Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Lê Lai – huyện Thạch An – tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG QÚY NHÂN Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LÊ LAI,
HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa học : 2010 - 2014 Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Đỗ
Hoàng Sơn, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân xã Lê Lai và
các hộ dân tại đây đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và kiểm nghiệm
kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông
hộ trên địa bàn xã Lê Lai – huyện Thạch An – tỉnh Cao Bằng”.

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2014
Sinh viên Hoàng Quý Nhân
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1

1. Tính cấp thiết của đề tài 1

2. Mục tiêu nghiên cứu 4

3. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 5

4. Bố cục của khoá luận 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1. Cơ sở lí luận 6

1.1.1. Khái niệm về hộ và kinh tế nông hộ 6


2.3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24

2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 24

2.4.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 24

2.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ 25

2.4.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính 25

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1. Khái quát về địa bàn xã Lê Lai 27

3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 27

3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 32

3.1.3. Điều kiện hạ tầng cơ sở 36

3.1.4. Đánh giá chung về điều kiện xã Lê Lai 40

3.2. Khái quát về phát triển kinh tế nông hộ tại xã Lê Lai 42

3.2.1. Các chính sách, chương trình dự án có liên quan đến phát triển kinh tế 42

3.2.2. Đặc điểm cơ bản của các nhóm kinh tế nông hộ tại các địa bàn xã
Lê Lai 43
3.2.3. Các dạng mô hình kinh tế nông hộ chủ yếu tại địa phương 44

3.5.4. Lao động 72

3.5.5. Về thị trường 73

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LÊ LAI 74

4.1. Định hướng phát triển kinh tế hộ tại xã Lê lai 74

4.1.1. Định hướng trong quy hoạch đất 74

4.1.2. Định hướng phát triển kinh tế hộ theo hệ thống 74

4.1.3. Tổ chức sản xuất có hiệu quả 75

4.2. Một số giải pháp cho phát triển kinh tế nông hộ 76

4.2.1. Những giải pháp chung 76

4.2.2. Những giải pháp cụ thể 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

1. Kết luận 81

2. Kiến nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHIẾU ĐIỀU TRA 35

Bảng 3.13: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của
nhóm hộ điều tra năm 2013 56

Bảng 3.14: Kết quả sản xuất một số cây trồng chính của các nhóm hộ điều
tra năm 2013 57

Bảng 3.15: Kết quả sản xuất của một số vật nuôi chính của các nhóm hộ
điều tra năm 2013 59

Bảng 3.16 : Chi phí cho 1 sào lúa của chủ hộ năm 2013 60

Bảng 3.17: Bảng chi phí cho 1 sào ngô của chủ hộ năm 2013 62

Bảng 3.18 : Chi phí cho chăn nuôi lợn đến khi xuất chuồng 64

Bảng 3.19: Chi phí chăn nuôi gà của hộ năm 2013 68DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện giá trị sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm
2011- 2013 36

Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện số lao động và nhân khẩu bình quân trên hộ
năm 2013 50

Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra
năm 2013 52

Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng vốn của nhóm hộ điều tra

SX - KD Sản xuất kinh doanh
UBND Ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó càng trở nên quan trọng đối với một
quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc
trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước Việt Nam ta [2].
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng
triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất
khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). GDP trong lĩnh vực nông
nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%; thu nhập và đời sống nhân dân ngày
càng cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ
mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh, trình độ văn hoá, khoa học, kỹ
thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước.
Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.690,72 km², chiếm 2,12% diện tích cả
nước. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường
biên giới dài 311 km, phía Tây giáp tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía
Nam giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn. Là tỉnh miền núi
vùng cao biên giới, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả
nước nhưng Cao Bằng lại có ba cửa khẩu là Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà.
Đây là lợi thế quan trọng, tạo điều kiện cho tỉnh giao lưu kinh tế với bên
ngoài, nhất là Trung Quốc. Địa hình Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp,
hình thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái: Tiểu vùng núi đá vôi ở phía bắc và
đông bắc chiếm 32%, tiểu vùng núi đất ở phía tây và tây nam chiếm 18% tiểu
vùng núi đất thuộc thượng nguồn sông Hiến chiếm 38%, tiểu vùng bồn địa thị

o
50’ vĩ độ bắc và 22
o
20 –
22
o
50’ độ kinh đông. Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính cấp xã gồm 15 xã và
01 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên theo ranh giới hành chính là 69.079,56
ha. Huyện Thạch An có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế -
xã hội, khoa học kỹ thuật với trung tâm tỉnh Cao Bằng và các huyện trong tỉnh,
lưu thông với các tỉnh bạn (Lạng Sơn, Bắc Kạn) và nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa qua cửa khẩu Đức Long. Kinh tế nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất
chính của huyện, là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân cư trong huyện. 3
Trong những năm qua, nông nghiệp vẫn là ngành được đầu tư lớn về cả cơ sở
vật chất lẫn khoa học kỹ thuật, trong những năm gần đây ngành nông nghiệp đã
có những bước tăng trưởng tương đối ấn tượng [16].
Sản lượng lương thực có hạt (lúa, ngô, lạc, đậu tương ) là cây sản
xuất chủ lực đảm bảo an ninh lương thực cho nhân dân trong huyện. Nhờ
có biện pháp thâm canh, xen canh hợp lý, trong những năm qua, diện tích
và sản lượng lương thực có hạt không ngừng tăng lên.
Ngoài ra, tùy theo điều kiện địa hình và khí hậu của các xã phù hợp
với các loại cây khác nhau, người dân trong huyện còn trồng các loại cây khác
như: Thạch đen, mía, sắn, hồi, cây ăn quả để tăng thu nhập.
Chăn nuôi cũng là ngành sản xuất đem lại thu nhập chính cho đại bộ
phận nhân dân trong huyện, gia súc phổ biến là lợn thịt, tuy nhiên người dân
chăn nuôi với quy mô nhỏ lẻ nên ngành có sự tăng trưởng khá nhưng chưa
đồng đều và chưa vững chắc.

