ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LA DƢƠNG THỊNH
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
TẠI XÃ HÕA MỤC, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khóa học : 2011-2015 THÁI NGUYÊN - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo khoa
Kinh tế & Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xin chân
thành cảm ơn đến UBND xã Hòa Mục đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn một cách
tốt nhất.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn tới thầy giáo ThS. Trần Việt Dũng đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực tập để tôi hoàn
thành tốt luận văn này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên La Dương Thịnh
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến
2015 11
Bảng 4.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất toàn xã 26
Bảng 4.2. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn 27
Bảng 4.3 Hiện trạng trồng trọt toàn xã 28
Bảng 4.4 Hiện trạng chăn nuôi toàn xã 28
Bảng 4.5 Hiện trạng dân số, số hộ, lao động theo từng đơn vị thôn bản 29
Bảng 4.6 Hiện trạng dân số, số hộ, lao động toàn xã 30
Bảng 4.7 Hiên trạng nhà văn hóa các thôn 32
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1.Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, và kinh tế nông hộ 4
2.1.2. Vai trò của kinh tế hộ 6
2.1.3. Các đặc trưng của kinh tế hộ 6
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ 7
2.1.5. Các xu hướng phát triển của kinh tế hộ 10
2.1.6. Tiêu chí phân loại nhóm hộ nghèo từ năm 1993 đến nay 11
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 12
2.2.1. Tình hình chung về kinh tế hộ trong khu vực và trên thế giới 12
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước trong khu vực 13
v
2.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số địa phương ở Việt
Nam 14
2.3. Quá trình phát triển kinh tế hộ ở nước ta 17
2.3.1. Quá trình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam 17
2.3.2. Xu hướng phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta 18
2.4. Các bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông dân ở
Việt Nam nói chung và cho xã Hòa Mục nói riêng 19
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
3.2.Địa điểm và thời gian tiến hành 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đi lên từ một nước có nên nông nghiệp lạc hậu, trên 70% dân số làm nông
nghiệp, vì vậy nền nông nghiệp nước ta có vai trò rất quan trọng, ngoài đóng góp
vào ngân sách nhà nước với tỷ trọng lớn nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc
ổn định và phát triển kinh tế đất nước.
Sau những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có những chuyển biến rõ
rệt. Nhà nước đã có những chính sách, chương trình…các doanh nghiệp trong và
ngoài nước đầu tư nhiều hơn nhằm tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển,
đưa đất nước từ một nước nhập khẩu lương thực thành một nước xuất khẩu gạo
đứng thứ 2 trên thế giới.
Ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, kinh tế nông nghiệp đã
và đang là ngành kinh tế trọng yếu của nước ta. Đặc biệt chúng ta đã bước vào hội
nhập kinh tế quốc tế, một nhu cầu tất yếu đặt ra cho kinh tế nông nghiệp là xóa bỏ
việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán. Kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc
tế đòi hỏi chúng ta phải có các mô hình sản xuất mới hợp lý hơn để đáp ứng yêu cầu
của sản xuất hàng hóa. Trước yêu cầu đó kinh tế hộ nông dân đã và đang tồn tại,
phát triển ngày càng nhanh trên mọi vùng, mọi khu vực trên cả nước.
Hộ gia đình nông dân được xác định và trở thành đơn vị kinh tế sản xuất tự
chủ. Kinh tế hộ nông dân đã phát huy tính năng động sáng tạo, tích cực trong sản
xuất kinh doanh làm cho nông nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ. Từ chỗ thiếu
lương thực nay trở thành nước xuất khẩu gạo và một số mặt hàng nông sản khác.
Những năm gần đây, do cơ chế đổi mới của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu
của phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế hộ nông dân đã có
những bước phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng trong việc
- Thực trạng phát triển của kinh tế hộ nông dân xã Hòa Mục giai đoạn 2012 -
2014 và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ nông dân xã Hòa
Mục những năm tới.
3
1.3.Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên phần nào thấy được những khó khăn cũng như tiềm
năng, nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu, từ đó có những giải pháp nhằm phát triển
kinh tế nông thôn tại địa phương.
- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện
kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các cơ
quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phương
đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân đồng thời nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Hòa Mục nói riêng và người dân
nông thôn nói chung.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.Cơ sở khoa học
2.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, và kinh tế nông hộ
Khái niệm hộ:
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là
tất cả những người cùng sống trong một mái nhà - nhóm người đó bao gồm những
người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit phân tích (Roemer -
1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson,
1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa
nhà nước và nông dân. Mối quan hệ đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư
kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư
và thúc đẩy việc luân chuyển. Nhìn chung bất cứ một quá trình phát triển nào cũng
phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là
hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". Đào Thế Tuấn (1997) cho
rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng,
bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn
theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001
cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường
xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ
nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông
thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". [7]
Khái niệm kinh tế nông hộ:
Theo giáo sư Trần Văn Hà thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh
doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà. Người chủ sản
xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố
6
lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm
ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng
xã hội”.
Theo “Bài giảng kinh tế lâm nghiệp” của thầy Trần Công Quân (Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên) thì: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản
và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất
đai, sức lao động, tiền vốn của gia đình mình là chính”.
lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp
lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người
hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong
nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc
đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức
kinh doanh nào có được.
- Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử
dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người
đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo
quản cao nhất. Bởi vì chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình [9].
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ
2.1.4.1.Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển
của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: gần đường giao
thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung
tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp. Đất đai là yếu tố quan
trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền
với ruộng đất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá
trình sản xuất. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có
liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản
phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được.
8
- Khí hậu thời tiết và môi trƣờng sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều kiện
thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ
đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy ở những nơi thời tiết
khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ
cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất của các
nông hộ.[2].
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao
thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông nghiệp
Đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế hộ nông dân.
Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì ở đó sản xuất phát triển, thu
nhập tăng, đời sống của người dân được ổn định và cải thiện.[2].
- Thị trƣờng
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? Với số lượng bao
nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường, các hộ
nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện
sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát triển.[2].
2.1.4.3.Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu
giống cây, con giống khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau. Trong
nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế
cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu
biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp, họ giàu lên rất nhanh.
Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật,
máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như
vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc
10
11
2.1.6. Tiêu chí phân loại nhóm hộ nghèo từ năm 1993 đến nay
Bảng 2.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ
từ năm 1993 đến 2015
Giai đoạn
Đơn vị tính
Hộ đói
Hộ nghèo
(Dƣới mức)
(Dƣới mức)
1. Giai đoạn 1993 – 1994
Gạo Khu vực nông thôn
Kg/người/tháng
8
15
Khu vực thành thị
Kg/người/tháng
13
20
2. Giai đoạn 1995 – 1997
Gạo Vùng nông thôn miền núi, hải đảo
Kg/người/tháng
13
Đồng/người/tháng
-
80
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du
Đồng/người/tháng
-
10
Vùng thành thị
Đồng/người/tháng
-
150
5. Giai đoạn 2006 – 2010
Tiền Khu vực nông thôn
Đồng/người/tháng
-
200
Khu vực thành thị
Đồng/người/tháng
-
260
6. Giai đoạn 2010-2015
Tiền Khu vực nông thôn
Đồng/người/tháng
phẩm hàng hoá thu được từ nông thôn.
- Ở Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu hết
sức kinh ngạc trong phát triển kinh tế hộ. Họ có mô hình " hộ tự chịu trách nhiệm"
là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông thôn.
- Ở Thái Lan đã sử dụng kinh tế hộ theo mô hì nh kinh tế trang trại nhỏ, chủ
yếu là để phát triển sản xuất nông nghiệp, họ đã đạt tốc độ phát triển cao và khá ổn
định, tốc độ tăng trưởng của họ là do kinh tế hộ đem lại.
Nhìn chung hầu hết ở các nước trên thế giới kể cả các nước phát triển, đang
phát triển đều coi trọng kinh tế hộ, vì đây là đơn vị kinh tế tự chủ, nó phù hợp với
đặc thù trong sản xuất nông nghiệp.
13
2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước trong khu vực
2.2.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Thái Lan
Trong những năm gần đây Thái Lan là một nước đứng đầu về xuất khẩu gạo
trên thế giới. Là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển ổn định. ở Thái
Lan kinh tế hộ phát triển mạnh và hầu hết là những nông trại sản xuất hàng hoá. Để
thúc đẩy kinh tế hộ phát triển Chính Phủ Thái Lan đã điều tiết vĩ mô như sau:
- Chính sách giá cả thị trường: Khi giá nông sản thấp, Chính phủ thường
dùng quỹ bình ổn giá cả bằng cách đặt mức giá tối thiểu, tạo nhu cầu dự trữ và điều
tiết hạn ngạch xuất khẩu gạo, đặc biệt để giảm bớt sự bóc lột của tầng lớp trung
gian, thương nhân, Chính Phủ hạ thấp giá mua vật tư, nâng giá bán buôn nông sản.
