PHẦN 1
MỞ ĐẦU, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp do vậy ngành nông nghiệp đóng một vai
trò quan trọng trong sự phát triển của nước ta, nó cung cấp cho con người các
sản phẩm thiết yếu. Từ trước đến nay trồng lúa và nuôi lợn đã được xem như là
một nghề phổ biến ở các nông hộ. Ngày nay khi nhu cầu của con người càng cao
thì các sản phẩm nông nghiệp không những đáp ứng về số lượng mà còn về chất
lượng. Cũng vì vậy mà chăn nuôi gia cầm như gà, vịt ngày một phát triển. Các
sản phẩm được chế biến từ gia cầm đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của con
người.
Ở Huế các phong tục như cúng, tổ chức tiệc, lễ cưới hỏi rất được xem
trọng, các món ăn được chế biến từ gà , vịt thường được mọi người thích và chọn
là món chính và sang trọng, giá cả của các món ăn này cũng rất cao. Đó là lý do
vì sao việc nuôi gia cầm ngày càng phát triển.
Từ năm 2003 trở lại đây, nạn dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta đã gây
thiệt hại rất lớn cho những người nuôi gia cầm. Số lượng gia cầm đã giảm một
cách đáng kể từ 254,1triệu con (năm 2003) xuống còn 218,2triệu con (năm
2004), tăng trưởng số lượng gia cầm từ 7,92% (trước khi bị dịch bệnh: 2001-
2003) xuống còn 0,81% (sau khi bị dịch bệnh: 2004-2005) đồng thời số lượng
người tiêu thụ sản phẩm này cũng giảm dần.[7]
Nhưng kể từ đầu năm 2007, với các biện pháp phòng chống, xử lý của nhà
nước, của chính quyền địa phương đã một phần nào đó khắc phục tình trạng dịch
cúm xảy ra. Việc chăn nuôi gia cầm đã dần được khôi phục trở lại.
Xã Thủy dương, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế là một xã mà
việc chăn nuôi gia cầm đặc biệt là hoạt động nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt
được đánh giá là có hiệu quả. Chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng gà thịt có
thời gian nuôi ngắn (có thể rút ngắn từ 2-3 tháng), thời gian hoàn vốn nhanh do
vậy ngành chăn nuôi này rất được phổ biến ở các hộ dân. Trong năm 2007, để
đáp ứng các nhu cầu và góp phần tích cực trong việc đưa chăn nuôi gà công
1
2.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
2.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Sản xuất là một hoạt động có mục đích của con người, tác động lên các đối
tượng thông qua công cụ lao động nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu
cầu của bản thân và của xã hội.
Từ thực tiễn ta thấy rằng mục đích cuối cùng của hoạt động này đó là sản
xuất phải đạt được hiệu quả,nó tác động lên bản thân mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp, nhà nước. Do vậy khái niệm về hiệu quả kinh tế nói rằng: Hiệu quả sản
xuất là điều kiện để tích lũy và tái đầu tư mở rộng, nó là động lực thúc đẩy việc
mở rộng sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác nó là yếu tố sống còn của các
nhà sản xuất.
Cho nên hiệu quả kinh tế là một vấn đề không những được bản thân nhà
doanh nghiệp quan tâm mà còn là vấn đề của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là
một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ
quản lý và trình độ tổ chức của doanh nghiệp.
Các nhà sản xuất, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầu
đặt ra là phải hoạt động có hiệu quả,có như vậy mới có cơ hội để thâm nhập vào
thị trường,mới có điều kiện để tái sản xuất, tiếp cận được nhiều tiến bộ kỹ thuật
và áp dụng chúng vào sản xuất.
Dựa vào thực tiễn, một số quan điểm về hiệu quả kinh của các nhà nghiên
cứu kinh tế được phát biểu như sau:
Theo GSTS Ngô Đình Giao cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao
nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước"
Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là phạm trù khách
quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tiền
vốn) để đạt được các mục tiêu đã được xác định. [3] Theo quan điểm này thì
hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế mà sự vận động và biến đổi
3
không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ
của lao động xã hội, thước đo của hiệu quả là sự tiết kiệm lao động xã hội và tiêu
chuẩn của hiệu quả là tối đa hoá kết quả đạt được và tối thiểu hoá chi phí bỏ ra
dựa trên các nguồn lực hiện có. Vì vậy đánh giá các hiệu quả kinh tế cần phải
xem xét đến các nguồn lực, và chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt được
cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố thì khi đó sản xuất mới đạt đuợc hiệu
quả kinh tế.
