Article I. PHẦN 1
Article II. MỞ ĐẦU
Section II.1
Section II.2 1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây sắn đã từng được xem là một loại cây lương thực quan trọng cho
một bộ phận nông dân Việt Nam [6]. Nhân dân ta trồng sắn đã từ nhiều
năm nay, sắn là cây lương thực của cư dân nhiều vùng, nhất là các vùng đồi
trung du và miền núi. Tuy nhiên, hiện nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, cây sắn đã và đang đóng những vai trò rất quan trọng.
Trong những năm gần đây quan niệm đối với cây sắn đã có những thay đổi.
Một số người cho rằng cây sắn là cây mang lại nhiều lợi ích và đang có
nhiều hứa hẹn [1]. Sắn không chỉ là một loại cây lương thực, cây thực
phẩm mà còn là cây công nghiệp để tạo ra các sản phẩm như: cồn, đường,
bột ngọt, tinh bột…
Cùng với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn. Trong nhiều năm qua nhiều tỉnh miền trung đã tiến hành
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản
xuất hàng hóa, hình thành những vùng nguyên liệu công nghiệp, sản xuất
chuyên canh gắn với nhà máy chế biến nông sản [7]. Đưa nông nghiệp
nông thôn phát triển, từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, xóa đói
giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của người dân.
Tuy nhiên, cũng có một số người cho rằng cây sắn là loại cây có nhiều
nhược điểm và chủ trương không nên mở rộng việc trồng sắn [1]. Họ cho
rằng sắn là cây làm kiệt đất, làm tăng rửa trôi, xói mòn đất ở các sườn dốc.
Giá trị dinh dưỡng của sắn không cao vì nghèo protein và vitamin. Hiện
nay, ở một số nước Nam Mĩ, Châu Phi, Nam Á nhiều nhà khoa học đang
chú ý đến việc nghiên cứu cây sắn trên cả các phương diện trồng trọt, thâm
canh cũng như trên các phương diện nông nghiệp chế biến [1]. Ở một số
nước nạn đói đang là mối đe dọa hầu như thường xuyên đối với dân cư.
Người ta chú trọng phát triển cây sắn là loại cây có thể sinh trưởng tốt trên
các loại đất nghèo kiệt, là loại cây cho năng suất tương đối ổn định trong
triển sản xuất sắn trên địa bàn xã Thọ Sơn.
2
Article V. PHẦN 2
Article VI. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Section VI.1 2.1. Cơ sở lý luận
(a) 2.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Trong cơ chế thị trường một vấn đề luôn được các nhà sản xuất quan
tâm hàng đầu là hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất
là điều kiện để tích lũy và tái đầu tư mở rộng, là động lực thúc đẩy việc mở
rộng sản xuất kinh doanh. Hay nói một cách khác nó chính là yếu tố sống
còn của không riêng bất cứ nhà sản xuất nào.
Chính vì vậy hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của
mỗi nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp mà còn là của toàn xã hội. Hiệu quả
kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, là
thước đo trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Nâng
cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường lợi dụng các nguồn
lực sẵn có trong một hoạt động kinh tế. Đây là đòi hỏi khách quan trong
nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc sống con người tăng lên
trong khi nguồn lực có hạn, chỉ có như vậy thì doanh nghiệp mới có điều
kiện mở rộng và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo
tiến sỹ Nguyễn Tiến Mạnh: Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một
quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực (nhân lự, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định.
Quan điểm này được đánh giá tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực
ở mọi điều kiện của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn
có thể tính toán được hiệu quả kinh tế. Trong hiệu quả kinh tế sự vận động
và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế không phụ thuộc vào
quy mô và tốc độ biến đổi khác nhau của chúng [4].
Theo tác giả Hồ Vĩnh Đào: Hiệu quả kinh tế còn gọi là “hiệu ích kinh
doanh đến các yếu tố xã hội. Một trong những yếu tố quan trọng là khả năng
giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương. Tác động đến cơ cấu
lao động, sự di cư. Thông qua đó có những tác động tích cực hay tiêu cực để
đánh giá phù hợp với tình hình sản xuất. Ở đây đi xem xét hoạt động trồng
sắn có tác động như thế nào đến khả năng tạo công ăn việc làm.