Về mặt thị trường Chính Phủ không ngừng nâng cấp và hoàn thiện hệ thống
cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển hệ thống đại lý tạo nên các kênh phân
phối liên tục từ nông thôn đến các thành phố lớn. Tăng cường thông tin thị trường,
quảng cáo và tổ chức các khóa đào tạo để nâng cao kiến thức về thị trường cho
người sản xuất.
- Chính sách đầu tư cho nông nghiệp: Đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng
đáng kể trong tổng đầu tư của Chính Phủ và tập trung vào 3 lĩnh vực lớn đó là: Đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn đối với các trung tâm kinh tế để mở rộng thị
Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất
hàng hoá có giá trị cao. Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ
yếu vào khuyến nông và tín dụng. Bên cạnh đó Chính Phủ Malaysia cũng chú trọng
việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế
hộ của người dân nước này có thu nhập cao và ổn định.
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước trong khu
vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta. Qua việc tìm hiểu, xem xét những
kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý giá, đồng thời xác định
được sự khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội riêng của nước mình để đưa ra những
chủ trương, đường lối phát triển sao cho phù hợp.
2.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số địa phương ở Việt Nam
- Ninh Bình: Hội nông dân tỉnh Ninh Bình đang thực hiện nhiều phương thức
giúp người nông dân phát triển kinh tế hộ: hỗ trợ vốn cho nông dân thông qua quỹ
15
hỗ trợ nông dân của các cấp hội, phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp cho hộ nông dân vay vốn chăn nuôi,
trồng trọt và phát triển sản xuất.
Hội nông dân các cấp trong tỉnh đã thành lập được 848 “tổ tiết kiệm” để thực
hiện việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn đến với từng nông dân được công bằng và
hiệu quả hơn. Những “tổ tiết kiệm” này sẽ cho các hộ nông dân trong thôn, xóm vay
để phát triển kinh tế theo hình thức quay vòng vốn, đến nay đã có trên 40 nghìn hộ
nông dân được hỗ trợ vay 340 tỷ đồng [11].
Hội nông dân tỉnh rất chú trọng tới việc mở các lớp tập huấn, chuyển giao
khoa học kỹ thuật giúp bà con có kiến thức và phương pháp để sử dụng nguồn vốn
có hiệu quả
- Bắc Ninh: Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Bắc Ninh có
nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho hộ vay sản xuất, trở thành một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích cực vào
công cuộc xây dựng và phát triển địa phương.
xuất. “Lối mở” này đang mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp của tỉnh, thêm cơ hội làm giàu và từng bước giải phóng sức lao động cho
người nông dân [13].
Thái Nguyên: Trong những năm qua, với sự nỗ lực của đảng bộ, chính
quyền và nhân dân địa phương, nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên đã có những
bước tiến dài và chuyển biến toàn diện. Trước xu thế hội nhập, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên tiếp tục hướng đến những mục
tiêu mới và tầm nhìn đó được cụ thể hóa bằng quy hoạch nông nghiệp, nông thôn
Thái Nguyên thời kỳ 2011 - 2020 . Một trong những mục tiêu phát triển tổng quát
của Thái Nguyên là phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
gắn với xây dựng nông thôn mới làm thay đổi cơ bản nông thôn Thái Nguyên về hạ
tầng, về văn hóa xã hội và về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn.
Nhờ đó mà mô hình kinh tế hộ nông dân được chọn làm mũi nhọn phát triển kinh tế
nơi đây.
17
Các mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một
lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại sản phẩm, đủ
điều kiện để cung cấp cho thị trường và xuất khẩu.
2.3. Quá trình phát triển kinh tế hộ ở nước ta
2.3.1. Quá trình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam
- Trong thời kỳ Pháp thuộc: ở thời kỳ này tuyệt đại bộ phận nông dân đi làm
thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hoá nhỏ theo kiểu cổ
truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ.
- Từ năm 1955 - 1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện chính sách cải cách ruộng đất với mục đích: "Người cày
có ruộng". Chính nhờ cải cách ruộng đất, cùng với công tác khuyến nông đã làm
cho kinh tế hộ có điều kiện để phát triển.
- Từ 1960 - 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất,
thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, song đây cũng chính là lúc tập thể bộc lộ rõ tính