2.1.3. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh giữa kết quả sản xuất kinh
doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Vì vậy để xác định hiệu quả kinh
tế ta cần chú ý đến các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả: Theo
nguyên tắc này tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu.
- Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích: Theo nghuyên tắc này, một phương
ánh được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích.
- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Để đánh giá hiệu quả các
phương án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được và
không lượng hóa được, tức là phải kết hợp phân tích định lượng và định tính.
Không thể thay thế phân tích định lượng bằng định tính khi chưa đảm bảo tính
chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà
chủ thể quan tâm. Nguyên tắc này đòi hỏi những căn cứ tính toán phải được
chính xác tránh tùy tiện.
- Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế: Theo nguyên tắc này, những
phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được trên cơ sở các số
liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu.
Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn để
nghiên cứu chủ yếu được trình bày dưới các dạng sau:
- Dạng thuận (Tổng quát): Hiệu quả chi phí được xác định bởi tỷ số giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra.
5
H:Hiệu quả
Q: Lượng kết quả đạt được
C: Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào
Q: Lượng kết tăng thêm
C: Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào tăng thêm
- Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa phần trăm tăng lên của kết quả
thu được và phần trăm tăng lên của chi phí bỏ ra. Nghĩa là nếu tăng thêm 1% chi
phí sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm kết quả đầu ra.
H = %
C / %
Q
Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả được tính toán trên cơ sở xác định được các
yếu tố đầu vào và các yêú tố đầu ra.
Tuy nhiên mỗi cách tính, mỗi quan điểm đều có những hạn chế nhất định,
chưa phản ánh hết các khía cạnh của hiệu quả kinh tế
6
Nếu hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi nhuận thuần túy thì hiệu quả kinh tế
chưa phản ánh được năng suất lao động xã hội, chưa thấy được sự khác nhau về
quy mô đầu tư, cũng như quy mô kết quả thu được trong các đơn vị sản xuất có
kết quả và chi phí như nhau.
Nếu hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả và chi phí sản xuất
thì cũng chưa hoàn toàn đầy đủ vì kết quả là sự tác động của nhiều yếu tố: Tự
nhiên, kinh tế, xã hội. Các yếu tố đó cần được phản ánh ở hiệu quả kinh tế.
Ngoài ra cơ cấu chi phí sẵn có khác nhau thì hiệu quả của các chi phí bổ sung
cũng khác nhau.
2.2. Ý nghĩa của việc chăn nuôi gia cầm.
Chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà công nghiệp nói riêng có ý nghĩa
rất lớn đến nền kinh tế nước ta hiện nay, đặc biệt rất phù hợp với điều kiện chăn
Thịt lợn
(1000tấn)
Thịt gia cầm
(1000tấn)
Trứng gia cầm
(1000quả)
1970 38349 60499 15101 19538
1975 43724 41764 18684 22322
1980 45551 52683 25965 26251
1985 49285 59973 31206 30764
1990 53363 69783 41041 35232
1995 54207 80091 54771 42857
2000 56951 90095 69191 51690
2005 60437 102523 81014 59233
Tốc độ
tăng(%)
57,6 186,4 436,5 203,2
(Nguồn: Tạp chí nông nghiệp - Bản tin chăn nuôi Việt Nam)
Số liệu bảng trên cho thấy: Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanh hơn
sản phẩm thịt bò và thịt lợn. Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ đạt
15,1 triệu tấn, thịt lợn là 38,3 triệu tấn, thịt bò 60,4 triệu tấn, nhưng đến năm
2005, sản lượng của các loại thịt này tăng lên tương ứng là thịt bò đạt 60,437
triệu tấn, thịt lợn đạt 102,523 triệu tấn, thịt gia cầm đạt 81,14 triệu tấn. Sản lượng
thịt gia cầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản lượng thịt lợn và băng 25% sản lượng
thịt bò nhưng đến năm 2005 sản lượng thịt gia cầm đã tăng cao hơn 25% so với
8
thịt bò và bằng 75% thịt lợn. Qua đó cho thấy tốc độ tăng trưởng của thịt gia cầm
trong giai đoạn này tang 436,5% trong khi đó tốc độ tăng trưởng của thịt lợn là
186,4% và thịt bò là 57,6%. Trứng gia cầm tăng từ 19,5 triệu quả năm1970 lên
59,2 triệu quả năm2005.
