đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động trồng nấm rơm ở xã phú lương,phú vang, thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nấm rơm là loại nấm được sử dụng rộng rãi trong chế biến món ăn nhờ có giá trị
dinh dưỡng cao. Nấm rơm có vị ngọt, tính mát, rất bổ dưỡng đối với những
người có bệnh cao huyết áp, rối loạn lipid trong máu, xơ vữa động mạch, tiểu
đường, ung thư và các bệnh có liên quan đến bệnh lý mạch vành tim. Có thể chế
biến nấm rơm để ăn hoặc kết hợp với các nguyên liệu khác để làm món ăn bài
thuốc.
Việc nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới ngày nay đã phát triển mạnh
mẽ,nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực thụ và đã đưa lại nguồn thu
nhập khá lớn cho một số quốc gia.Với thành phần dinh dưỡng đặc biệt,một số
loại nấm có giá trị về mặt dược liệu nên nghành trồng nấm hiện nay đang rất
được chú trọng.Thế giới càng phát triển dân số ngày càng đông trong khi diện
tích sản xuất nông nghiệp đang bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa làm cho vấn đề
an ninh lương thực,thực phẩm càng trở nên cấp thiết đối với mỗi quốc gia thì
những ngành sản xuất thực phẩm như trồng nấm càng tỏ ra thích hợp và mang lại
hiệu quả.
Xã Phú Lương, huyện Phú Vang đã được biết đến như một địa phương
trồng nấm nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên Huế với các loại nấm như nấm
Rơm,nấm Sò…Sản phẩm nấm của xã Phú Lương có chất lượng và số lượng luôn
đứng đầu toàn tỉnh.
Trồng nấm Rơm ở Phú Lương hiện nay ngày càng đóng góp một phần thu
nhập lớn trong tổng thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con nông
dân trong xã.Trên cơ sở đó tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu
quả kinh tế hoạt động trồng nấm Rơm ở Xã Phú Lương,Phú Vang, Thừa
Thiên Huế”.
1
1.2. Mc tiêu nghiên cu
+ Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ nấm rơm tại xã Phú Lương, huyện
Phú Vang
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng nấm rơm

hệ tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Bản chất về hiệu quả kinh tế: là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật
và giá trị trong việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất. Nói cách khác, hiệu quả
kinh tế là kết quả đạt được trong việc sử dụng hai yếu tố cơ bản trong sản xuất
kinh doanh. Hai yếu tố đó là:
+ Yếu tố đầu vào: chi phí trung gian, lao động sống, khấu hao tài sản, thuế
3
+ Yếu tố đầu ra: số lượng và giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất, thu nhập, giá trị
gia tăng, thu nhập
b: Phương pháp tính hiệu quả kinh tế
Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế song điều quan trọng
là chúng ta cần xác định chính xác kết quả thu được và chi phí phải bỏ ra cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Tuỳ theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà
chúng ta xác định kết quả thu được sao cho phù hợp. Nếu mục tiêu của doanh
nghiệp là sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu xã hội là chủ yếu thì kết quả
được sử dụng là tổng giá trị sản xuất (GO), nhưng với doanh nghiệp hay trang
trại phải thuê mướn nhân công thì kết quả thu được cần quan tâm lại là lợi
nhuận, còn đối với các nông hộ kết quả được quan tâm là thu nhập hoặc thu nhập
hỗn hợp.
Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là chi phí cho các yếu tố
đầu vào như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, tiền vốn, trình độ và công
nghệ.Tuỳ theo mục đích phân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính
toán toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chi phí.Thông thường chi phí bỏ ra được tính
là tổng chi phí, tổng chi phí trung gian.
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí
bỏ ra.Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượng giữa kết
quả và chi phí sản xuất.
Ta có công thức: H = Q/C
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế

