“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT MÍA
NGUYÊN LIỆU Ở QUY MÔ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHI HẢI,
HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG”
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường.
Đường là một loại thực phẩm cần có trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhiều quốc
gia trên thế giới, cũng như là loại nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất
công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng như bánh kẹo, Mía là loại cây công nghiệp
khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau, từ
70% sét đến 70% cát. Đất thích hợp nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng canh
tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước
1
. Có thể trồng mía có kết quả trên
cả những nơi đất sét rất nặng cũng như trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua
mặn, đất đồi, khô hạn ít màu mỡ.
Mía là cây trồng có khả năng sinh khối lớn. Nhờ đặc điểm có chỉ số diện tích lá lớn
nên cây mía có khả năng tận dụng ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp (tối
đa có thể đạt 5 – 7%). Mía là loại cây có tác dụng bảo vệ đất rất tốt. Mía thường
được trồng từ tháng 10 đến tháng 2 hàng năm, là lúc lượng mưa thấp. Đến mùa mưa
mía được 4 – 5 tháng tuổi, bộ lá đã giao nhau thành thảm lá xanh dầy, diện tích lá
gấp 4 – 5 lần diện tích đất làm cho mưa không rơi trực tiếp xuống mặt đất có tác
dụng tránh xói mòn đất cho các vùng đồi núi trung du và làm tăng độ phì nhiêu cho
đất
2
.
Trong định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới
hiện nay mà Đảng và nhà nước ta xác định là cần thực hiện “chuyển đổi cơ cấu cây
trồng”, “hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp gắn liền với công
nghiệp chế biến” nhằm khai thác tốt hơn niềm năng kinh tế - xã hội vốn có của mỗi
vùng, tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nắm được thực trạng sản xuất mía, những nhân tố ảnh hưởng, xác định
nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả cây mía.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất mía tại xã Phi Hải.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển cây mía tại địa phương.
3. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên.
- Giúp rèn luyện kỹ năng, làm quen với công việc ngoài thực tế, phục vụ tích
cực cho quá trình công tác sau này.
2
- Bước đầu vận dụng kiến thức đã học vào đề tài nghiên cứu khoa học.
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực
hiện hiệu quả trồng mía. Qua đó giúp cho người dân có cơ sở để tiếp tục phát triển
mở rộng sản xuất mía.
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển việc trồng mía trên địa bàn
xã Phi Hải trong những năm tới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp
nông hộ.
4. Bố cục khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 4 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÍA
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
4
Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
4
1.1.2. Cơ sở về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế
HQ là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế
sản xuất hàng hóa. HQ là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các
phương án hành động. HQ được xem xét dưới nhiều giác độ và quan điểm khác
nhau: HQ tổng hợp, HQKT, HQ chính trị xã hội, HQ trực tiếp, HQ gián tiếp, HQ
tương đối và HQ tuyệt đối Ngày nay, khi đánh giá HQ đầu tư của các dự án phát
triển, nhất là những dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi phải
xem xét HQKT trên nhiều phương diện.
Theo GS.TS Ngô Đình Giao: “HQKT là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi sự lựa
chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước”
5
.
Còn theo P.samuelson và W.Nordhaus: “HQ sản xuất diễn ra khi xã hội
không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một
loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có HQ nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”
6
.
Thực chất của hai quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả
các nguồn lực của doanh nghiệp, cũng như nền sản xuất xã hội. Trên giác độ này rõ
ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực
trên đường giới hạn khả năng sản xuất thì sản xuất có HQ.
Theo Farell (1957) và cộng sự thì chúng ta chỉ tính được HQKT một cách
đầy đủ theo nghĩa tương đối: “HQKT là một phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt
được cả HQ kỹ thuật và HQ phân phối”
xuất kinh doanh.
Như vậy, mặc dù còn có nhất nhiều những quan điểm khác nhau về khái
niệm HQKT nhưng chung quy lại chúng ta có thể hiểu: HQKT chính là phạm trù
phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng
các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) trong
quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tối đa hoá lợi nhuận.
1.1.2.2. Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang
khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuất kinh doanh để tìm
kiếm cơ hội với yêu cầu, mục đích khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là tìm kiếm
lợi nhuận. Nhưng làm thế nào để có HQKT cao nhất, đó là sự kết hợp các yếu tố đầu
vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản xuất, nguồn lực nhất định. Ngoài ra còn
phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu khoa học kỹ thuật và việc áp dụng vào trong sản xuất,
vốn, chính sách, quy luật khan hiếm nguồn lực trong khi đó nhu cầu của xã hội về
hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng và trở nên đa dạng hơn, có như vậy mới nâng cao
được HQKT.
Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và yếu tố
đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và HQ sản xuất. Kết quả là một đại
lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tùy thuộc vào
từng điều kiện cụ thể. Khi xác định HQKT không nên chỉ quan tâm đến hoặc là
6
quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên xem xét
đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tuyệt đối. HQKT Ở đây
được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét đến hiệu quả hữu ích được tạo
ra như thế nào, có được chấp nhận hay không. Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp
đến yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m
2
, m
3
, lít,… các đơn vị giá trị có
thể đồng, triệu đồng, ngoại tệ…
Trong khi đó HQ là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất không thể đo lường bằng các đơn vị
hiện vật và đơn vị giá trị mà nó mang tính tương đối. Ta có thể tính toán trình độ lợi
dụng nguồn lực bằng số tương đối: Tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực.
Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối: Phạm trù này chỉ
phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả
của quá trình kinh doanh không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng nguồn lực
sản xuất.
1.1.2.3. Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác
nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng
khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau. Do đó, để nghiên cứu
HQKT đúng cần phân loại HQKT.
Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét. HQKT được phân theo các
khía cạnh sau:
- HQKT quốc dân: là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của
một quốc gia.
- HQKT ngành: là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất
định như công nghiệp, nông nghiệp
- HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương.
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất – kinh doanh: Doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình
- HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất.
xuất đúng loại sản phẩm với chất lượng và số lượng phù hợp, giá cả hợp lý. Trong
khi nguồn lực càng ngày càng giảm mà nhu cầu của con người lại càng tăng.
Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập
doanh nghiệp phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng
trong cạnh tranh doanh nghiệp cần phải luôn tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh:
Chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ cung ứng. Để duy trì lợi thế về giá
cả, doanh nghiệp phải tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp khác.
9
Nguyễn Hữu Ngoan (2005), Giáo trình thống kê nông nghiệp, NXB Nông nghiệp,
Hà Nội.
9
Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, doanh nghiệp mới có khả năng
đạt được điều này.
Hiệu quả kinh tế càng nâng cao thì người sản xuất càng thu được lợi nhuận.
Người tiêu dùng càng được cung cấp đa dạng về sản phẩm với giá rẻ hơn, chất
lượng hàng hóa cao hơn.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là vấn đề mà cả người sản xuất và người tiêu dùng
và cả xã hội đều quan tâm.
1.1.3. Cơ sở về phát triển sản xuất mía
1.1.3.1. Ý nghĩa của việc phát triển cây mía
Mía là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao được chú trọng đầu
tư phát triển ở nước ta. Nhiệm vụ chính của mía là sản xuất lấy đường. Đường giữ
vai trò rất quan trọng trong khẩu phần thức ăn hàng ngày của con người và là nhu
cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội. Cây mía là nguyên liệu quan trọng của
ngành công nghiệp chế biến đường ăn trên thế giới và là nguồn nguyên liệu duy
nhất của nước ta.
Ngoài ra mật lại có thể dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt. Theo đông y nước mía có
vị ngọt mát, tính bình có tác dụng thanh nhiệt, giải khát giải độc, tiêu đờm, chống
nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Mía có giá trị dược liệu cao
nên người xưa coi nó là thang thuốc hồi mạch của trời. Trong mía, đường chiếm
2010/11 29.849 161.612 51.921 243.412 56.008 156.766 30.558
2011/12 30.558 170.967 48.870 250.395 57.819 160.965 31.611
2012/13 31.611 174.453 49.105 255.169 58.326 163.761 33.082
(Nguồn: USDA)
Đường được sản xuất tại hơn 100 nước, trên 70% tiêu thụ nội địa. Ba nước
xuất khẩu đường chủ yếu là Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, chiếm 50% sản lượng và
56% xuất khẩu của thế giới (Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Bình quân sản xuất và tiêu thụ đường mía hàng năm
ở một số nước (tính trong kỳ 2007 – 2011)
Quốc gia
Sản xuất
(1.000 tấn)
Tiêu thụ
(1.000 tấn)
Xuất khẩu
(1.000 tấn)
Lượng dự
trữ cuối
(1.000 tấn)
BQ tiêu
thụ đầu
(kg/ngườ
i/năm
Brazil 34.790 11.760 22.990 375 56
Ấn Độ 24.033 23.730 1.262 6.957 17
Trung
Quốc
12.737 14.270 1.508 2.597 7
Thái Lan 8.357 2.184 6.244 2.252 30
Mỹ 7.139 10.186 2.492 1.232 32
Peru 123 Mozambique 79,6
Colombia 120 Thái Lan 77,3
Nicaragua 102,4 Mexico 70
Swaziland 98 Costa Rica 61,1
Guatemala 90 Nam Phi 60
Zimbabwe 85
(Nguồn: USDA)
1.2.2. Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa (khoảng 250
năm trước Công nguyên), nhưng công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế
kỷ thứ XX. Đến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy đường mía, với tổng công
suất gần 11.000 tấn mía ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị
và công nghệ lạc hậu. Năm 1995, với chủ trương “Đầu tư chiều sâu, mở rộng các
nhà máy đường hiện có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ ở những
vùng nguyên liệu nhỏ. Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà
máy có thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản
lượng đường năm 2000 đạt khoảng một triệu tấn (Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 8). Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi đầu để
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói, giảm
nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp. Ngành mía đường được giao
“Không phải là ngành kinh tế vì mục đích lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế xã hội”.
