Đề tài: Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía nguyên liệu ở quy mô nông hộ trên địa bàn xã Châu Hội, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đ ề tài:
Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía
nguyên liệu ở quy mô nông hộ trên địa bàn xã
Châu Hội, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài: 1
Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía nguyên liệu ở quy mô nông hộ
trên địa bàn xã Châu Hội, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An 1
MỤC LỤC 2
PHẦN I 11
ĐẶT VẤN ĐỀ 11
1. Sự cần thiết của đề tài 11
2. Mục tiêu nghiên cứu 12
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Phương pháp nghiên cứu 12
PHẦN II 13
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái quát chung về hộ nông dân 13
1.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân 13
1.1.1.2 Đặc điểm của hộ nông dân 14
1.1.2 Hiệu Quả kinh tế 14
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 14
1.1.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế 16
1.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế 18
1.1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế 19
1.1.2.5 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế 20

2.2.1.2 Thực trạng về giống mía 38
2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía của các nông hộ 39
2.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của các nhóm hộ điều tra 39
2.2.2.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ 39
2.2.2.1.2 Nguồn lực đất đai 41
2.2.2.1.3 Tình hình trang bị vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất 42
Qua bảng 10 cho thấy mức chênh lệch về TLSX giữa 2 nhóm hộ: Nhóm DT Kinh
có sự trang bị tương đối đầy đủ hơn so với nhóm hộ DT Thái. Tuy nhiên, trang bị
còn lạc hậu, thô sơ. Muốn đầu tư thâm canh phát triển theo chiều sâu, đòi hỏi các
hộ phải đầu tư lớn hơn nữa về trang bị vật chất kỹ thuật. Quá trình điều tra thực
tế 60 hộ sản xuất mía cho thấy TLSX của các hộ ngoài sức kéo trâu bò thì chỉ là
những vật dụng rẻ tiền mau hỏng. Người trồng mía không hề đầu tư xe cải tiến
cũng như máy cày. Sản xuất mía từ bao đời vẫn sử dụng cách làm thủ công cổ
truyền, chỉ mộ số ít là có thuê máy cày để cày đất. Khi sử dụng phương pháp thủ
công sẽ làm cho đất chai cứng, không được tơi xốp. Do vậy, mía sẽ kém phát
triển, ảnh hưởng rất nhiều tới NS mía. Do chi phí máy cày không có nên chi phí
đầu tư công LĐ làm đất đầu chi kỳ kinh doanh lớn 43
Bảng10: Mức độ trang bị tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất mía 43
(Tính bình quân cho 1 hộ) 43
Chỉ tiêu 43
ĐVT 43
BQ 43
Dân tộc Kinh 43
Dân tộc Thái 43
3
SL 43
Giá trị 43
SL 43
Giá trị 43
SL 43

0 43
0 43
0 43
0 43
Bình phun thuốc 43
Cái 43
0,8 43
58,9 43
0,9 43
67,7 43
0,7 43
50,0 43
Nông cụ 43
Cái 43
5,2 43
122,7 43
5,3 43
115,1 43
5,1 43
130,4 43
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu điiều tra,2010 ) 44
Như vậy, để phục vụ sản xuất hiệu quả hơn, hộ cần đầu tư vốn mua sắm các loại
tư liệu quan trọng như máy cày bừa, máy bơm nước. Do đặc điểm của những loại
tư liệu này khá đắt tiền do vậy các hộ nên hợp tác chung vốn để đầu tư thì hiệu
quả sẽ cao hơn. Ngoài ra, nhà máy đường nên có chính sách đầu tư, cần hỗ trợ
người trồng mía đưa máy cơ giới vào khâu làm đất, chăm sóc mía để nâng cao
5
HQKT và giảm chi phí cho người trồng mía. Sử dụng các loại máy như máy cày
ngầm, máy xới bón, máy băm lá, máy phun thuốc sâu và máy bơm nước loại lớn.
44