đang ngày càng phát triển trên thế giới. Nhiều giống nấm đã được đem trồng và
với kỹ thuật tiên tiến vì thế cây nấm đang được nuôi trồng chủ động hơn và nó
cũng trờ thành một loại thực phẩm ngày càng phổ biến trên thế giới. Bên cạnh
những giá trị về mặt dinh dưỡng trong bữa ăn, một số loài nấm còn có giá trị
dược liệu như linh chi, phục linh, đông cô.
Hiện nay trên thế giới đã ghi nhận được khoảng 2000 loài nấm ăn trong đó có 80
loài nấm ngon và được nghiên cứu nuôi trồng. Việc nghiên cứu sản xuất nấm ăn
cũng như công nghệ chế biến bảo quản nấm trên thế giới cũng phát triển rất
mạnh mẽ. Nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực sự mang lại hiệu quả về
các mặt kinh tế, xã hội, thậm chí là môi trường cho các quốc gia.
Các nước trên thế giới hiện chủ yếu nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ, nấm hương,
nấm rơm, nấm sò là chủ yếu. Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo
5
phương pháp công nghiệp. Quy trình sản xuất được cơ giới hóa cao từ khâu
nguyên liệu đến thu hoạch chế biến với công suất từ 200 đến 1.000 tấn/năm.
Khu vực Châu Á triển khai các mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt ở Trung
Quốc, nghề nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân. Sản lượng nấm mỡ, nấm
hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới. Sản lượng nấm trên thế giới được thể
hiện qua các sản lượng nấm của các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì
do Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là chính.
Hiện tại Trung Quốc vẫn là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, năm 1995 sản
lượng nấm của Trung Quốc đạt 3 triệu tấn chiếm 60% sản lượng, riêng tỉnh Phúc
Kiến 800.000 tấn.
Đến năm 2005 thì tổng sản lượng nấm trên thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn.
Riêng Trung Quốc chiếm 50% tổng sản lượng của toàn thế giới. Tốc độ tăng
trưởng về sản lượng nấm năm sau cao hơn năm trước trên 5%.
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu và phát triển nghề sản xuất nấm ăn ở Việt Nam bắt đầu từ
những năm 70 của thế kỷ 20.
Năm 1984 thành lập và phát triển ngành sản xuất nấm ăn thuộc Đại học tổng hợp

- Tận dụng thời gian nhàn rỗi trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa lũ,
thời gian nhàn rỗi của nông dân là rất nhiều, lại không có việc làm để tạo thu
nhập ngoài việc giăng câu, giăng lưới. Bên cạnh đó, việc trồng nấm rơm không
đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên các lao động phụ cũng có thể tham gia trồng nấm
rơm.
Trong những năm 1985-1995, nhà nước và các địa phương đã chi hàng chục tỷ
đồng cho nghiên cứu và sản xuất nấm nhưng hiệu quả đem lại không như mong
muốn, thậm chí là thua lỗ, gây mất uy tín với khách hàng quốc tế, chưa sử dụng
hết tiềm năng của nó. Điều này là do nhiều nguyên nhân:
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế
Hiện nay,trong số 10 loài nấm được sản xuất rộng rải ở các tỉnh thì nấm Rơm
được trồng nhiều nhất.
Nấm Rơm được dùng như một loại thực phẩm tươi giàu dinh dưỡng.Mặc dù
chi phí sản xuất và giá bán của nấm Rơm tương đối cao so với các loại rau khác
nhưng nó vẫn được sử dụng tương đối rộng rãi.
Ngoài các hộ gia đình,những khách hàng thường xuyên mua nấm tươi chính
là những khách sạn ,nhà hàng phục vụ các món ăn đặc sản.Nấm Rơm được chế
biến thành nhiều món ăn ngon và cũng có thể chế biến kết hợp với các loại thực
phẩm khác như cá,tôm,thịt lợn,thịt gà.
Huyện Phú Vang là vùng trọng điểm lúa của cả tỉnh, diện tích lúa hàng năm
trên 10.000 ha. Trong những năm qua huyện đã tích cực chuyển đồi cơ cấu cây
trồng theo hướng sản xuất hàng hóa đồng thời phát triển ngành nghề để tăng thu
nhập cho nông dân. Được biết nấm rơm là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng
cao, thức ăn sạch, việc sản xuất nấm rơm còn tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có
7
tại địa phương, giải quyết nguồn lao động nhàn rỗi, ngoài ra bã nấm sau thu hoạc
sẽ làm phân hữu cơ cho các cây trồng. Vì vậy từ năm 2002 đến nay được sự chỉ
đạo và hỗ trợ của UBND huyện, phòng nông nghiệp phối hợp với trung tâm
khuyến nông khuyến lâm tỉnh tổ chức nhiều lớp tập huấn, thực hiện các mô hình

