ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THẾ HIỂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH
TRỒNG DONG RIỀNG TẠI XÃ THÀNH CÔNG,
HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học: : 2010 - 2014
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học: : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Đỗ Hoàng Sơn
Thái Nguyên, năm 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Ý nghĩa của khóa luận 3
3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
4. Bố cục của khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC 5
1.1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1.1. Khái niệm mô hình 5
1.1.1.2. Khái niệm đánh giá 6
1.1.1.3. Hiệu quả về kinh tế 8
1.1.1.4. Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế 11
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2. Khái quát về cây Dong riềng 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 24
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24
3.1.3.5. Y tế 44
3.1.3.6. Hạ tầng 44
3.1.4. Đánh giá chung về điều kiên tự nhiên và kinh tế xã hội xã Thành công46
3.1.4.1. Những thuận lợi 46
2
3.1.4.2. Những khó khăn 47
3.2. THỰC TRẠNG CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỦ DONG RIỀNG 47
3.2.1. Quá trình phát triển cây Dong riềng tại xã Thành Công 47
3.2.2. Thực trạng chế biến Dong riềng tại xã Thành Công 49
3.2.3. Thực trạng tiêu thụ Dong riềng xã Thành Công 50
3.2.4. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển cây Dong riềng tại xã
Thành Công 50
3.2.4.1. Những thuận lợi 50
3.2.4.2 Những Khó khăn 51
3.2.5. Những tồn tại trong phát triển Dong riềng tại xã Thành Công 51
3.2.6. Công tác tổ chức tập huấn mô hình 52
3.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY DONG RIỀNG 53
3.3.1. Khái quát thông tin về các hộ điều tra 53
3.3.2. Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cây Dong riềng 54
3.3.2.1. Chi phí đầu tư cho 1000m
2
54
3.3.2.2. Hiệu quả kinh tế trên 1000m
2
57
3.3.2.3. So sánh hiệu quả kinh tế tính cho 1000m
2
59
giữa cây Dong riềng và cây Sắn 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng phân bón đâu tư cho 1.000m
2
trồng Dong riềng 22
Bảng 1.2: Tóm tắt thời kỳ bón phân 23
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã thành công 33
Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu và lao động xã Thành Công. 37
Bảng 3. 3 Cơ câu kinh tế trong 3 năm 2011- 2013 39
Bảng 3.4 Diện tích, năng xuất và sản lượng Dong riềng của xã. 49
Bảng 3.5: Các hộ tham gia và không tham gia tập huấn năm 2013 52
Bảng 3.6: Thông tin cơ bản về nhóm các hộ điều tra 53
Bảng 3.7: So sánh chi phí cho việc trồng 1.000m
2
cây Dong riềng và cây Sắn55
Bảng 3.8: So sánh chi phí lao động cho việc trồng 1.000m
2
Dong riềng và Sắn56
hướng dẫn khoa học của Thầy giáo Th.S. Đỗ Hoàng Sơn.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa
hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nông Thế Hiển
LỜI CẢM ƠN
Với phương châm: ‘‘học đi đôi với hành’’, ‘‘lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà
trường gắn liền với xã hội”. Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên hàng năm tổ
chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp. Đây là cơ hội quý báu cho sinh
viên tiếp cận và làm quen sẽ làm sau khi ra trường. Được vận dụng những kiến thức
đã học và thực tiễn. Từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân.
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa Kinh tế & PTNT tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp:
‘‘đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình trồng Dong riềng trên địa bàn tại xã
Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã có nhiều cố gắng. Tuy
9 HN Hà Nội
10 HTX Hợp tác xã
11 KH&CN Khoa học và Công nghệ
12 KTNN Kinh tế nông nhiệp
13 NN&PTNT Nông nhiệp và Phát triển nông thôn
14 NQ Nghị quyết
15 NTM Nông thôn mới
16 NXB Nhà xuất bản
17 PGS.TS Phó giáo sư. Tiển sĩ
18 PTNT Phát triển nông thôn
19 STT Số thứ tự
20 THCS Trung học cơ sở
21 ThS Thạc Sĩ
22 TT Thứ tự
23 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
24 UBND Ủy ban nhân dân
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành Công là xã miền núi khó khăn của huyện Nguyên Bình (Cao
Bằng) với 2.730 nhân khẩu trong đó có tới 70% đồng bào dân tộc Dao sinh
sống. Trình độ dân trí thấp cộng với điều kiện đất đai, địa lý không thuận lợi
nên đời sống nhân dân rất khó khăn. Gần đây, việc mở rộng diện tích trồng
cây Dong riềng đã mở ra một hướng xóa đói giảm nghèo cho bà con nơi đây.
