Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGHIÊM XUÂN PHƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XÍN MẦN,
TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn Sơn

Thái Nguyên, năm 2017


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đều đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả

iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 2
3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................... 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................................. 3
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn......................................................................................... 3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................................ 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................................ 4
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân .......................... 4
1.1.2. Vai trò, sự cần thiết phát triển kinh tế hộ nông dân .......................................... 8
1.1.3. Phân loại hộ nông dân ..................................................................................... 10
1.1.4. Tại sao phải nghiên cứu kinh tế nông hộ ........................................................ 12
1.1.5. Vì sao kinh tế hộ tồn tại .................................................................................. 12
1.1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân ........ 12
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ................................................................................... 15
1.2.1. Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới và
nước ta ....................................................................................................................... 15
1.2.2. Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam ........................................... 24
1.2.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triền kinh tế nông hộ ở Việt
Nam nói chung và huyện Xín Mần nói riêng ............................................................ 26
1.2.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ............................................................................ 28
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....... 33
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 33
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 33
2.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 33
2.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 34
2.3.1. Tiếp cận nghiên cứu ........................................................................................ 34
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin ...................................................................... 34

1. Kết luận ................................................................................................................. 78
2. Khuyến nghị .......................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 80


v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQ

: Bình quân

CC

: Cơ cấu

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
CN

: Công nghiệp

CN-TTCN : Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
DT

: Diện tích

DTTS

: Dân tộc thiểu số


: Năng suất

SL

: Sản lượng

SX

: Sản xuất

TTCN

: Tiểu thủ công nghiệp

TBC

: Trung bình chung

UBND

: Ủy ban nhân dân


vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số hộ điều tra phân theo xã và nghề nghiệp của hộ ................................ 39
Bảng 3.2: Thông tin chung về hộ điều tra ................................................................ 40
Bảng 3.3: Cấu trúc dân tộc trong các hộ điều tra phân theo các nhóm hộ ................ 41
Bảng 3.4: Số hộ trồng và diện tích gieo trồng bình quân 1 hộ ................................. 44

chưa nhiều. Việc mua bán, trao đổi hàng hoá theo cơ chế thị trường gặp không ít
khó khăn, nhất là chi phí vận chuyển quá cao.
Kinh tế phát triển chưa toàn diện, chưa mạnh và chưa vững chắc; hàng hoá
sản xuất chưa nhiều và sức cạnh tranh chưa mạnh; đã có các mô hình phát triển kinh
tế ở các qui mô khác nhau trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng việc nhân diện
chưa mạnh; năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích chưa cao;
tập quán sản xuất giản đơn chậm xoá bỏ; vệ sinh môi trường thôn bản chưa tốt; một
số tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại.
Mục tiêu đặt ra là khai thác hợp lý và có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về
phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, du lịch và kinh tế cửa
khẩu; cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, dân sinh
và bảo đảm quốc phòng, an ninh; từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát


2
triển và mức sống của người dân trong vùng so với mức bình quân chung; hoàn
thành cơ bản sắp xếp ổn định dân cư, nhất là vùng đồng bào tái định cư các dự án
thủy điện, thủy lợi, đưa dân ra biên giới; khắc phục cơ bản tình trạng dân di cư tự
do; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo
vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị.
Huyện Xín Mần thuộc vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, cách trung
tâm tỉnh lỵ khoảng 120 km. Huyện có địa hình phức tạp, núi cao hiểm trở, bị chia
cắt mạnh, huyện có 15 anh em dân tộc sinh sống. Đời sống của nhân dân chủ yếu
phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi để phát
triển kinh tế nông hộ như: Nguồn nhân lực có sẵn, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
cũng như chính quyền địa phương, kinh tế hộ nông dân ở huyện Xín Mần trong quá
trình phát triển đã đạt được những thành tựu đáng nghi nhận. Tuy nhiên bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn về kinh tế xã hội, đời sống của phần lớn dân

cao, biên giới. Tác giả hy vọng rằng những giải pháp phát triển kinh tế mà đề tài
luận văn đã đề xuất sẽ được chính quyền địa phương huyện Xín Mần (tỉnh Hà
Giang) và các địa phương khác có điều kiện tương tự đón nhận và có thể tham
khảo để vận dụng vào phát triển kinh tế-xã hội nói chung, phát triển kinh tế hộ gia
đình nói riêng.


