ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG THỊ THU HUYỀN
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ
TẠI XÃ VĂN LĂNG - HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học: : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Cù Ngọc Bắc
Dương Thị Thu Huyền
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
ANQP An ninh quốc phòng
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
BQC Bình quân chung
CC Cơ cấu
CSHT Cơ sở hạ tầng
CN Công nghiệp
đ Đồng
ĐVT Đơn vị tính
GO Tổng giá trị sản xuất
Ha Hecta
IC Chi phí trung gian
KH – KT Khoa học – kỹ thuật
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
KT-XH Kinh tế - xã hội
Kg Kilôgam
NN Nông nghiệp
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Uỷ ban nhân dân
VA Giá trị gia tăng
XD Xây dựng
Bảng 3.19. Người dân được thụ hưởng công tác tập huấn
khoa học kĩ thuật 46DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu diện tích đất của xã Văn Lăng năm 2013 23
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 2
4. Bố cục của khoá luận 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, và kinh tế nông hộ 4
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ 6
1.1.3. Các đặc trưng của kinh tế hộ 6
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ 7
1.1.5. Các xu hướng phát triển của kinh tế hộ 9
1.1.6. Tiêu chí phân loại nhóm hộ nghèo từ năm 1993 đến nay 10
1.2. Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1. Tình hình chung về kinh tế hộ trong khu vực và trên thế giới 11
3.3. Mức độ đầu tư chi phí sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 36
3.3.1. Đối với ngành trồng trọt 36
3.4. Kết quả sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 39
3.4.1. Trồng trọt 39
3.4.2. Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi 41
3.5 Tổng hợp và đánh giá thu nhập của nhóm hộ điều tra 42
3.6. Tình hình chi tiêu và tích luỹ của nhóm hộ điều tra 42
3.7. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ của
xã Văn Lăng 43
3.7.1. Các yếu tố về nguồn lực 44
3.7.2. Về thị trường 45
3.7.3. Về khoa học công nghệ 46
3.7.4. Về cơ sở hạ tầng 47
3.8. Đánh giá chung về kinh tế nông hộ ở xã Văn Lăng 47
3.8.1. Khó khăn và vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế nông hộ
tại xã Văn Lăng 47
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TẠI XÃ VĂN LĂNG 49
4.2. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông hộ xã
Văn Lăng 49
4.2.2. Những giải pháp chung nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân
tại xã Văn Lăng 50
vi
4.2.3. Giải pháp về đất đai 50
4.2.4. Giải pháp về vốn 50
4.2.5. Giải pháp về nguồn nhân lực 51
4.2.6. Giải pháp về khoa học kỹ thuật 52
4.2.7. Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 53
4.2.8. Giải pháp về chính sách 53
4.2.9. Giải pháp về thị trường 54
thiếu lương thực nay trở thành nước xuất khẩu gạo và một số mặt hàng nông sản khác.
Những năm gần đây, do cơ chế đổi mới của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu
của phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế hộ nông dân đã
có những bước phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng trong
việc đổi mới kinh tế nông thôn như: tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Nhưng bên cạnh đó phát triển kinh tế nông hộ còn gặp nhiều vấn đề khó
khăn như: lao động dư thừa, khai thác đất quá mức, phương tiện kỹ thuật thủ
công, thô sơ, sản phẩm khó tiêu thụ, chưa bảo quản tốt sau thu hoạch gây tổn
thất rất lớn đến nông sản cũng như thu nhập của người dân. Ngoài ra còn một số
chính sách của Nhà nước chưa được phổ biến thường xuyên, cập nhập đến người dân.
Từ đó cần có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng kinh tế nông hộ và có
những biện pháp giải quyết những khó khăn, tồn tại nhằm tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các hộ nông dân để phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của
2
địa phương để khai thác hiệu quả và bền vững các nguồn lực sẵn có, hình thành
một loại hình kinh tế đặc trưng trong cơ cấu kinh tế đất nước
Văn Lăng là một xã thuộc huyện Đồng Hỷ nền sản xuất của xã nói chung
vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế
nông hộ của xã nói riêng đang dần phát triển theo đà phát triển chung của cả
nước nhưng nó cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn tồn tại cần được giải quyết.