Tốc độ tăng của sản phẩm chăn nuôi nhanh hơn so với tốc độ tăng đàn gia súc
gia cầm đã chứng tỏ chất lượng con giống phần nào đã được nâng cao.
Tuy vậy từ năm 2003 do nạn dịch cúm H5N1 tái phát trên diện rộng nên số
lượng gia cầm đã giảm rất nhiều. Đến nay số lượng gia cầm từ 254,610 triệu con
(năm 2003) xuống còn 218,153 triệu con (năm2004). Đây là giai đoạn nạn dịch
lan truyền lớn làm tiêu hủy hàng trăm triệu con gia cầm và gây ra nhiều tổn thất
cho các hộ chăn nuôi gia cầm. Do vậy tốc độ trong hai năm từ 2003-2004 không
tăng mà giảm xuống một cách đáng kể. Mặc dù từ đầu năm 2005 chủ trương cho
chăn nuôi trở lại nhưng do tâm lý lo sợ của người chăn nuôi lẫn người tiêu dùng
nên chăn nuôi gia cầm chỉ đạt tăng trưởng là 1,876% về số lượng trong đó chăn
nuôi gà đạt 0,81% trong khi giai đoạn trước nạn dịch cúm tăng 7,6%.
Từ tháng 1 đến tháng 4/2005 và từ tháng 10 đến tháng 12/2005 tiêu thụ sản
phẩm gia cầm gặp nhiều khó khăn nhất là từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 12 thị
trường gia cầm đóng băng do sai lệch thông tin không ăn thịt gia cầm. Được sự
chỉ đạo sát sao quyết liệt của chính phủ, nông nghiệp và phát triển nông và phát
triển nông thôn ban chỉ đạo quốc gia và phòng chống dịch cúm gia cầm được
khống chế và thị trường thịt trứng gia cầm đã được khôi phục trở lại. [2]
2.4.2. Những tồn tại trong chăn nuôi gia cầm ở nước ta
Mặc dù nước ta là một nước nông nghiệp nhưng ngành chăn nuôi nói chung
và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng nhìn chung vẫn chưa được phát triển. Vì
các lý do sau:
- Năng suất chăn nuôi thấp
- Vẫn còn những vùng hoặc những tỉnh mà chăn nuôi không tập trung, còn
phân tán, mang tính tự cấp, tự túc manh mún, chưa có sự đầu tư (60% người
nông dân chăn nuôi gia cầm không quan tâm đến thị truờng, 30% người nông
dân có ý thức hơn nhưng không có lãi vì chất lượng giống thấp, kỹ thuật chưa
tốt, 10%chăn nuôi lớn, đang phát triển nhưng lại bị hạn chế bởi môi trường và
tính bền vững) [5]
- Thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật
10
2.4.3.2. Giải pháp về chính sách của nhà nứơc:
- Thực hiện hổ trợ vacxin tiêm phòng H5N1 trong vùng có dịch, ngoài vùng
dịch bệnh người nuôi gia cầm nộp lệ phí.
- Hổ trợ 100% kinh phí tiêu độc khử trùng cho các cơ sở chăn nuôi vùng
dịch xảy ra.
2.4.3.3. Giải pháp về thị trường:
- Kiểm tra giám sát chặt chẽ sản phẩm gia cầm lưu thông, không cho gia
cầm sống chưa tiêm H5N1 và sản phẩm gia cầm không có dấu kiểm dịch lưu
thông
- Quy hoạch các chợ hoặc khu vực trong chợ được phép buôn bán gia cầm
sống và sản phẩm gia cầm để dễ quản lý.
- Kiểm tra chặt chẽ việc nhập lậu gia cầm qua biên giới, kiên quyết tiêu hủy,
xử lý nặng các trường hợp nhập khẩu gia cầm trái phép qua biên giới
2.5. Tình hình chăn nuôi gà ở Thừa Thiên Huế
Cũng như các vùng khác, các ngành khác như trồng lúa, nuôi lợn thì việc
chăn nuôi gà ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có từ lâu. Bên cạnh phương thức nuôi
theo kiểu trang trại, tập trung như ở huyện Quảng Điền vẫn tồn tại hình thức
nuôi theo hộ gia đình quy mô nhỏ lẻ.