6,60 44
1,63 44
(Nguồn: số liệu điều tra 2010 ) 45
Như vậy, nhìn chung quy mô sản xuất mía của các hộ được điều tra tương đối
thấp, trong khi hầu hết các hộ không đầu tư thâm canh trên đất trồng mía. Chính
vì vậy mà trong những năm qua sản lượng mía có tăng nhưng tăng rất chậm 45
2.2.2.3 Chi phí sản xuất mía của các hộ được điều tra 45
Trong nông nghiệp, chi phí sản xuất được phân thành chi phí vật chất dịch vụ
mua ngoài (Chi phí trung gian IC) và chi phí tự có của gia đình 45
2.2.2.3.1 Chi phí vật chất trung gian 45
Trong thực tế, hầu phần lớn các hộ đều lưu gốc đến năm thứ 3, vì vậy trong đề tài
này, người nghiên cứu đánh giá mức độ đầu tư của các hộ sản xuất mía theo chu
kỳ 3 năm. 45
. Qua điều tra, trong toàn bộ chi phí trung gian thì phân HCVS là loại chi phí
chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm tới 44,94% trong tổng chi phí sản xuất năm thứ
nhất; 65,05% tổng chi phí năm thứ 2 và 57,08% tổng chi phí năm thứ 3 ). Tuy
nhiên giá cả phân HCVS rất cao, mức độ đầu tư loại phân này được khuyến cáo
bón khoảng 50 – 100kg/sào và nên bón thêm phân chuồng để đầu tư cải tạo đất.
Thế nhưng thực tế tại địa bàn xã, mức độ đầu tư phân HCVS trung bình của các
hộ trồng mía là khoảng 2 tạ/sào. Chính vì vậy đã đẩy chi phía sản xuất mía của
các nông hộ lên khá cao 45
Trong sản xuất mía nông dân phải chịu một khoản chi phí sản xuất mía khá lớn
về cước phí vận chuyển. Ngoài ra, nông hộ còn đầu tư thêm về thuốc trừ sâu, vôi
và công LĐ là những loại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí đầu tư 45
Nhìn chung, chi phí đầu tư giữa 3 năm là có sự khác biệt đáng kể. Trong năm
thứ nhất do các hộ phải chị chi phí về giống (19,06%) và chi phí làm đất (10,37%)
do vậy mà chi phí đầu tư cho năm thứ đầu là cao nhất. Chi phí sản xuất mía bình
quân của hộ là khảng 960 nghìn đồng đối với mía tơ, 719 nghìn đồng đối với mía
gốc 1 năm và 784 nghìn đồng đối với mía gốc 2 45
7

8
128,33 47
0,00 47
0,00 47
119,46 47
0,00 47
0,00 47
Phân chuồng 47
40,00 47
40,00 47
40,00 47
35,57 47
35,57 47
35,57 47
Công lao động 47
40,26 47
40,26 47
40,26 47
34,45 47
34,45 47
34,45 47
(Nguồn: số liệu điều tra, 2010 ) 48
Nếu so sánh giữa chi phí sản xuất trung gian và chi phí tự có trong hoạt động
sản xuất mía của nông dân xã Châu Hội thì chi phí tự có thấp hơn rất nhiều lần
so với chi phí trung gian. Trong 2 nhóm DT được điều tra thì nhóm DT Kinh bỏ
ra chi phí tự có lớn hơn so với nhóm DT Thái. Nếu như BQ/sào người Thái BQ
người Thái bỏ ra 189 nghìn đồng đối với mía tơ, 70 nghìn đồng đối với mía gốc 1
và gốc 2 thì người Kinh bỏ ra 208 nghìn đồng đối với mía tơ, 80 nghìn đồng đối
với mía gốc 1 và gốc 2. Qua điều tra cũng cho thấy, công LĐ gia đình bỏ ra nhiều
hơn so với công lao động thuê mướn, điều này cho thấy rõ, hầu hết công LĐ thuê

3.3.7 Giải pháp trong vấn đề hợp tác sản xuất 72
Phần III 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1. Kết luận 73
2. Kiến nghị 74
10
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế
Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi là ngành quan trọng hàng đầu. Nhà
nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp. Song nông nghiệp
đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như khả năng cạnh tranh so với các nước
trong khu vực, gặp nhiều rủi ro, bất lợi do thời tiết, thị trường, thể chế chính
sách Những rủi ro bất lợi này tác động rất lớn tới người nông dân. Xét một cách toàn
diện người nông dân luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi và luôn gặp khó khăn
nhất trong cuộc sống.
Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây
trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình. Ngày xưa cây mía tạo
ra thu nhập (TN) cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày
nay, cây mía và ngành mía đường tại Việt Nam được xác định không chỉ là ngành kinh
tế với mang lại lợi nhuận mà còn là một ngành kinh tế xã hội do nó có ảnh hưởng quan
trọng đến đời sống của hàng nghìn người nông dân. Trong những năm qua Chính Phủ
đã triển khai nhiều chương trình, quyết định liên quan đến phát triển mía đường như
“Chương trình quốc gia 1 triệu tấn đường”, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về việc tiêu
thụ nông sản thông qua hợp đồng. Quyết định 28/2004/QĐ-TTg về việc tổ chức lại và
thực hiện một số giải pháp xử lý khó khăn đối với các nhà máy, công ty đường và
người trồng mía. Ngoài ra, Chính Phủ ban hành quyết định số 26/2007/QĐ-TTg phê
duyệt quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với
tổng diện tích trồng mía 300.000 ha; sản lượng 19,5 triệu tấn/năm. Các chương trình