4
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết
quả đạt được ở cả hai mặt kinh tế và xã hội. Mục tiêu cuối cùng của phát
triển kinh tế là phát triển xã hội. Vì thế hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, khi nói đến hiệu quả kinh tế
chúng ta cần phải hiểu trên quan điểm kinh tế-xã hội.
Qua nội dung đã trình bày trên ta có thể kết luận rằng:
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất,
nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh phản ánh tương
quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Là chỉ
tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố sản xuất, kinh
doanh nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu. Tùy vào mục đích
đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau
như năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản
phẩm, lợi nhuận so với vốn… Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanh
lợi thu được so với tổng vốn bỏ ra [1].
Article VII. 2.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản
xuất:
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ
được hộ nông dân sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một
năm). Đây là chỉ tiêu tổng hợp nói lên quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuất
kinh doanh của nông hộ.
GO = Qi*Pi
Trong đó : Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i
thể tính toán toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chi phí. Thông thường chi phí bỏ
ra được tính là tổng chi phí, tổng chi phí trung gian.
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi
phí bỏ ra. Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượng
giữa kết quả và chi phí sản xuất. Ta có công thức: H = Q/C
Trong đó:
H: hiệu quả kinh tế
Q: kết quả thu được
C: chi phí bỏ ra
6
(a) Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn
lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết
quả. Điều này cho phép chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.
Article IX. 2.2. Cơ sở thực tiễn.
Article X. 2.2.1. Vị trí kinh tế của cây sắn
Article XI. 2.2.1.1. Giá trị sử dụng
Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức
ăn gia súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn được dùng để chế biến tinh
bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc
từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp
như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ
nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh
tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm. Củ
sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân sắn dùng
để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun.
Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm. Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm,
nuôi cá. Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,…
Hiện tại, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi
thương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991)
2.2.1.2. Lợi ích của trồng sắn:
Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng
theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như Lào, Papua
New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang
nghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol (TTTA. Outlook for 2009) [3]
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia
tăng từ năm 1995 đến nay. Sản lượng sắn thế giới năm 2006/07 đạt 226,34
triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu
tấn. Năm 2008, sản lượng sắn thế giới đạt 238,45 triệu tấn củ tươi so với
223,75 triệu tấn. Nước có sản lượng sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria
(45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92
triệu tấn). Việt Nam đứng thứ mười trên thế giới về sản lượng sắn (7,71
triệu tấn). Nước có năng suất sắn cao nhất hiện nay là Ấn Độ (31,43
tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân
của thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008).
8
Trên thế giới, sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ để
làm lương thực- thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán. Sắn chủ yếu trồng
trên đất nghèo và dùng kỹ thuật canh tác truyền thống.
Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm.
Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương
thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11 %),
còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn
viên và tinh bột (CIAT, 1993). Nhu cầu sắn làm thức ăn gia súc trên toàn
cầu đang giữ mức độ ổn định trong năm 2006 (FAO, 2007).
Sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực ở châu Phi, bình quân
khoảng 96 kg/người/năm. Zaire là nước sử dụng sắn nhiếu nhất với 391
kg/người/năm (hoặc 1123 calori/ngày). Nhu cầu sắn làm lương thực chủ
yếu tại vùng Saharan châu Phi cả hai dạng củ tươi và sản phẩm chế biến
ước tính khoảng 115 triệu tấn, tăng hơn năm 2005 khoảng 1 triệu tấn.
Buôn bán sắn trên thế giới năm 2006 ước đạt 6,9 triệu tấn sản phẩm,
sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm
sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%.
Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn
tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 -
0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á,
đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng
thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía. Chiều
hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải
pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện
pháp kỹ thuật tiến bộ [2].