Chăn nuôi gà khác với các ngành chăn nuôi khác như nuôi lợn, trâu, bò,
lượng vốn đầu tư không lớn lắm, quy mô chăn nuôi của hộ tùy thuộc vào hoàn
cảnh của gia đình.
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh thuộc khu vực Bắc Miền Trung. Ở
đây điều kiện tự nhiên không thuận lợi, hàng năm phải gánh chịu những hậu quả
do lũ lụt và hạn hán gây ra. Tuy nhiên đối với chăn nuôi gà thịt thì bị ảnh hưởng
ít hơn. Vì vậy có thể coi chăn nuôi gà công nghiệp là một tiềm năng cho sự phát
triển chăn nuôi của tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong thời gian dịch cúm gia cầm tái
phát thì Huế là một trong những tỉnh chưa thấy ổ dịch lớn. Công tác kiểm soát
dịch bệnh ở đây rất được chú trọng đến. Các giống gia cầm được chuyển từ các
tỉnh khác đến đều được tiêu độc khử trùng ngăn ngừa dịch bệnh có thể xảy ra.
Nhưng do dịch bệnh bùng phát nhanh chóng và gây nguy hiểm đến con người
kém hơn nhưng có thể rút ngắn thời gian nuôi và giảm nguy cơ mắc dịch hơn và
tổn thất có thể được hạn chế, ngoài ra còn có các hình thức khác như nuôi theo
kiểu bán công nghiệp, nuôi gà công nghiệp theo kiểu chuồng lạnh
Mặc dù số lượng gà chiếm phần lớn hơn nhưng so với những năm gần đây
thì số lượng biến động một cách đáng kể. Số liệu bảng cho thấy từ năm 2002 số
lượng gà là 1.256.220 con thì đến năm 2003 với tốc độ tăng là 9%, số lượng lúc
này đạt được 1.363.260 con. Nhưng sau khi dịch cúm gia cầm tái phát trên diện
13
rộng số lượng giảm đi 281.860 con và chỉ còn 1.081.400 (vào năm 2004) tốc độ
giảm rất nhanh là 21%.
Nhìn chung kể từ năm 2003 trở lại đây, số lượng đàn gia cầm giảm đi rất
nhiều trong đó tổng đàn gà giảm 444.860 con với tỷ lệ gần bằng 32,63% so với
tổng số đàn gà năm 2003. Mặc dù Huế đến nay vẫn chưa tìm thấy "ổ dịch trầm
trọng" nhưng nạn dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền chăn nuôi nước ta
nói chung cũng như làm giảm một phần thu nhập của các hộ chăn nuôi nói riêng.
14
PHẦN III
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thuỷ Dương, Huyện Hương
Thuỷ, tỉnh TTHuế
- Tình hình hoạt động chăn nuôi gà thịt tại nông hộ của xã Thuỷ Dương
-Hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi gà thịt tại các nông hộ điều tra ở
xãThuỷ Dương
- Các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
chăn nuôi gà thịt tại địa bàn nghiên cứu
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh TTHuế là xã được xem là phát
triển làm ăn có hiệu quả nhất ở huyện. So với toàn huyện thì ngành nông nghiệp
15hộ khá, 15hộ trung bình, 5hộ nghèo, các hộ này phải là những hộ có chăn nuôi
gà thịt. Từ mẫu chọn hộ này chúng tôi đã có được quy mô nông hộ điều tra được
phân ra theo các mức so sánh sau: Quy mô từ 50 - 150con/lứa, từ 150
-400con/lứa, và lớn hơn 400con/lứa.