Xuất phát từ thực trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại xã Văn Lăng – huyện Đồng Hỷ -
tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân từ đó đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã
Văn Lăng - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế hộ
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, và kinh tế nông hộ
Khái niệm hộ:
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ
là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà - nhóm người đó bao gồm
những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm
1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan
đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Giáo sư T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá
trình phát triển” ở một số nước Châu á đã nêu lên rằng: “Ở các nước Châu á hầu
hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không
(1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo
nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở
nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra
nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc
50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng,
bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
nghiệp". [3]
Khái niệm kinh tế nông hộ:
Theo giáo sư Trần Văn Hà thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh
doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà. Người chủ
sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những
yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh
thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia
đình và cộng đồng xã hội”.
Theo “Bài giảng kinh tế lâm nghiệp” của thầy Trần Công Quân (Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên) thì: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản
và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất
đai, sức lao động, tiền vốn của gia đình mình là chính”.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu
dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù
hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ
kinh tế xã hội.
6
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải
qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò của nó
7
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ
1.1.4.1. Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát
triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như:
gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu
thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều
kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp. Đất đai là yếu tố quan
trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền
với ruộng đất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong
quá trình sản xuất. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ
nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất
lượng sản phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được.
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều kiện
thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ
đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy ở những nơi thời tiết
khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ
hội để phát triển kinh tế.
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân, nhất là
nguồn nước. Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh
học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, con gia súc phát triển tốt, năng suất
cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn đến
hiệu quả sản xuất thấp kém.
1.1.4.2. Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu
cải thiện.
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? Với số lượng
bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường,
các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong
điều kiện sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát
triển.
1.1.4.3. Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với
yêu cầu giống cây, con giống khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác
khác nhau. Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng,
từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
và phát triển kinh tế nông hộ. 9
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế
cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất,
hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp, họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao
động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản
phẩm nông nghiệp. Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông
nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ
kỹ thuật làm thay đổi hẳn bằng sản xuất hàng hoá.
1.1.4.4. Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá
Hộ đói Hộ nghèo
(Dưới mức)
(Dưới mức)
1. Giai đoạn 1993 – 1994 Gạo
Khu vực nông thôn Kg/người/tháng 8 15
Khu vực thành thị Kg/người/tháng 13 20
2. Giai đoạn 1995 – 1997 Gạo
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20
Vùng thành thị Kg/người/tháng 13 25
3. Giai đoạn 1997 – 2000 Tiền
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng
45 55
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng
45 70
Vùng thành thị Đồng/người/tháng
45 90
4. Giai đoạn 2001 – 2005 Tiền
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng
- 80
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng
- 10
Vùng thành thị Đồng/người/tháng
phát triển sản xuất từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá, từ sản xuất tiểu
nông sang sản xuất trang trại. Mặc dù trong nền sản xuất nông nghiệp trên thế
giới tồn tại nhiều hình thức sản xuất khác nhau. Song các hộ nông dân, các
trang trại gia đình vẫn là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các mặt hàng nông sản
phẩm, đáp ứng cho nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người. Các hộ
nông dân đang đóng một vai trò chủ lực trong nền kinh tế sản xuất nông nghiệp
trên thế giới.
Từ những năm 1980 ở các nước Đông Âu, kinh tế hộ được đánh giá là
kinh tế phụ gia đình, nhưng trên thực tế nó lại đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
- Ở Hunggari sản phẩm hàng hoá nông trại gia đình chiếm 60% tổng sản
phẩm hàng hoá thu được từ nông thôn.
- Ở Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu
hết sức kinh ngạc trong phát triển kinh tế hộ. Họ có mô hình " hộ tự chịu trách
nhiệm" là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông thôn.
- Ở Thái Lan đã sử dụng kinh tế hộ theo mô hình kinh tế trang trại nhỏ,
chủ yếu là để phát triển sản xuất nông nghiệp, họ đã đạt tốc độ phát triển cao và
khá ổn định, tốc độ tăng trưởng của họ là do kinh tế hộ đem lại.
Nhìn chung hầu hết ở các nước trên thế giới kể cả các nước phát triển,
đang phát triển đều coi trọng kinh tế hộ, vì đây là đơn vị kinh tế tự chủ, nó phù
hợp với đặc thù trong sản xuất nông nghiệp.