Tình hình sản xuất mía đường chia ra làm các giai đoạn:
1.2.2.1. Tình hình sản xuất mía đường từ 1995 đến 2000
Ngành mía đường Việt Nam đến năm 1994 - 1995 vẫn chưa sản xuất được
đủ đường cho nhu cầu trong nước. Nhằm định hướng phát triển ngành mía đường
Việt Nam sản xuất đủ đường cho nhu cầu phát triển ngày càng tăng cao trong nước
và tiến tới xuất khẩu, vào năm 1994, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã
12
xây dựng tổng quan mía đường Việt Nam đến 2000 - 2010 và đề xuất chương trình
1 triệu tấn đường. Tháng 10/1994 Thủ tướng Chính phủ đã thông qua chương trình
2000 302.300 15.040 49,8
(Nguồn: Tổ chức Nông - Lương Liên hiệp quốc FAO, 1994 - 2000)
- Đến năm 2000 cả nước với 44 nhà máy, với tổng công suất thiết kế 78.200
TMN. Hình thành nên 3 vùng mía trọng điểm là Thanh Hóa - Nghệ An, Quảng
Ngãi, Tây Ninh có công suất các nhà máy chiếm 54% tổng công suất của cả nước.
Chương trình đã góp phần đào tạo nên đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kỹ sư và
công nhân 15.000 người. Đi đào tạo nước ngoài 400 cán bộ quản lý, kỹ thuật và
13
công nhân. Tập huấn cho 56.000 lượt công nhân, công nhân nông nghiệp với tổng
chi phí 50 tỷ đồng.
1.2.2.2. Tình hình sản xuất mía đường từ 2000 đến nay
Từ năm 2000 trở lại đây, diện tích trồng mía trên cả nước giảm dần (bảng
1.5) do không cạnh tranh nổi với một số cây trồng có thu nhập cao hơn khiến tình
trạng thiếu nguyên liệu thường xuyên xảy ra. Điển hình Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) là nơi có diện tích trồng mía lớn nhất cả nước với khoảng 60.000 ha,
giảm gần 10.000 ha so với các niên vụ trước, sản lượng mía nguyên liệu ước đạt 3,8
triệu tấn. Với 10 nhà máy đường trong vùng, tổng công suất ép mía lên đến 22.500
tấn/ngày, nếu cân đối thời gian sản xuất của các nhà máy thì số mía nguyên liệu trên
chỉ đủ dùng trong 5 - 6 tháng. Đó là chưa kể cả nước còn khoảng 30 nhà máy đường
nằm rải rác từ Bắc vào Nam, công suất bình quân 2.644 tấn mía cây/ngày, nhưng
hoạt động chỉ đạt hơn 60% so với công suất thiết kế.
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2000 đến 2009
Năm
Diện tích mía
(ha)
Sản lượng mía
(1.000 tấn)
Năng suất mía
(tấn/ha)
2000 302.300 15.040 49,8
Đồng bằng sông Cửu Long (Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng,
Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau)
56.838
Tổng cộng 242.413
(Nguồn: Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT: Báo cáo kết quả sản xuất nguyên
liệu mía vụ ép 2009 -2010 và kế hoạch, giải pháp phát triển nguyên liệu cho thời
gian tới, ngày 11/5/2010)
Theo số liệu trên thì mía được trồng hầu hết ở các địa phương cả nước, được
phân bố thành những vùng tập trung khác nhau. Trong đó, một số khu vực như Bắc
trung Bộ, Trung trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có diện tích lớn, tuy nhiên
nguồn nước tưới rất khó khăn, đặc biệt những năm gần đây do tình hình hạn hán
diễn ra gay gắt nguồn nước mặt khan hiếm hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng
suất, chất lượng của cây mía; khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên có 82.742 ha,
chiếm 34% diện tích của cả nước, mía giống cung cấp cho khu vực này được sản
xuất chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi; khu vực Đông Nam Bộ có diện tích 29.092 ha,
chiếm 12% diện tích cả nước, đây là khu vực sản xuất mía hàng hóa có truyền thống
từ thời Pháp, trong đó Tây Ninh là tỉnh phát triển mạnh, đã từng được người Pháp
đánh giá là “Thiên đường trồng mía ở Việt Nam”.