hộ tại xã Lê Lai. Phân tích cụ thể những tiềm năng, những thành công và
những hạn chế trong quá trình kinh tế nông hộ làm nền tảng cho việc đề xuất
những giải pháp phát triển có hiệu quả, bền vững kinh tế hộ tại địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn
nghiên cứu.
- Khái quát về phát triển kinh tế nông hộ tại địa phương.
- Thực trạng tình hình sản xuất của các hộ điều tra.
- Kết quả nghiên cứu một số mô hình điển hình.
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ
tại địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp chung nhằm phát triển kinh tế nông hộ
tại địa phương. 5
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
3.1. Trong học tập
Giúp cho bản thân tôi có những kiến thức hiểu biết cần thiết về tình
hình phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã. Có cách đánh giá nhìn nhận
bao quát về tình hình phát triển của địa phương.
Giúp cho tôi có sự liên hệ giữa lý thuyết và thực tế, củng cố kiến thức đã
được học, được nghiên cứu. Rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho bản thân.
Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế
cho công tác sau này.
Vận dụng và phát huy được kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
3.2. Trong thực tiễn
Nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội xã Lê Lai từ đó đưa ra các số

quá trình phát triển” ở một số nước Châu á đã nêu lên rằng: “Ở các nước
Châu á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết
tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một
mâm cơm và có chung một ngân quỹ” [13].
1.1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình
làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong
hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục
bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn
hảo cao" [6].
V.I.Lênin cho rằng: “cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của
họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết 7
với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của chính họ” [3].
Hayami và Kikuchi (1981) nghiên cứu sự thay đổi của kinh tế nông
thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng,
lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật,
nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng.
Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển
nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit
phân tích (Roemer - 1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp
cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong
thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân. Mối quan hệ
đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển
thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc
luân chuyển. Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải

kinh tế xã hội.
1.1.2. Vai trò của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát
triển. Trải qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế nông hộ biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm
quan trọng và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nông hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó trước tiên giúp
nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Kinh tế nông hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới
công nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng
là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng
hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo 9
ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ
trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời [7].
1.1.3. Đặc trưng của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế hộ
nông dân và kinh tế nông hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết
thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm
chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau
dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản,
quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích
về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
- Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân
công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là
người trực tiếp lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi,

sản xuất hàng hóa, nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư phát triển loại
hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
Trên đây là các nhóm hộ thuần nông. Các hộ có thu nhập chủ yếu từ
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Đặc trưng của hộ này là chịu ảnh hưởng lớn
của điều kiện tự nhiên.
Ngoài loại hộ thuần nông còn có nhóm hộ kiêm ngành nghề, dịch vụ:
Đây là loại hộ ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn biết tận dụng những cái có
sẵn của ông cha để lại như: Các ngành nghề truyền thống được kế thừa từ đời
này sang đời khác nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và tận dụng lao động
lúc nông nhàn ở nông thôn. Vì vậy loại hộ này có vốn để đầu tư cho sản xuất
kinh doanh và các kiến thức về thị trường. 11
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ
1.1.5.1. Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai:
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự
phát triển của kinh tế nông hộ. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như:
Gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường
tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có
điều kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp. Đất đai là yếu tố
quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ
gắn liền với ruộng đất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay
thế trong quá trình sản xuất. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất
nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới
số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái:
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều

Công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện
pháp kỹ thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử
dụng công cụ phù hợp. Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản
xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao trong
sản xuất. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản
phẩm tốt hơn. Do đó, công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và
hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ.
- Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm:
Đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang
thiết bị nông nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển
sản xuất của kinh tế nông hộ, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát
triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ
được ổn định và cải thiện. 13
- Thị trường:
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với số
lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế
thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị
trường cần trong điều kiện sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế nông hộ mới có
điều kiện phát triển.
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất
kinh doanh:
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá, các hộ
nông dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn,
kỹ thuật và giúp nhau tiêu thụ sản phẩm. Nhờ có các hình thức liên kết,
hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây

Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ, có
thể khẳng định: Hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh
tế cần phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản
xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu
tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt
động có hiệu quả.
1.2. Cơ sở thực tiến
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trên thế giới
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng. và phát triển kinh tế của các
nước nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, trang trại, nông thôn đã có
nhiều kinh nghiệm quý báu để chúng ta học tập.
- Thái Lan: Một nước trong khu vực Đông Nam châu Á, Chính phủ Thái
Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành nước có
nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển 15
kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến năm 1980). Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ
sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt,
phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông Bắc, Nam ), đầu tư xây dựng đập nước
ở các vùng. Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hoá sản
phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng
núi phía Đông Bắc. Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hoá chế biên nông sản để
xuất khẩu như ngô, sắn sang các thị trường châu Âu và Nhật Bản. Thứ tư: Thực
hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh
vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho
nông dân như: Cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông
dân và cam kết mua sản phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác
đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Hàng
năm có 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra.

mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu "ly nông bất ly hương". Các cơ quan khoa
học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo giống mới cho nông dân
và họ không phải trả tiền [8].
- Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực
đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của Trung Quốc
trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao. Nguyên nhân của
thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng,
tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng
trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, mở rộng sản xuất
lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng,
vật nuôi, cây con vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông [17].

Trích đoạn Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số địa phương ở Việt Nam Các bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế nông hộ Phương pháp thu thập số liệu Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ Các chính sách, chương trình dự án có liên quan đến phát triển kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status