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước trong khu vực
1.2.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Thái Lan
Trong những năm gần đây Thái Lan là một nước đứng đầu về xuất khẩu
gạo trên thế giới. Là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển ổn
định. ở Thái Lan kinh tế hộ phát triển mạnh và hầu hết là những nông trại sản
xuất hàng hoá. Để thúc đẩy kinh tế hộ phát triển Chính Phủ Thái Lan đã điều tiết
vĩ mô như sau:
12
- Chính sách giá cả thị trường: Khi giá nông sản thấp, Chính phủ thường
quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Tiếp sau đó là chính sách khuyến
khích mở rộng ngành nghề dịch vụ, phát triển hàng hoá, khuyến khích các thành
phần kinh tế trong nông thôn cùng phát triển.
13
+ Về đầu tư: Đầu tiên là việc tiến hành nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật.
Bên cạnh đó Chính Phủ còn tăng cường đầu tư tài chính, mở mang nhiều hình
thức tín dụng để nông hộ có điều kiện vay vốn phát triển sản xuất.
+ Về chuyển giao khoa học kỹ thuật: Việc kết hợp khoa học kỹ thuật với
tiềm năng kinh tế đã huy động và tận dụng mọi năng lực sẵn có trong dân đặc
biệt là nguồn vốn tự bỏ ra để không ngừng nâng cao mức sống của hộ và xây
dựng nền nông nghiệp hàng hoá.
1.2.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Malaysia
Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, sản
xuất hàng hoá có giá trị cao. Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập
trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng. Bên cạnh đó Chính Phủ Malaysia
cũng chú trọng việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó một vài
năm gần đây kinh tế hộ của người dân nước này có thu nhập cao và ổn định.
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước trong
khu vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta. Qua việc tìm hiểu, xem xét
những kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý giá, đồng
thời xác định được sự khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội riêng của nước mình
để đưa ra những chủ trương, đường lối phát triển sao cho phù hợp.
1.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số địa phương ở Việt Nam
- Ninh Bình: Hội nông dân tỉnh Ninh Bình đang thực hiện nhiều phương thức
giúp người nông dân phát triển kinh tế hộ: hỗ trợ vốn cho nông dân thông qua quỹ
hỗ trợ nông dân của các cấp hội, phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp cho hộ nông dân vay vốn chăn
nuôi, trồng trọt và phát triển sản xuất.
Hội nông dân các cấp trong tỉnh đã thành lập được 848 “tổ tiết kiệm” để
thực hiện việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn đến với từng nông dân được
tới một nền nông nghiệp hàng hoá thực sự. Muốn vậy, phải tích tụ ruộng đất.
Ruộng đất manh mún là nguyên nhân chính kìm hãm việc áp dụng cơ giới
hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, kìm hãm tiến trình sản
xuất nông nghiệp hàng hoá cũng như tiêu thụ nông sản theo hợp đồng. Chính vì
thế, để phát huy những thành tựu đã đạt được sau khi dồn thửa đổi ruộng năm 2003
cũng như khắc phục những hạn chế trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
tiến đến xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững. Định hướng đến năm
2020, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo tiếp tục thực hiện dồn thửa đổi ruộng,
khuyến khích tích tụ đất đai trên cơ sở thoả thuận, góp vốn bằng đất hoặc chuyển
nhượng đất để sản xuất nông nghiệp theo đúng pháp luật. Cùng với đó, tỉnh ban
hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ hỗ trợ cho chủ hộ có ruộng đất phát huy
được tư liệu sản xuất. “Lối mở” này đang mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp của tỉnh, thêm cơ hội làm giàu và từng bước giải phóng sức
lao động cho người nông dân.
Thái Nguyên: Trong những năm qua, với sự nỗ lực của đảng bộ, chính
quyền và nhân dân địa phương, nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên đã có
15
những bước tiến dài và chuyển biến toàn diện. Trước xu thế hội nhập, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên tiếp tục hướng
đến những mục tiêu mới và tầm nhìn đó được cụ thể hóa bằng quy hoạch nông
nghiệp, nông thôn Thái Nguyên thời kỳ 2011 - 2020 . Một trong những mục tiêu
phát triển tổng quát của Thái Nguyên là phát triển nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với xây dựng nông thôn mới làm thay đổi cơ bản
nông thôn Thái Nguyên về hạ tầng, về văn hóa xã hội và về đời sống vật chất,
tinh thần của cư dân nông thôn. Nhờ đó mà mô hình kinh tế hộ nông dân được
chọn làm mũi nhọn phát triển kinh tế nơi đây. Các mô hình kinh tế đều có sự
liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một lượng hàng hóa nhất định có sự thống
nhất về giá cả cho từng loại sản phẩm, đủ điều kiện để cung cấp cho thị trường
và xuất khẩu.