1.2.3. Tình hình sản xuất mía ở Cao Bằng
Vùng nguyên liệu mía của công ty mía đường Cao Bằng nằm ở 3 huyện
của tỉnh Cao Bằng: huyện Phục Hòa, Quảng Uyên và Thạch An với số hộ trồng
mía là 6.705 hộ và 32 xã (Thị trấn) tham gia trồng mía. Diện tích và sản lượng được
thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.7: Diện tích và sản lượng mía
qua 3 niên vụ (2010 - 2011, 2011 - 2012, 2012- 2013)
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
2010 – 2011 2.935,27 160.027
2011 – 2012 3.123,21 175.874
2012 – 2013 3.474,72 208.483
(Nguồn: Báo cáo tình hình nguồn mía nguyên liệu
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở khoa học về kinh tế hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất
mía nói riêng.
- Thực trạng sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Phi Hải,
huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất một số giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
mía của hộ nông dân trên địa bàn xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Chọn điểm
2.3.1.1. Lựa chọn huyện nghiên cứu
17
Dựa vào sự khác biệt về địa
hình Việt Nam được chia thành ba
miền với miền Bắc có cao nguyên và
vùng châu thổ sông Hồng, miền
Trung là phần đất thấp ven biển,
những cao nguyên theo dãy Trường
Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ
Cửu Long với 63 đơn vị hành chính
cấp trung ương.
Vùng Đông Bắc là vùng lãnh
thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng
sông Hồng, Việt Nam. Đây là vùng
núi và trung du với nhiều khối núi và
dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía
tây, được giới hạn bởi thung lũng
sông Hồng và thượng nguồn sông
Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá
granit, đá phiến và các cao nguyên đá
vôi. Thực chất, đây là rìa của cao
huyện năm 2013 là 1.156,46 ha.
Phi hải là một xã nằm ở phía
bắc của huyện Quảng Uyên và tổng
diện tích đất tự nhiên là 5.052,92 ha,
cách trung tâm huyện 6 km. Theo niên
giám thống kê của xã năm 2009 tổng
dân số của xã là 3.378 nhân khẩu với
781 hộ.
Xã có 3 dân tộc anh em cùng
sinh sống: Tày, Nùng, Mông.
Tày chiếm 83,6 %
Nùng chiếm 6,7 %
Mông chiếm 9,7 %
Xã có 24 xóm chia làm 5 thôn,
phân bố không đồng đều, nhìn chung
lao động trên địa bàn xã còn rất dồi dào.
Trong sản xuất nông nghiệp thời gian
nhàn rỗi còn rất lớn, do đó để sử dụng
lao động có hiệu quả, xã cần tập trung
phát triển các ngành nghề dịch vụ,
Hình 2.2: Bản đồ huyện Quảng Uyên
Và xã Phi Hải
tăng cường thâm canh tăng vụ tạo việc làm phụ để nâng cao thu nhập cho người
dân. Thương mại dịch vụ ở xã không có, xã không có chợ nên trao đổi mua bán đều
ở chợ huyện. Thu nhập bình quân khoảng 8.900.000 đồng/người/năm. Ngoài trồng
19
lúa và ngô ra người dân đã biết trồng thêm các cây khác như thuốc lá, mía để tăng
thêm thu nhập, mía là cây trồng được người dân trồng lâu năm nhưng diện tích
trồng còn ít và đã được chú trọng trồng nhiều trong mấy năm gần đây năm 2013
diện tích trồng mía là 55,07 ha tuy nhiên do sản xuất manh mún, nhỏ lẻ chưa áp
20
Xóm Bản Quản 1: Là xóm có
diện tích đất canh tác lớn nhất của toàn xã,
có hệ thống cây trồng đặc trưng ngoài hoa
màu còn trồng thêm các cây công nghiệp
ngắn ngày như mía, thuốc lá. Diện tích
mía chiếm tỷ lệ cao nhất 15 ha xóm này
đại diện cho trình độ thâm canh tiên tiến
nhất trong xã.
Xóm Lũng Búng: Diện tích canh
tác nông nghiệp của xóm khá lớn so với
tổng diện tích đất nông nghiệp, với hệ
thống cây trồng phong phú và đa dạng.
