đánh giá tác động của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện xín mần, tỉnh hà giang - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TÔ VĂN MẠNH
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC GIAO ĐẤT NÔNG -
LÂM NGHIỆP ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC
NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.62.16
Người hướng dẫn khoa học : TS. NGUYỄN ÍCH TÂN
H N I - 2011À Ộ
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Tô Văn Mạnh
2
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình và những lời chỉ dẫn chân tình của tập thể và các cá nhân trong và
ngoài trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS. Nguyễn Ích Tân,
là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Viện Đào tạo Sau đại học, Ban

CNXH
CP
CT
DT
DTTN
ĐVT
GCN
HĐBT
HĐND
HTX
LN

NN
NS
NTTS
NQ
SL
SXNN
TB
TW
TTCN
UBND
QHSDĐ
XHCN
Ban Chấp hành Trung ương
Bình quân
Chủ nghĩa xã hội
Chính phủ
Chỉ thị
Diện tích

Bảng 4.8. Tình hình đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng (1995 - 2010) 61
Bảng 4.9. Tình hình sử dụng đất của 4 xã điều tra (năm 2010) 62
Bảng 4.10. Cơ cấu các loại đất của 4 xã điều tra (năm 2010) 63
Bảng 4.11. So sánh tình hình sử dụng đất của các xã trước và sau giao đất 64
Bảng 4.12. So sánh một số chỉ tiêu về diện tích giao cho hộ gia đình điều tra
trước và sau khi giao đất, giao rừng (năm 1995 so với năm 2010)
66
Bảng 4.13. Tình hình đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ gia đình điều tra
(trước và sau khi giao đất)
67
Bảng 4.14. Số tiền đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp của các nông hộ sau
khi nhận đất, nhận rừng
70
Bảng 4.15. Tình hình vay vốn ngân hàng đầu tư cho sản xuất nông, lâm
nghiệp ở 4 xã điều tra
71
Bảng 4.16. Hướng đầu tư của hộ gia đình 72
Bảng 4.17. Cơ cấu bình quân diện tích các loại cây trồng của hộ gia đình sau
khi nhận đất, nhận rừng
75
Bảng 4.18. So sánh năng suất một số cây trồng chính trước và sau giao đất 78
Bảng 4.19. So sánh một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế hộ gia đình ở 4 xã 79
6
6
điều tra
Bảng 4.20. So sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả quản lý sử dụng đất 82
Bảng 4.21. Ý Kiến hộ gia đình, cá nhân không bị thu hồi đất về vấn đề chia
lại đất
87
Bảng 4.22. Ý Kiến hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất về vấn đề chia lại đất 87

đai trên đầu người thấp, trên 70% dân số là nông dân, trong cơ cấu kinh tế quốc
dân, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể thì đất đai lại càng có ý nghĩa.
Thực tế cho thấy những thay đổi về chính sách đất đai chịu sự tác động
của nhiều nhân tố như: chế độ chính trị, tổ chức xã hội, truyền thống văn hoá,
nhận thức và thiết chế kinh tế. Mỗi nhân tố trên có tác động khác nhau tới
công tác quản lý đất đai.
Xuất phát từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội, trải qua
các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay Đảng và Nhà nước luôn luôn
khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn;
trong phát triển chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố cơ bản: chính sách, khoa học kỹ
thuật, vốn đầu tư và thị trường. Cả 4 yếu tố trên đều vô cùng quan trọng,
trong đó yếu tố về chính sách có tính chất quyết định.
Kể từ khi đất nước giành độc lập, Đảng và Nhà nước đã dày công
nghiên cứu tìm tòi và đổi mới các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
các chính sách đất đai gắn liền với nông dân, nông nghiệp và nông thôn,
nhằm gắn lao động với đất đai tạo thành động lực phát triển sản xuất nông -
lâm nghiệp, phát triển kinh tế xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo
10
10
vệ môi trường.
Công tác giao đất nông, lâm nghiệp được bắt đầu từ năm 1968. Kể từ
thời gian này, Nhà nước đã ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách về
giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá
nhân phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.
Sau khi Luật Đất đai lần đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội khoá 8,
kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29/12/1987 có hiệu lực ngày 08/01/1988 và trước
đó có Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về cải tiến công tác khoán; tiếp theo là Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ
chính trị ngày 05/4/1988, Nghị quyết Trung ương 6, Khoá VI với việc khẳng
định hộ nông dân là một đơn vị tự chủ đã đánh một dấu mốc quan trọng trong

nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất nông - lâm nghiệp nói chung;
công tác giao đất nông - lâm nghiệp nói riêng là rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá tác động của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng
đất của các nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá ảnh hưởng của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu
quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý,
sử dụng đất nông - lâm nghiệp nói chung và công tác giao đất nông - lâm
nghiệp nói riêng tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành trên địa bàn 4 xã đại diện cho những loại hình sử
dụng đất mang nét đặc trưng nhất của huyện Xín Mần:
- 02 xã đại diện loại hình sản xuất nông nghiệp;
- 02 xã đại diện loại hình sản xuất cả nông và lâm nghiệp.
1.3.2. Phạm vi thời gian
Phạm vi nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của công tác giao đất nông -
lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà
Giang tập trung vào giai đoạn từ năm 1993 (từ khi có Luật Đất đai năm 1993)
đến nay.
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 6/2010 đến tháng 6/2011.
12
12
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ
CHÂU Á
2.1.1 Chính sách đất đai của Trung Quốc [17]
Những thành quả về kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường trong quá trình

hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến
quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng. Nếu tập thể hay cá
nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó
thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng.
Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa
dạng, sau khi thực hiện cấp GCN. Từ đó các trại rừng kinh doanh hình thành
bước đầu đã có hiệu quả. Lúc đó ngành Lâm nghiệp được coi như công
nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ: vốn, khoa học kỹ
thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay. Mỗi năm
Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển
nông - lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo, quy định trích 20% tiền bán
sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông - lâm nghiệp.
2.1.2. Chính sách đất đai của Thái Lan [14]
Tại Thái Lan bước sang chế độ quân chủ, Luật Ruộng đất được ban
hành năm 1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế xã hội của đất nước.
Luật Ruộng đất đã công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có
thể được mua, tậu lại từ cá thể. Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng,
cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có
khả năng trồng trọt được) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất
ấy. Tuy nhiên, trong giai đoạn này Luật Ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh
ngắn, chế độ luân canh vừa. Bên cạnh đó, việc thu địa tô cao, dân số tăng
14
14
nhanh, tình trạng thiếu và thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo đã dẫn đến
việc đầu tư trong nông nghiệp thấp. Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát
canh thấp hơn trên đất tự canh. Bước sang năm 1974, Chính phủ Thái Lan ban
hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê,
thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự điều hành của trại
thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Luật
Cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với mục tiêu biến tá

ruộng đất theo dự án mới. Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân
nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải
quyết việc làm. Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất và nông dân
giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng
đất. Theo dự án này, Chính phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư
trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo. [14] [31]
2.1.3. Chính sách đất đai ở Inđônêxia
Nét đặc biệt trong chính sách đất đai ở Inđônêxia là, Nhà nước quy định
mỗi hộ nông dân ở gần rừng được nhận khoán 2.500 m
2
đất để trồng cây, hai
năm đầu được phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và được quyền
hưởng toàn bộ sản phẩm, không phải nộp thuế. Quá trình sản xuất của nông dân
được sự hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay.
Sau khi thu hoạch người nông dân phải hoàn trả lại giống đã vay, còn phân bón
và thuốc bảo vệ thực vật chỉ phải trả 70 %, nếu mất mùa thì không phải trả vốn
vay đó [14]. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm,
Nhà nước còn tổ chức hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ
trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại nơi họ sinh sống. Từ đó, việc quản lý rừng và đất
rừng ở Inđônêxia bước đầu đã thu được những kết quả đáng kể. [14]
2.1.4. Chính sách đất đai ở Nhật Bản
Cũng như một số nước khác thuộc khu vực châu Á, Nhật Bản đã ban hành
Luật Cải cách ruộng đất lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1945, nhằm mục đích xác
16
16
định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân, bên cạnh đó buộc địa chủ chuyển
nhượng ruộng đất nếu có trên 5 ha. Quá trình cải cách ruộng đất lần thứ nhất tại
Nhật Bản ban đầu đã mang lại kết quả đáng kể, song lúc đó vai trò kiểm soát của
Nhà nước đối với đất đai chưa được chặt chẽ. Do vậy, Nhật bản tiến hành cải cách
ruộng đất lần thứ hai nhằm xác lập vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với việc