10
Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới
từ năm 1995 – 2008
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
1995 16,43 9,84 161,79
1996 16,25 9,75 158,51
1997 16,05 10,06 161,60
1998 16,56 9,90 164,10
1999 16,56 10,31 170,92
2000 16,86 10,70 177,89
2001 17,17 10,73 184,36
2002 17,31 10,61 183,82
2003 17,59 10,79 189,99
2004 18,51 10,94 202,64
2005 18,69 10,87 203,34
nhưng năng suất bình quân chỉ đạt 15,7 tấn/ha, tổng sản lượng 2,35 triệu
tấn, thấp hơn rất nhiều so với năng suất và sản lượng sắn của vùng Đông
Nam Bộ (23,74 tấn/ha và 2,69 triệu tấn) (Tổng cục thống kê, 2009).
Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam
giai đoạn 1995 – 2008
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
1995 164,30 9,84 1,62
1996 275,60 7,50 2,06
1997 254,40 9,45 2,40
1998 235,50 7,55 1,77
1999 226,80 7,96 1,80
2000 234,90 8,66 2,03
2001 250,00 8,30 2,07
2002 329,90 12,60 4,15
2003 371,70 14,06 5,23
2004 370,00 14,49 5,36
2005 425,50 15,78 6,72
2006 474,80 16,25 7,77
2007 496,80 16,07 7,98
2008 557,40 16,85 9,30
(Nguồn: Trần Công Khanh tổng hợp từ Niên giám thống kê qua các năm).
12
Bảng 3. Diện tích, năng suất và sản lượng của các vùng sinh thái Việt
Nam năm 2008
Vùng sinh thái Diện tích
Tháng Hàm lượng tinh bột(%)
Năm 1994 Năm 1995 Năm 1996 Năm 1997 Trung bình
Tháng 1 27,8 28,2 28,2 26,4 27,5
Tháng 2 28,8 29,3 29,3 26,5 28,2
Tháng 3 28,4 28,9 28,9 26,9 28,1
Tháng 4 22,1 24,3 24,3 25,1 23,8
Tháng 5 18,3 20,8 20,8 22,7 20,6
Tháng 6 - - - 21,7 21,7
Tháng 7 - - - - -
Tháng 8 - - - - -
Tháng 9 21,0 22,9 22,9 22,1 22,0
Tháng 10 21,5 22,8 22,8 25,3 23,2
Tháng 11 23,3 24,1 24,1 26,6 25,0
Tháng 12 24,8 24,3 24,3 28,6 26,2
(Nguồn: Hoàng Kim, Trần Công Khanh
và Diệp Phương Điền, 1998)
Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia súc
(22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi.
Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trong
nước. Sắn là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn
liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm,
màng phủ sinh học và chất giữ ẩm cho đất. Toàn quốc hiện có trên 60 nhà
máy chế biến tinh bột sắn với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củ
tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác tại hầu hết các tỉnh
trồng sắn. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800.000 – 1.200.000
tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong
nước. Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và
bột sắn.
Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam
tầm nhìn đến năm 2020. Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản
liệu là sự sống còn của nhà máy) [6].
15
Article XV. 2.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thị sắn tỉnh Nghệ An
Trước 2002, cây sắn được trồng chủ yếu theo kiểu tự phát, quảng
canh, diện tích manh mún nhỏ lẻ, củ sắn chủ yếu ăn tươi và cắt lát phơi khô
dùng làm thức ăn gia súc. Đến thời điểm này, khi có quyết định của ủy ban
nhân dân tỉnh Nghệ An về việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm tăng giá
trị kinh tế của nông sản hàng hóa trên một đơn vị diện tích canh tác. Với
chủ trương này, ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt xây dựng vùng nguyên
liệu sắn công nghiệp, từ đó diện tích, năng suất và sản lượng có sự thay đổi
đáng kể, từ 11600 ha(2006) lên 17100 ha(2008), tăng 47,4%.