- Từ các báo cáo hoạt động kinh tế của UBND huyện Phú Vang
- Từ các báo cáo hoạt động kinh tế của UBND xã Phú Lương
Thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn hộ sản xuất: Thông tin chung về các hộ sản suất, tình hình sản
xuất và các yếu tố liên quan đến sản xuất khác. Số lượng 45 hộ
- Phỏng vấn người am hiểu: trưởng thôn, chủ nhiệm hợp tác xã, cán bộ trạm
khuyến nông khuyến ngư huyện Phú Vang, cán bộ phụ trách nông nghiệp
huyện Phú Vang, hội nông dân huyện Phú Vang.
+ Nội dung phỏng vấn
Hoạt động trồng nấm có từ bao giờ
Năng suất như thế nào
Thu nhập của người trồng nấm cao hay thấp
Hiệu quả kinh tế mang lai cho người dân từ hoạt động trồng nấm
Những thuận lợi và khó khăn trong khâu tiêu thụ nấm
- Quan sát tình hình sản xuất cuả thôn
- Chọn điểm thông qua người am hiểu: trưởng thôn, hội nông dân, hội phụ
nữ.
3.3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu
Việc nhập và xử lý số liệu được tiến hành trên phần mềm EXCEL 2003
3.3.3. Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu
- Chọn điểm: xã Phú Lương huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Địa điểm nghiên cứu là 3 thôn: Vĩnh Lưu, Lê Xá Đông Và Đông B
Vì tập trung chủ yếu các hộ trồng nẩm rơm tại 3 thôn này
9
- Chọn mẫu (1 mẫu) :đặc điểm của hoạt động trồng nấm rơm tại điểm nghiên
cứu (xã) bao gồm nhiều loại hộ khác nhau, việc chọn mẫu đều tra cần phải
mang tính đại diện cho các loại hộ tham gia hoạt đông trồng nấm rơm. Do
vậy tiêu chí chọn hộ là:
+ Phải là hộ có trồng nấm rơm
10

nói chung và sản xuất nấm rơm nói riêng của xã.
Song nhờ vào diện tích trồng lúa của toàn xã nhiều nên thuận lợi cho việc
thu gom rơm rạ để sản xuất nấm rơm có hiệu quả.
4.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số và lao động
11
Bảng 1: Bảng dân số và lao động của xã Phú Lương
Chỉ tiêu Năm 2010
Tổng số hộ 1.331
Tổng nhân khẩu 6.581
Tổng lao động
+ Lao động trong nông nghiệp
+ Lao động ngoài nông nghiệp
1.131
120
( Nguồn khảo sát 2010 )
Năm 2010, xã đã đưa 01 lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt 12,5% chỉ
tiêu Huyện giao, ngoài ra còn tạo điều kiện cho nhiều lao động tham gia làm
việc ở các công ty trong và ngoài tỉnh. Hơn nữa, việc sản xuất nấm rơm của
xã đang ngày càng phát triển, hiện nay thì toàn xã đã có 566 hộ trồng nấm
rơm với 900 vòm, đây là nguồn thu nhập chính của người dân, tạo ra công
ăn việc làm ổn định, nâng cao mức sống, tăng kinh tế hộ gia đình. Và trong
năm nay đã có chủ trương chính sách xây dựng làng nghề trồng nấm của xã
Phú Lương, hiện vốn đầu tư ban đầu là 200 triệu, đây cũng là bước đầu khởi
sắc, đem lại hy vọng lớn đối với người lao động. Việc quy hoạch lại cơ sở hạ
tầng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ để từng bước đưa một vùng
trồng nấm lâu đời thành một làng nghề phục vụ cho du lịch, ẩm thực sẽ là
thuận lợi lớn trong việc giải quyết việc làm cho người dân trong những năm
sắp tới.
[1]