3.2.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
1) Cách tính toán các chỉ tiêu
- Giá trị sản xuất (GO)/lứa/hộ: Giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm
thu được trong một chu kỳ sản xuất
Công thức: GO = Tổng sản lượng * Đơn giá
Giá trị sản xuất chỉ tính cho những sản phẩm của quá trình lao động. Các
sản phẩm không do quá trình lao động tạo ra thì không được tính vào quá trình
sản xuất. Sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ được lao động sáng tạo ra phải
là những sản phẩm hữu ích, được xã hội chấp nhận được sử dụng vào các nhu
cầu tiêu dùng cuối cùng. Đối với các hộ chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng
thịt, giá trị sản xuất chính là việc thu lại tiền từ các hoạt động bán vật nuôi. Các
ngành chăn nuôi khác như nuôi lợn thì nông hộ còn thu được một lượng sản
phẩm phụ đáng kể như phân bón do vậy giá trị sản xuất bao gồm cả phần giá trị
16
này nhưng chăn nuôi gà thịt không tạo ra sản phẩm phụ nên giá trị sản xuất của
nông hộ cả năm 2007 là:
GO = Trọng lượng những con bán * giá bán của chúng tại thời điểm bán
-Chi phí sản xuất trung gian (IC)/hộ/năm hay IC/hộ/lứa: là toàn bộ chi phí
vật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản
phẩm gồm có:
+Chi phí vật chất : là chi phí do hộ gia đình bỏ ra trong các hoạt động dịch vụ
như khấu hao chuồng trại,công cụ lao động, vật liệu
+Chi phí dịch vụ: là chi phí cần thanh toán cho các hoạt động dịch vụ như chi
phí thú y, chi phí dịch vụ trả ngân hàng, tín dụng
- Thu nhập hỗn hợp (MI)/hộ/năm hay MI/hộ/lứa: Là phần thu nhập thuần
bao gồm cả công lao động của gia đình tham gia sản xuất.
Phía Tây giáp phường An Tây, xã Thủy Bằng
Phía Bắc giáp phường An Đông
Địa hình: Xã Thủy Dương gồm 2 vùng chính:
+Vùng đồng bằng địa hình tương đối bằng phẳng thuận tiện cho trồng trọt.
+Vùng gò đồi ở phía tây của xã, phù hợp với việc trồng cây hàng năm và cây
lâm nghiệp
Xã có quốc lộ 1A và đường sắt bắc nam đi ngang qua đường liên xã Thủy
Dương, Thủy Thanh, đường tránh Huế ở phía tây nối liền giữa 3 xã Thủy
Dương, Thủy Phương, Thủy Bằng, thuận tiện cho việc đi lại và phát triển kinh
tế.
4.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu:
Thời tiết khí hậu cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất. Thời tiết thuận lợi sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế. Vì vậy vấn đề nghiên
cứu các yếu tố này nhằm để so sánh hiệu quả qua các thời điểm nuôi, đồng thời
giúp cho người dân biết được đặc điểm thời tiết để có thể rút ra những kinh
nghiệm trong quá trình nuôi.
18
Xã Thủy Dương thuộc huyện Hương Thủy, tỉnh thừa thiên huế nên nhìn
chung chịu ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết chung của tỉnh.
Khí hậu tương đối phức tạp. Hàng năm chịu hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa
mưa kéo dài từ tháng 9 đến cuối tháng 2 năm sau và mùa nắng kéo dài từ tháng 3
đến tháng 9 trong năm, có khi khí hậu thay đổi đột ngột, thất thường chịu ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây nam nên thường kéo theo mưa và
lạnh ảnh hưởng đến quá trình chăn nuôi đặc biệt là nuôi gia cầm. Đồng thời xã
còn chịu ảnh hưởng của gió lào kéo theo những cái nắng gay gắt.
Nhiệt độ: Nhiệt độ ở đây thay đổi theo mùa. Nhiệt độ trung bình từ 21,2
0
-28,9
0
. Nhiệt độ cao vào tháng 6,7 và giữa tháng 8 với nhiệt độ từ 37,4
trong hoạt động sản xuất.
Ngoài ra hàng năm tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung cũng như xã Thủy
Dương nói riêng thường chịu nhiều bão nên thường ảnh hưởng đến trồng trọt
cũng như chăn nuôi. Tuy nhiên ở đây không bị lũ lụt trái lại thường bị xói mòn
nên đất đai không được bồi đắp hàng năm, mà còn cằn cỗi gây khó khăn cho
hoạt động trồng trọt.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Thủy Dương năm 2007
Trong sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố không thể thiếu, nó đóng góp một
phần quan trọng trong việc thành công hay thất bại của hoạt động sản xuất. Việc
sử dụng đất đai một cách thích hợp sẽ đóng góp vào việc tạo thêm thu nhập của
người dân. Đối với các hoạt động trồng trọt thì việc tìm hiểu nghiên cứu tính
chất của đất là rất quan trọng để từ đó nên bố trí loại cây trồng cho thích hợp.