Cùng việc phát triển cây sắn tập trung trên diện tích lớn, tháng 4/2002
Nghệ An đã xây dựng được nhà máy sản xuất tinh bột sắn Intimex Thanh
Chương với công suất 100 tấn tinh bột/ ngày và đến 2004 đã xây dựng
thêm nhà máy chế biến tinh bột sắn Yên Thành với công suất 50 tấn tinh
bột sắn/ngày.
Năm 2003, toàn tỉnh đã xuất khẩu được 63.808 tấn tinh bột sắn. Nghệ
An đang triển khai hai dự án sản xuất và chế biến tinh bột sắn tại Thanh
Chương và Yên Thành [8].
Article XVI. 2.2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn huyện Anh
Sơn
Anh Sơn là huyện miền núi, sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất
chính. Trước đây người dân trồng nhiều loại cây như lạc, ngô, khoai đậu và
cây vừng. Trong những năm gần đây huyện đã chuyển sang trồng cây công
nghiệp như cây mía, cây chè và cây sắn.
Hiện nay toàn huyện không có xã nào không trồng sắn, kể cả thị trấn.
Diện tích sắn một số xã như sau: Thọ Sơn 330 ha, Bình Sơn 210 ha, Lĩnh Sơn
140 ha, Thành Sơn 120 ha, (Số liệu thống kê huyện Anh Sơn năm 2010).
Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Anh Sơn trong 3 năm
(2008-2010) như sau:
NGHIÊN CỨU
Article XIX. 3.1. Đối tượng
Section XIX.1 Đối tượng nghiên cứu là các hộ tham gia trồng sắn
ở xã Thọ Sơn, Anh Sơn, Nghệ An.
Article XX. 3.2. Nội dung
Article XXI. 3.2.1.Thông tin chung về xã Thọ sơn huyện Anh Sơn
tỉnh Nghệ An
Article XXII. 3.2.1.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu.
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý, địa hình
+ Khí hậu thời tiết
Article XXIII. 3.2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình dân số và lao động
- Tình hình sử dụng đất đai
Article XXIV. 3.2.2. Thực trạng sản xuất sắn của xã Thọ Sơn
Article XXV. 3.2.2.1. Tình hình sản xuất sắn trên địa bàn xã Thọ Sơn
Article XXVI. 3.2.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội của hộ trồng sắn
- Nhân khẩu và lao động
- Tình hình sử dụng đất trồng trọt
- Thông tin về hoạt động tạo thu nhập của hộ
Article XXVII. 3.2.3. Hiệu quả sản xuất sắn của các hộ khảo sát
Article XXVIII. 3.2.3.1. Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ
trồng sắn
Article XXIX. 3.2.3.2. Nguồn vốn sử dụng trong sản xuất sắn
Article XXX. 3.2.3.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của các nhóm
hộ
- Quy mô sản xuất sắn của các nhóm hộ
- Tình hình tiêu thụ sắn của các nông hộ
- Tình hình đầu tư sản xuất của các nhóm hộ khảo sát
- Kết quả và hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ được khảo sát
+ Quan sát thực địa: Tiến hành quan sát một cách tổng thể địa hình,
giao thông, tình hình phát triển kinh tế xã hội, phát triển trồng sắn tại xã.
19
Article XXXV. 3.3.4. Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu điều tra thu thập được xử lý trên phần mềm excel.
- Phân tích định tính và định lượng để mô tả phân tích các chỉ tiêu
nghiên cứu.
20
Article XXXVI. PHẦN 4
Article XXXVII. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Article XXXVIII. 4.1. Thông tin chung về xã Thọ Sơn huyện Anh
Sơn, tỉnh Nghệ An
Article XXXIX. 4.1.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu.
Article XL. 4.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình
Vị trí địa lý của địa bàn sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng, khi
nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp.
Thọ Sơn là một xã vùng cao của huyện miền núi Anh Sơn nằm bên
đường quốc lộ 7A. Nó có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội,
an ninh quốc phòng. Phía Bắc giáp huyện quỳ hợp, phía Nam giáp xã
Thành Sơn và Bình Sơn, phía đông giáp huyện Tiên Kỳ, phía Tây giáp
huyện Con Cuông.