Hơn nữa, xã đã duy trì thực hiện việc ứng dụng KHKT vào sản xuất, meo
nấm rơm và nấm dược liệu có giá trị kinh tế cao.
- Về sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng năm 2010 là 2.241,67 ha đạt 100% tăng 0,6% năm
2009.
Trong đó diện tích lúa: 2.232,67 ha đạt 100% kế hoạch, tăng 0,7% năm
2009. Do triển khai có hiệu quả tăng năng suất cuối vụ đạt năng suất 61,89
tạ/ha đạt 101,14%, sản lượng 13.819 tấn đạt 101,52% kế hoạch.
Diện tích màu và cây công nghiệp: 9 ha đạt 10% kế hoạch.
+ Chăn nuôi
Đối với lĩnh vực nuôi cá nước ngọt, trong năm thực hiện được 01 vụ với
9,6 ha, tổng thu 750.000 đồng - 800.000 đồng/ha. Hiện tại, công tác nuôi các
được nhân dân hưởng ứng chưa cao do nhiều nguyên nhân như kỹ thuật nuôi
cá còn thiếu, việc đầu ra không được ổn định. Bên cạnh đó, bờ bao khoanh
vùng, thửa cũng chưa được đảm bảo.
Việc tích cực trong công tác khuyến nông, đưa con giống, đảm bảo nuôi gia
súc, gia cầm đúng kĩ thuật, phòng trừ dịch bệnh đã phát triển chăn nuôi của
xã.
Đến nay đàn trâu có 85 con giảm 103 con so với năm 2009.
Đàn bò có 70 con giảm 45 con so với cùng kỳ năm trước.
Đàn lợn có 6.500 con tăng 1.490 con (lợn nái 330 con).
Tổng đàn gia cầm là 89.000 con tăng 1500 con.
Đặc biệt trong năm 2009, xã đã phát triển 02 trang trại chăn nuôi lợn và gà
công nghiệp, 09 trang trại chăn nuôi thủy cầm. Ước tính tổng thu nhập tăng
13
lên hàng trăm triệu đồng, đây là mô hình mới làm ăn có hiệu quả, cần nhân
rộng trên địa bàn toàn xã.
[1]
4.1.4 Cơ sở hạ tầng - giao thông, thủy lợi

TT Thôn Tổng số hộ
của thôn
Số hộ sản
xuất nấm
Rơm
Tỷ lệ %
1 Giang Trung 91 6
2 Giang Đông A 80 10
3 Giang Đông B 123 83
4 Giang Tây 129 36
5 Khê Xá 99 50
6 Lê Xá Đông 215 120
7 Lê Xá Trung 57 7
8 Lê Xá Tây 211 9
9 Lương Lộc 129 10
10 Vĩnh Lưu 200 110
Tổng 1343 566
(Nguồn:Báo cáo thống kê xã Phú Lương
2010)
4.2.2. Tình hình sản xuất nấm rơm của các hộ đều tra
4.2.2.1 Đặc điểm cơ bản của các hộ đều tra
a Nhân khẩu và lao động
15
Bảng 3:Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ điều tra (Tính BQ/hộ)
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ trọng (%)
Tổng số hộ Hộ 40
Tổng nhân khẩu Người 5.1
Nhân khẩu
BQ/hộ
Người 2.494

7.56
1.1 Đất làm nhà 0.1
8

0.82
1.2 Đất vườn 1.4
6

6.74
2. Đất canh tác 20.0
8

92.44
2.1 Đất trồng lúa 19.7
5

90.95
2.2 Đất màu,nuôi cá 0.1
3

0.58
2.3 Đất trồng nấm
2.5
11.5
(Số liệu điều tra năm 2010)
Diện tích BQ/hộ của địa phương là 21.72 sào trong đó đất nhà ở là 1.64 sào
chiếm 7.56%, còn đất canh tác là 20,08 sào chiếm 92.44%, và diện tích đất
canh tác được mỗi hộ gia đình xã Phú Luơng phần lớn sử dụng cho việc
trồng lúa, cứ mỗi hộ trung bình có 19,75 sào ruộng, thu hoạch mỗi năm 2 vụ,
đem lại thu nhập chính cho người dân. Bên cạnh đó, người dân sử dụng một

