộ điều tra, có 28 hộ trồng 2 vòm nấm chiếm 93,3% tổng số, có
2 hộ làm 3 vòm chiếm 6,7%. Nhìn chung, phần lớn người dân xem đây là
nghề phụ mang lại giá trị kinh tế cao. Họ trồng 2 vòm nấm chủ yếu, quy mô
dần được mở rộng thêm. Một số nhà đã tạo cho mình 3 vòm nấm, sử dụng
nguồn lực gia đình, thuê lao động ngoài, cùng với lượng rơm sẵn có sau mỗi
vụ thu hoạch để sản xuất nấm Rơm, góp phần tăng năng suất, sản lượng cho
mỗi lứa nấm, nâng cao thu nhập cho gia đình.
4.3.4 Tình hình đầu tư sản xuất nấm Rơm
Bảng 8: Chi phí làm một vòm nấm
( Đvt: 1.000đ)
Loại chi phí Đơn vị
tính
Số lượng Đơn giá Thành tiền
Tre Cây 50 15 750
Rơm Sào 2 20 40
Dây buộc Kg 2 40 80

Dây buột bánh Rơm (kg) 1 40 40
Tổng cộng 4.300
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Bảng 10: Chi phí trung gian sản xuất nấm một lứa nấm Rơm
(tính BQ lứa/vòm)
(Đvt: 1.000đ)
Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Mùa nắng Mùa mưa
Số
lượng
Đơn
giá
Thành
tiền
Số
lượng
Đơn
giá
Thành
tiền
Meo giống Bánh meo 60 2,5 150 80 2,5 200
Rơm Sào 2,2 20 44 2,7 20 54
Vôi Kg 10 2 20 10 2 20
Thuê nhân công
Công 1 100 100 1 100 100
Nước Khối 10 2,5 25 10 2,5 25
Điện Chữ - - - 10 1,2 12
Tổng cộng - - 339 - - 411
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)

Người
sản xuất
Người thu
gom tại địa
phương
Người thu
mua tại chợ
đầu mối
Người bán
lẻ
Người tiêu
dùng
30 %
70%
95 %
5 %
90%
10%
hộ, thay vì bán cho các nhà thu gom ở địa phương, một số hộ tự mình đem
sản phẩm đến bán ở chợ địa phương. Tuy vất vả nhưng họ tránh được việc
mua ép giá, và cũng giảm mức chênh lệch giá do bỏ qua đối tượng trung gian
thu gom. Hình thức này không phát triển nhiều bởi hiện nay quy mô làm nấm
của hộ gia đình cũng không lớn chỉ làm nhỏ lẽ, mỗi hộ làm từ 1-3 vòm nấm,
sản xuất lại không tập trung nên sản lượng thu hoạch một lần rất nhỏ, nếu đi
bán ở ngoài cũng không bỏ công đi chợ. Vì vậy khi thấy bán cho các tư
thương giá rẻ quá hoặc thu hoạch chậm thì mới đưa ra chợ bán.
Theo điều tra thực tiễn ở xã Phú Lương, nhận thấy rằng 30% người thu
gom tại địa phương cũng làm người bán buôn nhỏ.
Tác nhân thu gom chủ yếu là những người ở vùng lân cận, cùng xã. Phần
lớn, họ đi thu mua ở những hộ quen, việc thu mua vào lúc sáng sớm. Lấy nấm

cao hay thấp phụ thuộc vào thị trường, nếu thị trường hụt nấm thì các đại lý sẽ
trả giá cao và ngược lại dư nấm thì giá rẻ. Do thị trường không hoàn hảo,
cùng với truyền thống bỏ mối của người dân nên hiện tượng ép giá thường
xuyên xảy ra, người sản xuất không có quyền quyết định giá cả của sản phẩm
mình. Trong thời gian gần đây, nhiều hộ gia đình sản xuất với quy mô lớn, họ
đã làm chủ phần nào của giá cả của mình nhờ vào kinh nghiệm bố trí quá
trình sản xuất cho nấm ra vào trúng ngày lễ, kịp thời nắm bắt các thông tin thị
trường để có thể bán sản phẩm với giá cao nhất.
Qua số liệu điều tra từ các nông hộ, các chủ đầu mối, các đại lý cho thấy
giá cả nấm bình quân vào mùa nắng khoảng 32.500đ/kg, vào mùa mưa
khoảng 85.500đ/kg. Giá cả rất bấp bênh, thường tăng cao vào mùa đông
(tháng 10 – 12 âm lịch) do điều kiện thời tiết không thuận lợi, lượng nấm
cung ứng ra thị trường ít (khoảng 40% so với các tháng khác). Giá cả không
những thay đổi theo mùa, còn thay đổi theo các ngày trong tháng. Thông
thường giá nấm vào ngày đặc biêt (ngày 30, 1, 14, 15) so với ngày thường
chênh lệch khoảng 20.000 đến 30.000 đồng, giá thường cao vào những ngày
này do ở Huế có truyền thống phật giáo nhu cầu sử dụng nấm để chế biến các
món chay của người dân tăng cao, nên giá cả cũng tăng lên.
Để ổn định thị trường, hạn chế tình trạng ép giá, chính quyền địa phương
nên có các biện pháp thiết thực như thành lập các trung tâm thu gom bảo vệ
giá cả cho người sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường ra ngoại
tỉnh…Tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất để nghề nấm ngày càng
phát triển.
4.4 Hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng nấm Rơm
Bảng 12: Năng suất, sản lượng nấm Rơm của các hộ trồng nấm năm 2010
( tính TB/lứa/Vòm)
Chỉ tiêu Đơn vị tính Mùa nắng Mùa mưa Cả năm
Năng suất Kg 32,00 11,33 21,50
Sản lượng Kg 494,58 176,08 665,67
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status