tích dư thừa còn lại thì Nhà nước sẽ tiến hành trưng mua và bán lại cho nông
dân. Giá trưng mua và giá bán lại đều bằng 2,5 lần sản lượng hàng năm của thửa
đất, tính theo sản phẩm thu được sau sản xuất (bằng gạo) để không chịu ảnh
hưởng của lạm phát và được thanh toán 20 lần trong 10 năm, giấy chứng nhận
quyền sở hữu ruộng đất được cấp ngay sau lần thanh toán đầu tiên. Địa chủ được
nhận 70% bằng trái phiếu đất đai để lấy hiện vật (gạo hoặc khoai lang) với lãi
suất 4%/năm, 30% còn lại được chuyển thành cổ phần của doanh nghiệp Nhà
nước (công ty phát triển nông - lâm nghiệp, công ty giấy và bột giấy, công ty
công nghiệp mỏ và công ty xi măng). Kết quả là 139.250 ha đã được bán cho
194.820 hộ nông dân và 4 công ty của Nhà nước đã được bán cho các địa chủ.
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông
sản, thực phẩm vừa đáp ứng nhu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ, vừa thu hút
lao động địa phương, tạo nhiều việc làm mới. Công nghiệp hoá nông thôn ở
Đài Loan đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động (ví dụ năm 1952, lao
động nông nghiệp chiếm 56,1%, lao động công nghiệp chiếm 16,9%, lao động
dịch vụ chiếm 27%. Đến năm 1992, các chỉ số đó là 12,9%; 40,2% và 46,9%).
Nhìn chung, các chủ trương, chính sách về đất đai của các nước và vùng
lãnh thổ Châu Á đều hướng tới mục đích xác lập quyền sở hữu hoặc sử dụng đất
cho người sử dụng đất. Nhiều nước đã có những chính sách hỗ trợ cho những
người dân sống bằng nghề nông có đất sản xuất. Để từ đó người dân an tâm đầu
tư sản xuất, bên cạnh đó quá trình sản xuất của người dân trên đất luôn được sự
hỗ trợ từ phía Nhà nước. Nhằm mục đích tăng cường hiệu qủa sử dụng đất về
các mặt kinh tế xã hội và môi trường. Do đó, để đánh giá hiệu quả sản xuất của
cá nông hộ, thì chúng ta cần đánh giá những chính sách có tác động lớn tới công
tác hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp; đặc biệt là đối với nước ta hơn 70% dân
18
18
số sống ở nông thôn.
2.2. CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
Ở nước ta, đất đai được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất

ruộng đất. Tập thể làm chủ ruộng đất dần dần dẫn tới tình trạng ruộng đất hầu
như vô chủ. Quyền sở hữu có khi không quan trọng bằng quyền được sử dụng
liên tục lâu dài, một điều ai cũng nhận thấy là đất 5%, thuộc sở hữu tập thể
nhưng giao cho xã viên hoàn toàn làm chủ trong quá trình canh tác và hưởng
dụng, đã đưa lại hiệu quả cao rất nhiều lần so với đất sử dụng chung [14].
Kể từ khi có chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành
Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản
phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX sản xuất nông nghiệp [7], nhất
là Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp thì quyền sử dụng đất của nông dân mới được xác lập.
Pháp luật đất đai quy định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất.
Chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục đích nông nghiệp, cùng với quy định các quyền sử dụng đất của họ
được cụ thể hoá trong các văn bản dưới đây:
- Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992;
- Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001;
- Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
sản xuất nông nghiệp và Nghị định 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 sửa đổi,
bổ sung một số điều của bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp.
- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ
tục, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử
20
20
dụng đất, thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Nghị định số
79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999.
Đối với đất lâm nghiệp, từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, Nhà nước đã