nấm phải thường xuyên, phù hợp tùy thuộc vào thời tiết để có lượng nước,
độ ẩm cho nấm phát triển, mang lại năng suất cao.
Tuy nhìn chung việc trồng nấm rơm khá đơn giản nhưng một số thiết bị của
người dân lại thiếu như hệ thống phun sương cho mùa nắng, một số tư liệu
lò than sưởi để giữ nhiệt độ vào mùa mưa. Nếu như không giữ đúng nhiệt độ
cho vòm nấm từ 28-32 0C thì năng suất sẽ thấp.
d. Cơ cấu thu nhập
Hiện nay, trồng nấm đã và đang đem lại lợi ích rất lớn cho thu nhập của
người sản xuất, mặc dù nó được coi là nghề phụ làm vào lúc nông nhàn.
Trồng nấm được coi là một trong những phương thức sản xuất giúp hộ nông
dân xoá đói, giảm nghèo. Nhiều gia đình nhờ trồng nấm đã thoát nghèo, có
được cuộc sống ổn định hơn. Với ưu thế quay vòng vốn nhanh, cho thu nhập
thường xuyên, và đầu tư chi phí thấp nên mức độ rủi ro khi trồng nấm là
thấp. Người dân ở đây cho biết trồng nấm tuy không đem lại nhiều tiền một
lúc nhưng nó cho thu nhập thường xuyên nên có đựơc “đồng ra, đồng vào”
trong lúc giáp hạt, những dịp ma chay, cưới hỏi, lễ tết, hay học phí cho con
cái. Điều này giúp cho các khoản thu cuối vụ như lúa, lợn sẽ được dùng
vào mục đích tích lũy hoặc mua sắm tiện nghi, cải thiện đời sống.
Bảng 5: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra (Tính BQ/hộ/năm)
Tổng thu nhập 100
Trồng lúa 43.8
Trồng nấm 46.5
Chăn nuôi 8.7
Khác 1.0
(Nguồn: Số liệu điều tra năm
2010)
So sánh giữa 2 hoạt động sản xuất trồng lúa và trồng nấm cho ta thấy
trồng lúa với diện tích lớn nên thu nhập mang lại từ lúa ở mỗi vụ là con số
18
rất cao. Nguồn thu đó đóng góp vào sự tăng kinh tế gia đình một cách rõ

Nguyên liệu làm nấm 60 0,49%
Công lao động 1300 10.51%
Khấu hao tài sản cố
định
860 34.85%
Tổng 8896.66 100
19
(Nguồn:Số liệu điều tra năm 2010)
Bảng trên phản ánh tình hình đầu tư chi phí cho việc làm 1 vòm nấm, để có
thể đạt hiệu quả cao, năng suất cao, người trồng nấm cần chú ý, quan tâm
đến công đoạn làm nhà vòm, bởi vì nhiệt độ trong vòm nấm phải được đảm
bảo và thời gian sử dụng bình quân cho 1 nhà vòm là khoảng 3 năm. Qua
các hộ đã điều tra, bình quân họ bỏ ra đầu tư chi phí khoảng 2.030.000 đồng
cho 1 nhà vòm, trong đó tiền thuê lao động ngoài làm nhà vòm cũng khá
cao, khoảng 600.000 đồng, tiếp theo là chi phí cho việc mua ni lon phủ và
tre. Đối với nilon phủ, mùa nắng người trồng nấm thường sử dụng 1 lớp
nilon, vì mùa này nhiệt độ thường cao, còn vào mùa mưa thì người dân dùng
2 lớp nilon phủ để tăng giữ nhiệt độ nhà vòm tốt hơn. Đối với việc dùng tre
cho làm vòm, một số nhà tận dụng tre trong vườn, giảm bớt tiền mua tre,
giảm một phần chi phí, bởi tiền mua tre cũng khá cao.
Việc đầu tư làm nhà vòm đúng quy cách, kĩ thuật sẽ góp phần nâng cao sản
lượng nấm cho mỗi lứa trong năm
b. Giá bán bình quân của sản phẩm nấm rơm
Thu nhập của các hộ trồng nấm tại xã Phú Lương được chia làm hai mùa là
mùa hè và mùa mưa và giá bán sản phẩm của hai mùa này củng khác nhau
thong qua bảng sau
Bảng 7: Bảng giá bán nấm rơm bình quân trên kg
(ĐVT:1.000đ)
Giá bán Mùa hè
Mùa