Chính quyền xã Thành Công đã nhận thấy cây Dong riềng rất phù hợp
với đất đai, thổ nhưỡng nên khuyến khích người dân mở rộng diện tích, quyết
tâm đưa cây trồng này trở thành cây trồng chủ lực giúp dân “xóa đói, giảm
địa phương. Thành Công là một xã miền núi của huyện Nguyên Bình, được đánh
giá là có lợi thế phát triển cây Dong riềng. Tuy nhiên để những Củ cây này được
thị trường chấp nhận và có thương hiệu thực sự thì không đơn giản, đồng thời
vẫn chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng hiệu quả kinh tế
còn chưa cao.
Tuy nhiên, so với tiềm năng của địa phương, thì việc sản xuất, kinh
doanh Dong riềng còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém. Diện tích trồng cây
Dong riềng chưa được mở rộng như tiềm năng đất đai vốn có, năng suất, chất
lượng và giá cả cây Dong riềng của xã còn thấp so với các địa phương khác.
Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính nhỏ lẻ thủ công,
dựa vào kinh nghiệm là chính, chưa hiệu quả và dẫn tới hiệu quả kinh tế
chưa cao.
Từ đó đề ra được những giải pháp, chiến lược phát huy lợi thế, khắc phục
những hạn chế thách thức, khó khăn, đưa toàn ngành chế biến theo hướng sản
xuất hàng hóa nâng cao sức cạnh tranh hội nhập kinh tế. Thấy được sử cần thiết
đó tôi đã lựa chọn nghiên cứu khóa luận: ‘‘Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô
hình trồng Dong riềng tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Kết quả của đề tài nhằm làm rõ hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng
3 Dong riềng tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Thấy rõ
được những ưu điểm và hạn chế của trồng Dong riềng so với các cây khác.
Trên cơ sở đó có định hướng và giải pháp nhằm phát triển Dong riềng theo
hướng hiệu quả và bền vững.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng phát triển cây Dong riềng tại bàn Phja Đén
vững mô hình trồng Dong riềng tại xã Thành Công
5 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa
dạng và phức tạp, con người có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp
nghiên cứu để tiếp cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có
những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng
rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan điểm nội
dung và cách hiểu riêng. Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình cùng
dạng nhưng thu nhỏ lại.
Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu
tạo và hoạt đông của một vật để trình bày và nghiên cứu.
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn
giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu
Mô hình được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về
+ Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông
qua các hoạt động đã chỉ ra.
- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết có khoa
học, lập mẫu cho phương pháp thống kê.
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo đếm định kỳ theo giai đoạn.
- Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
Đánh giá có nhiều loại khác nhau như sau:
* Đánh giá tiền khả thi/ khả thi
7 Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô
hình, để xem xét liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay không
trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ
thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô hình
hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem mô hình hay hoạt động có
được đưa và thực hiện hay không?
* Đánh giá thực hiện
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là
đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, có những cụ thể đánh giá
từng công việc ở từng giai đoạn nhất định.
Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho mô hình dài hạn.
Tùy theo mô hình có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ , có
thể là ba tháng, sau tháng hay một năm một lần.
Mục đích của đánh giá định kỳ là tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu,
những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi
hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo.