Với vị trí địa lý như trên, xã Thọ Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi để
giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội với các địa phương khác. Bên cạnh những
thuận lợi thì khó khăn cũng không ít, xã vùng cao của huyện miền núi, ở
cách xa trung tâm của huyện, địa hình cũng phức tạp, việc cung ứng vật tư,
tiến bộ khoa học kỷ thuật chưa được tập trung và nhanh chóng, nên sản
xuất nông nghiệp chưa được chuyên môn hoá cao.
- Đặc điểm về khí hậu
người với 745 hộ dân, trong đó có 213 hộ trung bình và khá, chiếm 72,4 %
trong tổng số hộ trên địa bàn xã. Trong những năm trước tỷ lệ hộ nghèo
của xã chiếm tỷ lệ rất cao, ba năm nay việc thực hiện công tác xoá đói giảm
nghèo, cho đến nay điều tra thì số hộ nghèo của xã còn 28,6 %, đó là điều
đáng mừng của xã hiện nay.
Theo thống kê trên địa bàn toàn xã, số người trong độ tuổi lao động là
1.765 lao động, chiếm tỷ lệ thấp hơn số người ngoài độ tuổi lao động, mà
chủ yếu là lao động nông nghiệp. Đây là một hạn chế trong quá trình sản
xuất nói chung và ngành nông, lâm nghiệp nói riêng. Hiện nay xã đang có
22
chủ trương tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân vay vốn sản xuất, kinh
doanh, đầu tư cho sản xuất.
- Tình hình sử dụng đất đai
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quan
trọng và không thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư
liệu sản xuất và là nơi trú ngụ, sinh sống và sinh hoạt của con người. Quy
mô và trình độ sử dụng nguồn lực đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến thu
nhập từ sản xuất nông nghiệp. Vì vậy việc bố trí cây trồng hợp lý nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất. Tình hình sử dụng đất của xã Thọ Sơn được
thể hiện như sau :
Bảng 2 : Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Thọ Sơn
Chỉ tiêu
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích đất nông nghiệp 3922,95 100,00
- Đất trồng cây hằng năm 397,66 10,14
+ Đất trồng lúa 37,11 9,33
+ Đất trồng ngô 90,20 22,68
+ Đất trồng sắn 270,35 67,99
việc trồng lúa là 37,11 ha, chiếm tỷ lệ 9,33%.
Trong cơ cấu diện tích đất trồng cây công nghiệp hằng năm thì diện
tích đất trồng mía cao với diện tích là 330,71 ha, chiếm 70,98%. Diện tích
đất trồng mía cao như vậy là do chủ trương của việc trồng mía sớm hơn
trồng sắn nên người dân đã quen với việc trồng mía.
24
(iii) Bảng 3: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính của xã năm
2010
(iv)
Cây trồng Diện tích (ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Lúa 37,11 39,90 148,07
- Đông xuân 27,00 47,00 126,90
- Hè thu 10,11 21,00 21,23
Sắn 270,35 245,00 6623,58
Khoai lang 18,00 63,00 113,40
Lạc 135,18 13,60 183,85
Ngô 90,20 35,60 321,11
Mía 330,71 65,00 2149,62
Rau đậu 27,00 6,20 16,74
(Nguồn: Báo cáo của xã Thọ
Sơn)
Qua bảng số liệu cho thấy: trên địa bàn toàn xã tập trung chủ yếu đối
với các loại cây trồng sắn, mía, lạc, lúa, ngô. Trong đó mía là trồng cây chủ
đạo và chiếm diện tích lớn nhất 330,71 ha, năng suất đạt 65 tạ/ha. Còn sắn
là cây trồng có diện tích là 270,35 ha có năng suất cao nhất 225 tạ/ha. Năng
suất cao như vậy là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của của huyện đến xã cũng
như các ban ngành, các tổ chức hội, đoàn thể, nhất là nhóm cán bộ kỷ thuật