Do vậy, xóm Lũng Búng đại diện cho
vùng sản xuất hoa màu của xã. Diện tích
trồng mía của xóm là 8,18 ha đứng thứ
hai so với diện tích trồng mía toàn xã.
Trình độ canh tác ở đây đại diện cho
mức trung bình của xã.
Xóm Bó Lạ: Là xóm có có diện
tích đất manh mún nhiều, xóm này canh
tác mía nhiều thứ 3 với 7,39 ha.
Hình 2.3: Bản đồ vị trí của 3 xóm điều tra
Như vậy, căn cứ vào nội dung, yêu cầu của đề tài việc lựa chọn các xóm điều
tra nghiên cứu trên có thể đảm bảo được tính đại diện.
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
2.3.2.1. Thông tin thứ cấp
Thu thập thông tin số liệu công bố của UBND xã Phi Hải, phòng địa chính, cán bộ
dân số, báo cáo tổng kết của trạm khuyến nông, phòng thống kê xã gồm:
- Số liệu về điều kiện tự nhiên.
Hộ khá
n = 4
Hộ trung
bình
n = 34
Hộ cận
nghèo
n = 9
Hộ
nghèo
n = 7
1
Bản Quản
1
19 8.9% 71,1% 8.9% 12%
2
Lũng
Búng
28 3,57% 66,93% 23,8% 5,7%
3 Bó Lạ 7 14,29% 56,81% 14% 14,9%
(Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả)
STT Xóm
Tổng số hộ
trồng mía
của xóm
Phần trăm tổng
số hộ (%)
Số mẫu hộ
Điều tra
1 Bản Quản 1 56 35,44 19
con đường trong xóm, xã, sau khi đi và được các bác chỉ dẫn cho chúng ta có thể
biết và xác định rõ được địa hình, đất đai, động thực vật, cây trồng…ở đó và từ đó
có thể đưa ra được các thuận lợi, khó khăn và những giải pháp cho xã.
2.3.3. Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu
Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính
bằng phần mềm excel để tiến hành tổng hợp, xử lý.
2.3.4. Phương pháp phân tích thông tin
2.3.4.1. Phương pháp thống kê kinh tế
Là phương pháp mô tả toàn bộ sự vật hiện tượng trên cơ sở số liệu đã được
tính toán. Phương pháp này được thể hiện thông qua số bình quân.
23
2.3.4.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để phân tích các hiện tượng kinh tế
xã hội. Sử dụng phương pháp này để so sánh tình hình sản xuất giữa các năm trên
địa bàn xã Phi Hải; so sánh thu nhập hộ; so sánh hiệu quả kinh tế của cây mía với
loại cây trồng khác.
So sánh các mẫu điều tra với nhau, so sánh các mô hình sản xuất với nhau,
hay so sánh các mẫu, các mô hình sản xuất ấy với các mẫu, các mô hình sản xuất
khác ở bên ngoài để thấy được các mặt mạnh, các lợi thế của những chủ thể đang
nghiên cứu, cũng như tìm ra được các mặt còn hạn chế thua kém. Từ đó đi sâu vào
phân tích để tìm hiểu rõ nguyên nhân tại sao lại tồn tại những khó khăn ấy, tại sao
lại có các hạn chế đó. Tại sao vẫn cùng là một ngành sản xuất mà người khác làm
rất hiệu quả nhưng mình thì lại không. Sau khi đã xác định được như vậy thì sẽ dễ
dàng hơn trong việc đưa ra các giải pháp cụ thể, các định hướng phát triển tốt hơn.
Sơ đồ 2.1: Phương pháp nghiên cứu
(Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả)
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất mía của các hộ điều tra
- Diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân/hộ
- Mức đầu tư vốn cố định, vốn lưu động cho sản xuất và một số đơn vị diện
kiện tự nhiên.
- Số liệu về điều
kiện kinh tế xã hội.
- Các số liệu về tổng
diện tích, năng suất,
sản lượng mía hàng
năm
- Dân số trên địa
bàn xã.
- Báo cáo công tác
khuyến nông, kế
hoạch khuyến nông
trong năm tới.
Xây dựng
bảng hỏi
Thiết kế mẫu
Và lấy mẫu
Điều tra hộ
- GO: Toàn bộ giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu được trên
1ĐVDT ( đơn vị diện tích) canh tác trong một chu kỳ sản xuất. Hay GO chính là giá
trị sản xuất bình quân/ĐVDT canh tác.
∑
=
=
n
i
QiPiGO
1
Trong đó:
Qi: Khối lượng sản phẩm loại i xuất ra tính trên một ĐVDT canh tác.
25