15) so với ngày thường chênh lệch khoảng 20.000 đến 30.000 đồng.
Để ổn định thị trường, hạn chế tình trạng ép giá, chính quyền địa phương
nên có các biện pháp thiết thực như thành lập các trung tâm thu gom bảo vệ
giá cả cho người sản xuất; đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường ra
ngoại tỉnh… Tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất để nghề nấm
ngày càng phát triển.
c. Năng suất nấm rơm
Từ các yếu tố chi phí và thu nhập nêu trên ta nhận thấy rằng năng suất và
sản lượng của các hộ trồng nấm trong mùa mưa và mùa nắng thông qua bảng
sau.
Bảng 8: Bảng năng suất, sản lượng, số bánh qua các mùa trong năm
( tính BQ/500 bánh )
Chỉ tiêu Đơn vị Mùa nắng Mùa mưa Cả năm
Năng suất Kg/lứa/500bán
h
31.63 10.81 21.03
Sản lượng Kg 493.50 171.25 660.06
Số bánh Bánh 10000 5000 150000
(Nguồn Số liệu điều tra năm 2010)
Việc trồng nấm phụ thuộc nhiều vào thời tiết, vào mùa nắng khoảng từ tháng
4 đến tháng 9 dương lịch, nhiệt độ thuận lợi cho nấm phát triển, nên năng
suất cũng đạt khá cao và ổn định, trung bình mỗi hộ có đến 31,25
kg/vòm/lứa nấm. Ngược lại vào mùa mưa thường có lụt lội bắt đầu từ
21
khoảng tháng 9 trở đi, người dân gặp khó khăn lớn trong việc ủ nấm, chăm
sóc nấm vào những ngày mưa bão. Do vậy, năng suất cũng chỉ đạt được 11
kg/vòm/lứa.
Sản lượng BQ/vòm/vụ mùa nắng đạt được 491,6875 kg, song vào mùa mưa
sản lượng nấm chỉ đạt BQ/vòm trung bình khoảng 174,6875 kg. Và tổng sản
lượng BQ/vòm/năm đạt được 666,375 kg.

Qua đó, tính được chỉ số VA/IC, đây là chỉ tiêu quan trọng cho việc
xác định hiệu quả kinh tế sản xuất của hộ nông dân trồng nấm rơm. Đối với
vụ nắng, chỉ số VA/IC BQ/vòm/lứa là 2,03 lần, tức 1 đồng chi phí trung gian
22
bỏ ra thu về được 2,03 đồng giá trị gia tăng. Vụ mùa mưa, chỉ số VA/IC là
1,29 lần, tức 1 đồng chi phí trung gian bỏ ra thu về được 1,29 đồng giá trị
gia tăng. Tuy sản lượng vào mùa mưa không cao nhưng giá bán vào mùa
mưa cao nên giá trị gia tăng của cả 2 mùa đều cao. Điều này cho thấy việc
sản xuất nấm rơm sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao trong cả năm.
Như vậy, hiệu quả kinh tế từ việc trồng nấm của người dân xã Phú Lương
vừa cao, vừa lại ổn định. Nhìn chung, ngoài trồng lúa, nguời dân đã xem
việc trồng nấm như là nghề hỗ trợ, phụ giúp chính cho việc phát triển kinh tế
hộ gia đình. Qua đó, nghề nấm dần dần phát triển trở thành ngành nghề quan
trọng của bà con nông dân trên địa bàn xã Phú Lương.
23
4.2.3 Tình hình tiêu thụ nấm rơm của các hộ đều tra
Sơ đồ chuỗi cung

Sơ đồ chuỗi cung sản phẩm nấm rơm
và cơ cấu khối lượng sản phẩm qua các kênh
Meo
giống
Rơm Tre Ni lông Dây
buộc
Hộ trồng nấm
THU GOM Ở XÃ
Chợ Diên Đại
Chợ Phú Thứ Chợ Đông Ba
NGƯỜI TIÊU DÙNG
95%

chuẩn bị mọi thứ cho một đợt thu gom nấm với sản lượng khá lớn như cân,
các khay đựng nấm, trải bạt Sản lượng nấm mỗi ngày là 300-500 kg, có
lúc rất nhiều đến 1-2 tấn. Đến khi người đi thu mua nấm ở các địa phương
đến, mà phần đông là người thu gom nấm của xã Phú Lương, họ chỉ việc cân
kg rồi trả tiền vì đã có ấn định hoa hồng sẵn.
4.2.4 So sánh và đánh kinh tế của hoạt động trồng nấm với các
hoạt động sản xuất khác
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status