Diện tích đất nông nghiệp không những ảnh hưởng đến ngành trồng trọt mà nó
còn ảnh hưởng đến chăn nuôi, diện tích đất lớn tạo nguồn thức ăn cho gia súc
lớn.
20
Bảng 4: Cơ cấu sử dụng đất của xã năm 2007
Tổng diện tích đất tự nhiên 1249,89 100,00
1 Tổng diện tích đất nông nghiệp 804,15 64,34
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 411,92 32,96
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 368,67 29,50
Đất trồng lúa 260,00 20,80
Đất trồng cây hàng năm khác 108,67 8,69
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 43,25 3,46
1.2 Đất lâm nghiệp 340,60 27,25
1.2.1 Đất rừng sản xuất 340,60 27,25
1.2.2 Đất rừng phòng hộ 0,00 0,00
1.2.3 Đất rừng đặc dụng 0,00 0,00
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 51,63 4,13
kinh tế của địa phương. Nhưng một khi dân số tăng trước sự phát triển kinh tế
của xã hội thì đây là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là vấn đề việc làm
cần được giải quyết. Do vậy mà chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu tình hình dân số
và lao động ở xã. Kết quả thể hiện ở bảng sau:
Số liệu bảng trên cho thấy: Tổng số hộ ở xã Thủy Dương tăng dần qua các
năm. Cụ thể là năm 2005 là 2198 hộ đến năm 2007 thì có 2289 hộ. Nhưng trái lại
thì số hộ thuộc lĩnh vực nông nghiệp giảm dần và thay vào đó thì các hộ thuộc
lĩnh vực phi nông nghiệp tăng lên một cách đáng kể. Năm 2005 số hộ hoạt động
nông nghiệp là 1.217 hộ chiếm 55,37% đến năm 2006 thì giảm xuống còn 1198
hộ chiếm 53,55% và đến năm 2007 thì có 1190 hộ chiếm 51,99%. Như vậy trong
22
2 năm 2005 - 2007 thì số hộ hoạt động nông nghiệp đã giảm 2,22% so với năm
2005.
Không những thế số lao động nông nghiệp trong các hộ cũng giảm dần:
Bình quân lao động /hộ của năm 2005 là 2,64 thì bình quân lao động nông
nghiệp /hộ có 1.78 lao động nhưng đến năm 2007 bình quân lao động /hộ là 2,61
lao động thì bình quân lao động nông nghiệp /hộ có 1,66 lao động, nếu tính theo
tổng số lao động của toàn xã thì năm 2005 có 3916 lao động nông nghiệp chiếm
67,51% thì đến năm 2007 còn lại 3797 lao động thuộc lĩnh vực nông nghiệp và
chiếm 63,67% tổng số lao động, trong đó tổng số lao động nữ nhiều hơn lao
động nam và một điểm đặc biệt đó là lao động nông nghiệp ở đây chủ yếu là lao
động nữ, nam giới chủ yếu làm các công việc phi nông nghiệp.
Qua đó ta thấy số lao động hoạt động nông nghiệp giảm dần. Nguyên nhân
dẫn đến số lao động nông nghiệp giảm là do hiện nay với việc sản xuất nông
nghiệp thì giá cả đầu tư vào quá cao mà thị trường đầu ra đang còn gặp nhiều
khó khăn và tình hình dịch bệnh cũng đang đe dọa các hộ chăn nuôi ở đây, điều
này đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân nên các hộ đã dần dần chuyển sang các
ngành nghề khác
23
bảng5
thì ở xã có khoảng 50ha trồng sắn (chủ yếu sử dụng giống địa phương) do năng
suất thấp, chưa có đầu ra ổn định, và chưa có thị trường tiêu thụ sản phẩm nên
chủ yếu người sản xuất tận dụng làm thức ăn cho lợn.
Việc trồng hoa cũng phần nào đóng góp vào thu nhập của một số hộ dân
nhưng không đáng kể do năng suất thấp, ở xã chỉ có 9 hộ trồng hoa, quy mô
không lớn lắm.
Hợp tác xã ở xã Thủy Dương đã có những bước xây dựng các kế hoạch chủ
động tạo ra những giải pháp để giúp người nông dân cải thiện cuộc sống, ở xã
25