4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
1.1.1.1. Khái niệm hộ
Hộ đã có lâu đời cho đên nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời
kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau song vẫn có bản chất chung đó là sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các
thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo nhiều của cải vật chất để nuôi sống
và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội.
Từ trước đến nay, có nhiều khái niệm về hộ:
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những
người cùng sống chung trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người
cùng chung huyết tộc và những người làm công”
Theo Liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà,
cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4].
Năm 1981, Harris (Lon don - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “Hộ là
một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ này, nhóm các đại biểu
thuộc trường phái “Hệ thống thế giới” (Mỹ) có bổ sung thêm: “Hộ là một đơn vị
đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu
nhập chung” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4].
Raul Ituna - trường Đại học Tổng hợp Lioobon khi nghiên cứu cộng đồng

Còn theo Nguyễn Sinh Cúc (2001)[1]: Trong phân tích điều tra nông thôn năm
2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động
thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi,
dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và
thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
V.I.Lênin (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] cho rằng: “Cải tạo tiểu
nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ,
khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của chính họ”.
- Hayami và Kikuchi (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10]: Nghiên cứu sự


6
thay đổi của kinh tế nông thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng
đất ngày càng tăng, lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến
kỹ thuật, nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng.
- Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông thôn
hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận Macxit phân tích (Roemer 1985), tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson,
1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa
nhà nước và nông dân (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10]. Mối quan hệ đó, thường
theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành
này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc luân chuyển. Nhìn chung bất
cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác
động của Nhà nước.
Nghiên cứu khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận
thức cá nhân tôi cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn có ngành nghề sản xuất chính là
nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu là nghề nông, ngoài ra họ có tham gia các
hoạt động phi nông nghiệp như (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,…).
1.1.1.3. Kinh tế hộ nông dân

chủ thật sự của quá trình sản xuất, trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển
của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian. Việc thuê mướn lao động mang
tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác
của gia đình. Họ làm việc không kể giờ giấc, hiệu quả sử dụng lao động rất cao.
- Cấu trúc lao động của kinh tế hộ nông dân đa dạng, phức tạp. Trong một hộ
có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý
vừa có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất.
- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành
viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng
đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có
quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường.
Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại.
1.1.1.4. Phát triển và phát triển kinh tế
Trong những thuật ngữ khoa học “phát triển” được biểu thị như tiến trình
đưa xã hộ lên một trình độ cao hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Quá trình phát


8
triển của xã hội bao gồm cả phát triển kinh tế văn hóa xã hội và chính trị.
Như vậy có thể định nghĩa về phát triển “Phát triển là một quá trình thay
đổi làm tăng cường mức sống của con người”.
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của
đời sống kinh tế-xã hội. Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được
cải thiện và nâng cao (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016 [7].
Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng
tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả
sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu
kinh tế-xã hội.
Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm:

trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ giới hóa nông nghiệp, kích thích các ngành
công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành
dịch vụ nông nghiệp phát triển do đó thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn
Việt Nam.
Các đặc trưng của kinh tế hộ
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rất hiệu quả, dù quy mô nhỏ
nhưng vẫn có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao năng
suất lao động.
- Kinh tế nông hộ quy mô nhỏ không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp.
- Kinh tế nông hộ không có khả năng sản xuất cao, không có biểu hiện của
sản xuất lớn.
- Kinh tế hộ sử dụng lao động và tiền vốn của chủ hộ là chủ yếu.
- Kinh tế nông hộ dựa vào nguồn lực của gia đình để tạo ra thu nhập phục vụ
cho cuộc sống gia đình họ.
- Hộ không thuê lao động hoặc thuê lao động ngoài không đáng kể, vốn sản
xuất chủ yếu do hộ tự tích lũy. Nếu có vay thì chỉ vay với lượng nhỏ để kịp thời vụ.
- Trong kinh tế hộ nông dân có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu quá
trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu chung của các thành viên trong gia
đình, trong nông hộ.
- Các thành viên trong nông hộ đều quen với việc sử dụng những tư liệu sản