− Phương pháp điều tra chọn mẫu: trong tất cả các thôn có tiến hành trồng
mía trên địa bàn xã thì Việt Hương và Bản Lè là hai thôn tiêu biểu trong hoạt động sản
xuất mía chiếm diện tích lớn hơn so với các thôn khác.
− Phương pháp thống kê kinh tế: Từ số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được,
xây dựng hệ thống bảng biểu để phân tích, đánh giá tình hình sản xuất mía của thế
giới, Việt Nam, cũng như tình hình sản xuất mía của xã Châu Hội
12
− Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh kết quả và hiệu quả
sản xuất mía của các hộ nông dân trên góc độ so sánh kết quả và hiệu quả sản xuất mía
của 2 nhóm hộ dân tộc Kinh và Thái.
PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát chung về hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát
triển nông thôn. Có rất nhiều định nghĩa về hộ nông dân:
Theo giáo sư Frank Ellis Trường Đại học Cambridge (1988): “Hộ nông dân là
các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động
gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với
một trình độ hoàn chỉnh không cao” [1].
Lý thuyết của Tchayanov coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao
động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình. Do đó, các khái niệm kinh tế thông
thường không áp dụng được cho kiểu doanh nghiệp này. Do không thuê lao động nên
trong hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và tiếp theo là không thể tính được
lợi nhuận, địa tô và lợi tức. Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt
động kinh tế gia đình, đó là sản lượng hàng năm trừ đi chi phí. Mục tiêu của hộ nông
dân là có thu nhập cao, không kể thu nhập ấy có nguồn gốc nào: trồng trọt, chăn nuôi

1.1.2 Hiệu Quả kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
HQ là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế sản
xuất hàng hóa. HQ là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án
hành động. HQ được xem xét dưới nhiều giác độ và quan điểm khác nhau: HQ tổng
hợp, HQKT, HQ chính trị xã hội, HQ trực tiếp, HQ gián tiếp, HQ tương đối và HQ
tuyệt đối Ngày nay, khi đánh giá HQ đầu tư của các dự án phát triển, nhất là những
14
dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi phải xem xét HQKT trên nhiều
phương diện.
Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “HQKT là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi sự lựa
chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước”[3].

Còn theo P.samuelson và W.Nordhaus: “HQ sản xuất diễn ra khi xã hội
không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại
hàng hóa khác. Một nền kinh tế có HQ nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của
nó”[4]. Thực chất của hai quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả
các nguồn lực của doanh nghiệp, cũng như nền sản xuất xã hội. Trên giác độ này rõ
ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên
đường giới hạn khả năng sản xuất thì sản xuất có HQ.
Theo Farell (1957) và một số nhà kinh tế học khác thì chúng ta chỉ tính được
HQKT một cách đầy đủ theo nghĩa tương đối: “HQKT là một phạm trù kinh tế trong
đó sản xuất đạt được cả HQ kỹ thuật và HQ phân phối”.
HQ kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu
vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay
công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp. Như vậy HQ kỹ thuật liên quan đến
phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất
đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
HQ phân phối (hiệu quả giá) là chỉ tiêu HQ trong đó các yếu tố giá sản phẩm và

cụ thể. Khi xác định HQKT không nên chỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh
(phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ
kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tuyệt đối. HQKT Ở đây được biểu hiện bằng giá
trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đành giá, xem xét đến hiệu quả hữu ích được tạo ra
như thế nào, có được chấp nhận hay không. Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến
yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
16
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp là rất đa
dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí vật chất, lao
động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Việc đánh giá phần lớn phụ thuộc vào quy
trình sản xuất là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một
trong những nội dung hết sức quan trọng trong việc đánh giá HQKT. Tùy thuộc vào
từng ngành, quy mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì HQKT được xem xét
dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất. Xác định các yếu tố
đầu ra: các mục tiêu đạt được phải phù hợp vời mục tiêu chung của nền kinh tế quốc
dân, hàng hóa sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là:
Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận Xác định các yếu tố đầu vào: đó là những yếu tố chi
phí về vật chất, công lao động, vốn
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị
trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân bổ chi
phí, hạch toán chi phí Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các kết quả về
mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất không thể lượng hóa được.
Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã
hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá nhân, tổ chức