Các văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành có liên quan đến vấn
đề giao đất nông, lâm nghiệp trong thời kỳ này gồm: [16]
1) Nghị định 36/CP ngày 12/03/1968 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính Phủ) về công tác vận động định canh, định cư kết hợp với HTX đối với
đồng bào còn du canh du cư.
2) Thông báo số 18/TB-UB ngày 23/10/1968 hội nghị Ban Bí thư bàn về lâm nghiệp.
3) Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của Hội đồng Bộ trưởng về
một số chính sách đối với hợp tác xã có kinh doanh nghề rừng.
4) Quyết định số 129/CP ngày 25/05/1974 của Hội đồng Bộ trưởng về
một số chính sách đối với hợp tác xã , mở rộng diện tích phát triển nông, lâm
nghiệp ở trung du và miền núi.
5) Chỉ thị 257/TTg ngày 16/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy
mạnh trồng rừng và đất rừng cho HTX kinh doanh.
6) Quyết định số 272/CP ngày 03/10/1977 của Hội đồng Chính phủ về
chính sách đối với HTX mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp, xây
dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư.
7) Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/1/1981 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về cải tiến công tác khoán mở rộng các công tác khoán sản phẩm đến
nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.
8) Quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng
về đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể nông dân trồng cây rừng.
9) Chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và tổ chức kinh doanh theo
22
22
phương thức nông lâm kết hợp.
Như vậy trong vòng 18 năm (1968 - 1986) từ khi xác định chủ trương
giao đất rừng cho HTX những văn bản được Nhà nước ban hành đã chứng tỏ
chính sách nhất quán và kiên trì chủ trương giao đất giao rừng của Đảng và
Nhà nước cho HTX.

điểm, lúc đó số HTX nông nghiệp cả nước có 17.000 HTX, trong đó HTX bậc
cao chiếm 90% số HTX, tổng số xã viên HTX chiếm tới 95,6% số nông dân.
Năm 1976 sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, để khắc
phục tình trạng nông dân không có ruộng đất, Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 188/CP ngày 25/09/1976 về chính sách xoá bỏ triệt để tiến trình
chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân phong kiến ở miền
nam. Tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên như: quốc hữu hoá toàn bộ đất
đai và chia lại ruộng đất cho nhân dân lao động.
Sau khi giao đất, giao rừng cho các HTX một số tỉnh đã có biện pháp tích
cực tăng cường chỉ đạo các HTX phát triển nghề rừng, ra Nghị quyết chuyên đề
về lâm nghiệp quy định về tổ chức quản lý và chế độ chính sách đối với các
HTX kinh doanh nghề rừng, trong thời kỳ này có 3 loại hình HTX sau. [1]
Loại hình thứ nhất: Bao gồm các HTX đã thực sự đưa rừng và đất rừng
vào dạng tư doanh. Các HTX thuộc loại này là HTX bước đầu đã thực hiện
sản xuất rừng tốt, thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề
rừng; các HTX đều có tổ chuyên trách gieo ươm, khai thác. Việc trồng rừng
cơ động chủ lực làm hạt nhân, kết hợp với toàn bộ lao động theo thời vụ, tuy
nhiên loại hình HTX này còn quá ít.
Loại hình thứ hai: là loại hình HTX được giao đất, giao rừng , nhưng vì
nhiều lý do khác nhau nên chưa đảm bảo tư doanh, vẫn hợp đồng làm khoán
trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho lâm trường quốc doanh trên diện tích
đất và rừng được giao.
Loại hình thứ ba: là loại hình HTX đã nhận đất, nhận rừng nhưng chưa
24
24
đưa vào sản xuất, kinh doanh. Loại hình này chiếm đại đa số các HTX được
giao đất, giao rừng. Hiện tượng phổ biến nhất ở các HTX là mới chỉ giữ rừng
để lợi dụng khai thác gỗ, củi, khai thác lâm sản, nhiều nơi còn chặt phá rừng
bừa bãi gây thiệt hại to lớn về tài nguyên rừng.
Kết quả trong thời gian từ năm 1968 đến năm 1980 đã giao được 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status