10
xuất và tài sản, họ hiểu rõ đặc tính của từng loại tài sản.
- Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành vừa là người trực tiếp tham
gia lao động sản xuất.
- Trong hộ mọi người gắn bó chặt chẽ với nhau qua quan hệ hôn nhân hoặc
huyết thống.
- Trong nông hộ, lao động có tính chất rất cao, mọi người làm việc với tư

- Hộ chuyên nông: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc,
rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng thủ công mỹ nghệ, dệt, may…
- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công
nghiệp nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
- Hộ buôn bán: Là loại hộ buôn bán là chính, ở nơi đông dân cư, có quầy hàng…
1.1.3.3. Theo hình thức tổ chức quản lý
Nông hộ gia đình: là loại hình phổ biến nhất ở các nước. Đó là kiểu nông hộ độc
lập sản xuất kinh doanh do người chủ hay một người thay mặt gia đình đứng ra quản lý.
Nông hộ liên doanh: Do 2 - 3 nông hộ gia đình hợp thành một nông hộ lớn,
tuy nhiên mỗi nông hộ thành viên vẫn có quyền tự chủ điều hành sản xuất.
Nông hộ hợp doanh: Tổ chức theo nguyên tắc Công ty Cổ phần hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.
Theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
Chủ nông hộ sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc đến
chuồng trại, kho bãi,…
Chủ nông hộ chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần đi thuê của người khác.
Chủ nông hộ hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà đi thuê toàn bộ các cơ
sở của nông hộ khác hoặc của Nhà nước để sản xuất.
1.1.3.4. Theo phương thức điều hành sản xuất
Chủ nông hộ sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hành sản xuất và
trực tiếp lao động.
Nông hộ ủy thác, ủy nhiệm ruộng đất và tư liệu sản xuất của mình cho anh
em, họ hàng, bạn bè thân thiết còn ở tại quê để tiếp tục canh tác.
1.1.3.5. Phân loại căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ
Nông hộ thuần nông: Ở những nước nông nghiệp kém phát triển, nguồn sống
chính dựa vào nông nghiệp thì đương nhiên cơ cấu thu nhập của các nông hộ dựa
hoàn toàn hay phần lớn vào nông nghiệp.


12



13
vùng xa xôi hẻo lánh. Ngành sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất
đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất.
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều kiện
thời tiết, khí hậu, lượng mưa nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… có mối quan hệ chặt chẽ
đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy ở những nơi có thời tiết
khí hậu thuận lợi, có tài nguyên phong phú sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ
hội hơn trong phát triển kinh tế.
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế hộ nông
dân, nhất là nguồn nước. Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật
sinh học, nếu môi trường thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, năng suất cao,
còn ngược lại sẽ chậm phát triển, năng suất thấp từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất kém.
1.1.6.2. Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế
hộ nông dân nói riêng.
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn kỹ năng lao động để tiếp thu những
tiến bộ KHKT và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất phải giỏi chuyên
môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới có thể mạnh dạn áp dụng những thành tựu
KHKT vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao. Điều này là rất quan trọng nó ảnh
hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có
những tố chất của một người dám kinh doanh.
- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện
đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê
nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố cơ bản

liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và giúp nhau tiêu
thụ sản phẩm. Ngoài ra các hộ cần hợp tác với các tổ khác để nhằm hỗ trợ phát triển
kinh tế.
1.1.6.3. Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu


15
giống cây trồng, vật nuôi khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau.
Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế cho thấy
những hộ biết áp dụng tiến bộ kỹ thật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị
trường, giám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất thì đạt hiệu quả
kinh tế cao và lợi nhuận lớn từ các sản phẩm nông nghiệp.
1.1.6.4. Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông
sản phẩm, miễn thuế dòng sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc
làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới,… các chính sách
này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà
nước can thiệp có hiệu quả và sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông
dân phát triển kinh tế.
Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế hộ nông dân,
có thể khẳng định hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần
phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và
chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thật mới vào

Chính phủ.
Về thị trường: Thái Lan mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, giúp nông
dân tiếp cận với thị trường bằng cách xây dựng các hệ thống đại lý,… Nhờ vậy,
nông dân Thái Lan có thể biết được các thông tin thị trường một cách nhanh chóng,
chính xác, điều này đã giúp họ hạn chế được tình trạng ép cấp, ép giá của tư thương
và các tổ chức trung gian.
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn có chính sách bình ổn giá để bảo vệ lợi ích
của nông dân. Trong thời kỳ "Cách mạng xanh", Chính phủ cho phép nhập khẩu
phân bón và một số vật tư khác mà không tính thuế.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Đài Loan
Đài Loan là khu vực có nền kinh tế phát triển, đặc biệt sau cải cách ruộng
đất, kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Đài Loan phát triển rất mạnh.


17
Để phát triển kinh tế nông hộ, Đài Loan đã lập ra một tổ chức có tên gọi là:
“Nông phục hồi", tổ chức này đứng ra lập kế hoạch, chỉ đạo sản xuất, cố vấn phát
triển và làm khâu trung gian chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Để thành công
trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói
riêng. Đài Loan đã tiến hành các biện pháp:
- Tiến hành cải cách ruộng đất, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
nông dân, thực hiện "Người làm có ruộng". Sau cải cách tỷ lệ tăng trưởng của sản
xuất nông nghiệp đạt 5,3% một năm và liên tục tăng suốt 15 năm.
- Tiến hành cuộc: "Cách mạng xanh", đây là cuộc cách mạng về giống và đã
tạo được nhiều giống mới có năng suất cao. Trong khi đó, Chính phủ Đài Loan lại
cố định mức thuế nông nghiệp, làm cho sản xuất của nông dân mang lại lợi nhuận
cao hơn, nông hộ phấn khởi và càng tích cực sản xuất.
- Không ngừng phát triển kinh tế hợp tác xã và các hiệp hội ở nông thôn, tiến
hành công nghiệp hoá nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập. Mặt khác lại
tiến hành điện khí hoá và chuyện môn hoá sản xuất, mở rộng thị trường với nước ngoài.

chính trị tư tưởng, kiên trì xây dựng đời sống văn minh về vật chất và tinh thần.
+ Chỉ đạo công tác nông thôn phải kiên trì đưòng lối quần chúng, xuất phát
từ tình hình thực tế để chỉ đạo một cách thích hợp, hiệu quả, không vi phạm ý
nguyện của quần chúng và thái độ chủ quan, giáo điều, dập khuôn.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhờ có sự
thành công của chính sách đổi mới, bộ mặt nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã
thay đổi hoàn toàn, từ một nước thiếu đói thành một nước phát triển. Ngày nay,
Trung Quốc trở thành một nước mạnh kinh tế, vững về an ninh chính trị.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Hàn quốc
Quan điểm của Hàn Quốc là không gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp
vì lo ngại lợi nhuận các công ty hưởng, còn nông dân suốt đời làm thuê. Chủ
trương của họ là đầu tư hạ tầng để nông dân tự mình đứng lên, sản xuất chế biến
tại chỗ, nông dân là người chủ đích thực. Cùng với đó, Chính phủ Hàn Quốc áp
dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế
biến nông sản, Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông
thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác.
Năm 2005 Nhà nước có hẳn đạo luật: Mọi hoạt động của các bộ, ngành,
chính quyền phải hướng về nông dân. Mỗi làng một doanh nghiệp hoặc vài doanh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status