- HQKT quốc dân: là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của
một quốc gia.
- HQKT ngành: là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định
như công nghiệp, nông nghiệp
- HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương.
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất – kinh doanh: Doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình
- HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất.
* Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu:
- HQKT phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế
và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại.
- HQ xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về mặt xã
hội do hoạt động sản xuất mang lại.
18
- HQ kinh tế - xã hội: phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt
kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo vệ môi trường, lợi
ích công cộng
- HQ phát triển và bền vững: là HQ kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý
để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và bảo đảm những lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài.
* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác
động vào sản xuất thì chia HQKT thành:
- HQ sử dụng đất đai.
- HQ sử dụng lao động.
- HQ sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn
- HQ việc áp dụng khoa học – kỹ thuật như HQ làm đất, HQ bón phân [6]
1.1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: Càng ngày
người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục
vụ cho nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi các nguồn lực càng giảm thì nhu
cầu của con người càng đa dạng và tăng không giới hạn. Điều này phản ánh quy luật

các nhà sản xuất có những tác động cụ thể đến các yếu tố đầu vào để giảm chi phí
nguồn lực, nâng cao HQKT.
* Công thức 2: H = Q/C hoặc ngược lại H = C/Q
Khi so sánh HQ thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói lên mặt
chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được mức độ sử
dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết quả là bao
nhiêu. Vì vậy, nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách rõ
nét. Tuy nhiên, Cách tính này cũng có nhược điểm là chưa thể hiện được quy mô
HQKT vì trên thực tế những quy mô khác nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn
như nhau.
Trong thực tế khi đánh giá HQKT người ta thường kết hợp giữa công thức 1 và
công thức 2 để chúng bổ sung cho nhau, qua đó sẽ đánh giá được HQKT một cách sâu
sắc và toàn diện.
* Công thức 3: H = ∆Q - ∆C
Trong đó H: HQKT tăng thêm
20
∆Q: Kết quả tăng thêm
∆C: Chi phí tăng thêm
Chỉ tiêu này càng lớn thì HQ càng cao. Công thức này thể hiện rõ mức độ HQ
của đầu tư thêm và nó được dùng kết hợp với công thức 4 để phản ánh toàn diện
HQKT hơn.
* Công thức 4: H = ∆Q/∆C Hoặc ngược lại H =∆C/∆Q
Công thức này thể hiện rõ HQKT của việc đầu tư thêm hay tăng thêm chi
phí, nó thường được sử dụng để xác định HQKT theo chiều sâu hoặc của việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định
được điểm tối đa hóa lợi nhuận để đưa ra những quyết định sản xuất tối ưu nhất.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động, ảnh hưởng của các yếu tố tự
nhiên như đất đai, khí hậu…
Trong thực tế sản xuất khi đánh giá HQKT ta thường kết hợp các công thức lại
với nhau để chúng bổ sung cho nhau. Như vậy, việc đánh giá HQKT sẽ chính xác và

0
C cây bị hại.
- Ánh sáng: Cây mía có bộ lá xanh lớn, khả năng tích lũy chất khô cao. Trong
quá trình sinh trưởng và phát triển, cây mía cần có cường độ ánh sáng mạnh. Thiếu
ánh sáng, cây sẽ phát triển yếu, hàm lượng đường thấp, dễ bị sâu bệnh. Trong suốt chu
kỳ, cây mía cần từ 2000 – 3000 giờ chiếu sáng, tối thiểu là 1200 giờ.
- Lượng mưa: Mía là cây cần nhiều nước, nhưng sợ úng nước.Cây mía yêu cầu
lượng mưa hữu hiệu trong năm là 1500mm tức tổng số lượng mưa phải từ 2000–
2500mm/năm. Ở giai đoạn sinh trưởng cây mía yêu cầu 100–170mm/tháng; Khi chín
yêu cầu khô ráo, mía thu hoạch sau một khoảng thời gian khô ráo khoảng 2 tháng sẽ
cho trữ đường cao.
- Độ cao: Độ cao có liên quan đến cường độ chiếu sáng cũng như mức chênh
lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm, do đó ảnh hưởng đến khả năng tích tụ đường trong
mía. Giới hạn về độ cao cho cây mía sinh trưởng và phát triển ở vùng xích đạo là
1600m, ở vùng nhiệt đới là 700-800m
- Đất trồng: Mía là loại cây công nghiệp khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có
thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau, từ 70% sét đến 70% cát. Đất thích hợp
nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng canh tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm tốt và dễ
thoát nước. Có thể trồng mía có kết quả trên cả những nơi đất sét rất nặng cũng như
trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua mặn, đất đồi, khô hạn ít màu mỡ. Yêu
cầu tối thiểu với đất trồng là có độ sâu, độ thoáng nhất định, độ PH không vượt quá
giới hạn từ 4-9, độ PH thích hợp là 5,5-7,5. Độ dốc địa hình không vượt quá 15
0
, đất
không ngập úng thường xuyên. Những vùng đất đai bằng phẳng cơ giới vận tải tương
đối thuận lợi đều có thể bố trí trồng mía. Ngoài ra, người ta có thể canh tác mía ở cả
những vùng gò đồi có độ dốc không lớn lắm ở vùng trung du miền núi. Tuy nhiên, ở
22
những vùng địa bàn này cần bố trí các rãnh mía theo các đường đồng mức để tránh xói
mòn đất. Ngành trồng mía chỉ có thể cho HQKT cao khi hình thành những vùng

- Cách trồng: Trên rãnh đặt hom trồng thành một hàng hay hai hàng so le, đặt
mầm mía nằm ra hai bên, lấp đất dày mỏng tùy đất khô hay ẩm, nhiệt độ cao hay thấp
(khô, rét lấp đất dày; ẩm lấp đất nông; trồng vụ thu chỉ cần lấp kín hom).
- Làm đất trồng mía: Chuẩn bị đất trồng mía là khâu kỹ thuật đầu tiên rất quan
trọng. Làm đất trồng mía có 2 bước: Cày bừa và hót luống (rạch hàng)
Cày, bừa: Phải đảm bảo 2 tiêu chuẩn cơ bản là độ sâu và độ mịn. Cày được
càng sâu càng tốt, vì bộ rễ mía ăn sâu đến 50 – 60cm.
Hót luống: Rãnh trồng mía phải sâu 25cm, đáy rãnh có một lớp đất xốp 5cm –
10cm.
- Chăm sóc:
Bón phân: Nguyên tắc là đất xấu bón nhiều phân, đất tốt thì bón ít phân, đất
nghèo loại phân gì thì bón loại phân ấy.
Phân hữu cơ: Bón từ 8 đến 20 tấn/ha bón lót toàn bộ
Phân tổng hợp sinh học: Bón từ 1500 - 2000kg/ha, bón lót 50%, bón thúc khi
mía kết thúc đẻ 50%.
Đạm urê: Bón lót từ 300kg đến 450kg, cá biệt có thể bón đến 550kg, bón lót
50%, bón thúc lúc mía kết thúc đẻ 50%.
Phân lân: Bón từ 400kg đến 600kg/ha, cá biệt có thể bón 1000kg/ha, bón lót
toàn bộ.
Kali: Bón lót từ 200 đến 300kg/ha, bón lót toàn bộ hoặc bón lót 50% và bón
thúc 50%.
Vôi: Bón từ 500kg đến 1200kg/ha, đất quá chua phải bón liên tục cho nhiều
năm để đưa độ pH lên xấp xỉ 6.
- Diệt cỏ, phá váng, cày xới, dặm mầm, bóc bẹ già:
Từ khi trồng đến trước khi mía giao tán phải thường xuyên diệt sạch cỏ dại
bằng cuốc, bằng cày hoặc bằng thuốc trừ cỏ.
Từ khi trồng đến trước khi mía đẻ nhánh, nếu mưa to phải xới phá váng, nếu
thiếu mầm phải dặm kịp thời.
24
Từ khi mía đẻ đến trước khi giao tán phải thường xuyên cày xới đất giữa 2 hàng

người ta đã nghĩ đến việc thay thế năng lượng của thế kỷ 21 là lấy từ mía.
25

Trích đoạn Giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác Giải pháp cho tiêu thụ Tổ chức khuyến nông vùng mía nguyên liệu Giải pháp trong vấn đề hợp tác sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status