1.3. Quá trình phát triển kinh tế hộ ở nước ta
đang diễn ra và dần diễn ra ở quy mô càng lớn hơn. Việc tích tụ ruộng đất tạo
điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tiến tới một
nền sản xuất hàng hoá với quy mô lớn. Cùng với xu hướng chung của nền kinh
tế nông nghiệp, để khẳng định mình kinh tế hộ có thể phát triển theo 2 xu hướng sau:
+ Xu hướng 1: Một bộ phận nông hộ sẽ trở thành các chủ thể sản xuất
kinh doanh độc lập, sẵn sàng chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá.
Kết quả của quá trình tích tụ ruộng đất sẽ dẫn đến sự hình thành các trang trại
nông nghiệp, các trang trại này sẽ có điều kiện đầu tư tiến bộ khoa học, kỹ thuật
mới, đầu tư vốn đem lại lợi nhuận cao, đưa nền nông nghiệp nước ta sang một
giai đoạn mới.
+ Xu hướng 2: Một bộ phận nông hộ còn lại sau khi thực hiện quá trình
chuyển quyền sử dụng đất, sẽ chuyển lao động sang các ngành nghề phi nông
nghiệp, hoặc đi làm thuê. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn là sự hình thành các dịch vụ kinh tế kỹ thuật, phục vụ
cho nghề nông thương phẩm và đời sống của dân cư nông thôn. Đây là quá trình
kinh doanh tách khỏi ruộng đất.
Ở nông thôn hiện nay, hiện tượng một số nông hộ chuyển quyền sử dụng
đất để đi làm thuê đang diễn ra và dần tăng lên. Quá trình tích tụ ruộng đất càng
rõ nét ở đồng bằng Sông Cửu Long, còn ở đồng bằng Sông Hồng, sự tích tụ
ruộng đất chưa diễn ra trên quy mô hộ mà chỉ là giữa các lao động trong một
hộ. Toàn bộ ruộng đất của hộ chỉ do một hoặc hai lao động đảm nhận, các lao
động còn lại chuyển sang làm ngành nghề khác. Đây là xu hướng chung của quá
trình phát triển kinh tế hộ nói riêng và kinh tế nông nghiệp nông thôn nói chung.
Quá trình chuyển đổi này chỉ là bước đi đầu tiên của nền nông nghiệp hiện đại,
nó ra đời đòi hỏi chính sự nỗ lực của bản thân nông hộ cùng với sự kết hợp đồng
bộ của hệ thống chính sách về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới. 17
1.4. Các bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông dân ở
tiêu cơ bản mà Nhà nước đã đặt ra: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và
văn minh”.
Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào tình
hình thực tế của xã để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ
nông dân.
18
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân,
Đảng bộ, UBND xã đã chỉ đạo các ban ngành tìm mọi cách góp phần tăng năng
suất cây trồng vật nuôi, xây dựng cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với từng loại
đất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong canh tác.
Xã có chủ trương, giải pháp đúng đắn là khuyến khích nông dân tích cực
sản xuất, khai thác triệt để nguồn đất hiện có, áp dụng chính sách miễn thuế
nông nghiệp ở những vùng mới khai hoang, có chính sách vay vốn hợp lý để
người dân yên tâm đầu tư sản xuất. Tập trung thực hiện, chuyển đổi cơ cấu sản
xuất, thực hiện chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các cây
hoa màu khác thực hiện đa dạng cây trồng, vật nuôi.
Cán bộ khuyến nông xã xuống tận các hộ nông dân để tìm hiểu những khó
khăn trong quá trình phát triển kinh tế của các hộ để có thể giúp các hộ đưa ra
các giải pháp khắc phục.
Phát triển các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để thúc
đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển.