ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ NGA
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TẠI ĐỊA BÀN
XÃ NÔNG THƯỢNG – THỊ XÃ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Lớp : K42 – KTNN N02
Khóa học : 2010 – 2014
Lớp : K42 – KTNN N02
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Cù Ngọc Bắc Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm Khoa Kinh Tế & PTNT, tôi đã tiến hành khóa luận tốt nghiệp:
“Nghiên
c
ứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế
nông hộ tại đị
a bàn xã Nông Thượng – thị xã Bắc Kạn – tỉnh Bắc Kạn”.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm Khoa cùng quý Thầy, Cô trong Khoa Kinh Tế & PTNT - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm
học tập, một hành trang quý báu để tôi tự tin bước vào cuộc sống.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy
giáo Ths. Cù Ngọc Bắc, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Lãnh đạo xã Nông Thượng ,
cùng cán bộ công nhân viên, bà con nhân dân của xã đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong quá trình thực tập thu thập số liệu tại địa phương.
Bảng 3.7. Một số thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 34
Bảng 3.8. Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra 37
Bảng 3.9. Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra 38
Bảng 3.10: Điều kiện về vốn của nhóm hộ điều tra 39
Bảng 3.11: Tình hình trang bị công cụ sản xuất của các nông hộ 40
Bảng 3.12. Chi phí cho ngành trồng trọt theo nhóm hộ 42
Bảng 3.13. Chi phí bình quân cho ngành chăn nuôi theo nhóm hộ 44
Bảng 3.14. Chi phí cho ngành lâm nghiệp của nhóm hộ TT – CN – LN 45
Bảng 3.15. Chi tiết thu nhập từ trồng trọt theo nhóm hộ của nhóm hộ điều tra 46
Bảng 3.16. Chi tiết thu nhập từ chăn nuôi theo nhóm hộ của nhóm hộ điều tra 48
Bảng 3.17. Thu nhập BQ ngành lâm nghiệp của nhóm hộ TT – CN – LN 49
Bảng 3.18. Thu nhập bình quân của hộ/năm 50
27 DS – KHHGĐ Dân số – kế hoạch hóa gia đình
28 KH Kế hoạch
29 Ha Hécta
30 Kg Kilogam
31 Đ Đồng
32 STT Số thứ tự MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết 1
2.Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
2.1.
Mục tiêu chung 2
2.2.
Mục tiêu cụ thể 2
1.1.1.5.1.
Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tư nhiên 9
1.1.1.5.2.
Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức quản lý 10
1.1.1.5.3.
Nhóm nhân tố thuộc khoa học và công nghệ 11
1.2.
Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân trên thế giới 12
1.2.2.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở trong nước 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 16
2.1.
Đối tượng nghiên cứu 16
2.5.2. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1.
Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Nông Thượng 21
3.1.1.
Điều kiện tự nhiên 21
3.1.2.
Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội chung của xã Nông Thượng 24
3.2.
Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Nông Thượng 28
3.2.1.
Đặc điểm kinh tế nông nghiệp của xã Nông Thượng 28
3.2.3.
Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi của xã 30
3.3.
Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên 51
3.4.2.
Nhóm nhân tố về nguồn lực 51
3.4.3.
Dịch bệnh 53
3.4.4.
Vốn đầu tư cho sản xuất 54
3.4.5.
Về thị trường 55
3.4.6.
Về khoa học công nghệ 56
3.4.7.
Về cơ sở hạ tầng 56
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NÔNG THƯỢNG 57
Đối với địa phương 63
4.3.3.
Đối với hộ nông dân 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 671
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó càng trở nên quan trọng đối với
một quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm
việc trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước Việt Nam ta.
Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn,
kinh tế hộ gia đình giữ vai trò quan trọng không thể thiếu. Nó là đơn vị kinh
tế đặc thù và phù hợp với thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta
hiện nay. Trong những năm qua, cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu
tổ chức quản lý kinh tế của Nhà nước, kinh tế hộ được coi trọng và nó đã thúc
đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta, đưa nước ta từ chỗ thiếu
lương thực thực phẩm trở thành nước có khối lượng gạo xuất khẩu đứng thứ
Kạn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân của xã
Nông Thượng – thị xã Bắc Kạn – tỉnh Bắc Kạn, từ đó tìm hiểu được những
thuận lợi và khó khăn của người dân tại địa bàn, đề ra các định hướng giải
pháp khắc phục và đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế
hộ nông dân tại địa phương phát triển.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về phát
triển kinh tế hộ, từ đó giúp ta hiểu rõ và đầy đủ hơn về quan điểm, chính sách
của Đảng và Nhà nước.
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Nông Thượng, tác
động của điều kiện này đến quá trình sản xuất của hộ nông dân.
- Tìm hiểu thực trạng kinh tế nông hộ của địa phương nghiên cứu và tìm ra
những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ ở địa bàn nghiên cứu.
3
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất kinh tế nông hộ
nhằm nâng cao chất lượng đời sống tại địa bàn nghiên cứu.
3. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học
+ Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại
cơ sở.
+ Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin,kỹ năng nghề nghiệp.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo, địa
phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp
rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[6].
Khái niệm về hộ
Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan điểm của các nhà khoa học về hộ:
+ Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ:“Hộ là tất cả
những người cùng chung sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm
những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”.
+ Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng chung sống dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Khái niệm về hộ nông dân
Theo Frank Ellis:“Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự
kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của
gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ
yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt
động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
Theo “Kinh tế hộ nông dân” xuất bản năm 2000 của TS. Đỗ Văn Viện
và Th.S Đặng Văn Tiến thì: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế
5
cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai,
lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản
xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong
sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ
trợ và tạo điều kiện để phát triển”.
Khái niệm về kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất
chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của
loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không
khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn Huân, 1993)[7].
1.1.3. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế
hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết
thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm
chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Về mặt kinh tế:
Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa trên những quan
hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ phân phối các
nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích về kinh tế cho nên trong
gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
- Về quản lý phân công lao động:
Trong nông hộ việc quản lý và phân công lao động khác hẳn với các
ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp lao động. Do đó
việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người hiểu nhau về
năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong nông hộ
cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy
mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức
kinh doanh nào có được.
- Về tài sản và tư liệu sản xuất:
7
Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử dụng chung mọi tài sản phục
vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người đều hiểu rõ tính chất giá
trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo quản cao nhất. Bởi vì
chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình (Chu Cao Vũ,1995)[4].
1.1.4. Phân loại hộ nông dân
nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể
tự cấp, tự túc sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào: khả năng mở rộng diện
tích đất đai; có thị trường lao động để họ tự bán sức lao động để có thu
nhập; có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi; có thị trường sản phẩm
để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
+ Hộ bắt đầu có phản ứng với thị trường:
Loại hộ này gọi là “nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh
ghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn
lại nhiều và vẫn quyết định cách thức sản xuất của hộ. Ở đây hộ có phản
ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp.
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu:
Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có
phản ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Căn cứ theo tính chất ngành sản xuất, hộ nông dân được chia thành:
+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp.
+ Nông hộ kiêm: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu
thủ công nghiệp.
+ Nông hộ chuyên: là loại nông hộ chuyên làm các ngành nghề như
cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ
nghệ, may, dệt, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
+ Nông hộ buôn bán: có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ hoặc các
nơi đông dân cư. Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi
khi điều kiện cho phép.
Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm:
+ Hộ giàu
9
+ Hộ khá
cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn
đến hiệu quả sản xuất thấp kém.
1.1.1.5.2. Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ
yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát
triển kinh tế hộ nông dân nói riêng.
a. Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp
thu những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.
Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới
mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang
lại lợi nhuận cao. Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất
của một người dám làm kinh doanh (Phạm Vân Đình,1998)[9].
b. Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều
kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng
như thuê nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu,
là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
c. Công cụ lao động
Công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện
pháp kỹ thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử
dụng công cụ phù hợp. Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản
xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao trong
sản xuất. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản
phẩm tốt hơn. Do đó, công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và
hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ.
11
phát triển kinh tế nông hộ.
12
b. Ứng dụng tiến bộ hoa học – công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học
kỹ thuật, vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng
tốt. Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống,
công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận
những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có
công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy
móc và thời tiết khí hậu kinh tế kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông
nghiệp. Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông
nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những
tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi hẳn bằng sản xuất hàng hoá.
1.1.1.5.4. Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ
giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn,
giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế
mới Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ
và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào sản xuất
nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế.
Tóm lại, từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có
thể khẳng định: Hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần
phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy
mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ
thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả.
cũng chú trọng việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó một vài năm
gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao và ổn định.
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước
trong khu vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta. Qua việc tìm hiểu,
xem xét những kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý
giá, đồng thời xác định được sự khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội riêng của
nước mình để đưa ra những chủ trương, đường lối phát triển sao cho phù hợp.
14
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở trong nước
1.2.2.1. Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
- Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này tuyệt đại bộ phận nông dân
đi làm thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ
theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ.
- Từ năm 1995 – 1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng
và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách cải cách ruộng đất với mục đích:
“Người cày có ruộng”. Chính nhờ cải cách ruộng đất, cùng với công tác
khuyến nông đã làm cho kinh tế nông hộ có điều kiện để phát triển.
- Từ năm 1960 – 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách
ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, song đây cũng chính là lúc tập
thể bộc lộ rõ tính yếu kém của mình, thời kỳ này kinh tế hộ không được coi
trọng. Đây là thời kỳ xuống dốc của nền nông nghiệp nước ta.
- Từ năm 1981 – 1987: Chỉ thị 100CT/W được Ban bí thư Trung ương
Đảng ban hành quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến
nhóm và người lao động, đời sống nông dân phần nào được cải thiện, tích lũy
cho hợp tác xã. Đây có thể nói là bước khởi đầu cho sự đổi mới.
- Từ năm 1988 đến nay: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính trị và Ban chấp hành
sử dụng đất, sẽ chuyển lao động sang các ngành nghề phi nông nghiệp, hoặc
đi làm thuê. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn là sự hình thành các dịch vụ kinh tế kỹ thuật, phục vụ cho nghề
nông thương phẩm và đời sống của dân cư nông thôn. Đây là quá trình kinh
doanh tách khỏi ruộng đất.
16 CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế nông hộ.
- Các nông hộ thuộc địa bàn xã Nông Thượng – thị xã Bắc Kạn – tỉnh
Bắc Kạn.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu tình hình kinh tế của các nông hộ trong
phạm vi xã Nông Thượng thị xã Bắc Kạn tỉnh Bắc Kạn. Cụ thể điều tra tại 3
xóm Nà Diểu, Nà Vịt và Nà Choong.
- Về thời gian: Trong quá trình thực hiện, các tài liệu được thu trong
giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm kinh tế chung và kinh tế nông hộ của địa
phương.
- Nghiên cứu thực trạng về kinh tế nông hộ trên địa phương.
gian, công sức và chi phí. Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu ta có thể
rút ra được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó.
- Chọn địa điểm nghiên cứu
Căn cứ vào tình hình cụ thể của xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn, tỉnh
Bắc Kạn, chọn 3 thôn đại diện cho 3 vùng nghiên cứu là thôn Nà Diểu, Nà
Choong và Nà Vịt. Trong đó:
+ Thôn Nà Choong đại diện cho các nông hộ có kinh tế phát triển nhất
của xã với các loại hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp.
+ ThônNà Vịt có mức sống trung bình và phát triển chủ yếu là chăn nuôi
và trồng trọt.
+ Thôn Nà Diểu là thôn cách xa trung tâm xã, điều kiện sản xuất khó
khăn nên kinh tế kém phát triển, loại hình sản xuất chủ yếu là trồng trọt.