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc mô hình hay
hoạt động. Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của mô
hình. Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình
quốc dân có chức năng phát triển cho nông nghiệp. Với quan điểm này, Dong
riềng chỉ bao gồm các hoạt động về trồng Dong riềng, chăm sóc, nuôi dưỡng,
quản lý, bảo vệ nhằm cung cấp nông nghiệp đặc sản, mang lại hiệu quả kinh
tế cho người dân. Sản phẩm cuối cùng của cây Dong riềng là tạo ra cho
ngành nông nghiệp thành thục công nghệ; đó chỉ là những sản phẩm tiềm
năng, chưa thành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường.
9 Như vậy, quan điểm thứ nhất đã bộc lộ một số vấn đề tồn tại:
+ Một là khi đã khẳng định cây Dong riềng là một ngành sản xuất vật
chất nhưng sản phẩm cuối cùng lại chưa được lưu thông, trao đổi, mua bán
trên thị trường để thu hồi vốn tái sản xuất cho chu kỳ tiếp theo. Sản phẩm
được sản xuất và chế biến, tiêu thụ từ cây Dong riềng lại được thống kê,
hoạch toán vào tổng sản phẩm nông nghiệp.
+ Hai là về phương diện kỹ thuật sản xuất và chế biến, tiêu thụ có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau. Khai thác được xem là một trong những giải pháp
kỹ thuật tiêu thụ quan trọng trong tái sản xuất nông nghiệp.
+ Ba là về phương diện kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng của xây
dựng và phát triển là để thu hoạch và chỉ có thu hoạch mới thu hồi được vốn
để tái sản xuất mở rộng thêm cây Dong riềng.
* Một số lý luận chung về hiệu quả kinh tế:
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế. Chất lượng của các hoạt
động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường
khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để
phục vụ cho lợi ích của con người.
- Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của
các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu là với khối lượng tài nguyên
nguồn lực nhất định phải tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị lớn nhất. Nói
cách khác là ở một mức khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì phải làm
nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Tuy nhiều hạn chế
của cách đánh giá này là không xem xét đến hiệu quả kinh tế của tổng chi phí
bỏ ra.
Hiệu quả có nhiều loại như: hiệu quả kĩ thuật, hiệu quả phân bố, hiệu
quả kinh tế, hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội, tuy vậy hiệu quả kinh tế là
trọng tâm nhất.
11 Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các
hoạt động kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao
hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản
ánh trình độ tổ chức sản xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng
kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh
cũng như toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù
kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng hiệu quả kinh tế và phản ánh lợi ích
chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi nền sản xuất xã hội.
1.1.1.4. Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt
chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản
xuất xã hội. Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế xã hội khác
nhau và không giống nhau. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, mục đích
và yêu cầu của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể được đánh
giá theo từng góc độ khác nhau.
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện
những yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các
nguồn lực xã hội. Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác
định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được lượng hao
phí bỏ ra.
Trên quan điểm toàn diện, có ý kiến cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế
Kạn có kế hoạch trồng 2.100 ha cây dong riềng, nhưng do người dân một số
địa phương tự phát triển mở rộng nên tổng diện tích cây dong riềng toàn tỉnh
lên tới 2.943 ha; trong khi khả năng tiêu thụ củ dong riềng của các cơ sở chế
biến chỉ đáp ứng được 60 - 70% lượng củ Dong, dẫn đến giá tinh bột Dong và
củ Dong giảm mạnh.
13 Từ thực trạng trên, năm 2014, toàn tỉnh Bắc Kạn đề ra kế hoạch trồng
1.700 ha dong riềng. Tuy nhiên, do tâm lý của người dân lo sợ giá thành thấp,
không có lãi như năm 2013 nên tính đến trung tuần tháng 3/2014, cả tỉnh mới
trồng được hơn 570 ha, bằng 34% kế hoạch năm và bằng 19,5% so với cùng
kỳ năm 2013.
Sau 3 năm thực hiện chủ trương mở rộng diện tích trồng cây dong
riềng, cây trồng này đã thực sự trở thành cây trồng mũi nhọn trong cơ cấu
kinh tế ở hầu khắp các địa phương trên địa bàn tỉnh. Qua thực tế cho thấy đây
là cây trồng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán canh tác của nông
dân và cho thu nhập khá
Tuy nhiên, năm 2013 diện tích người dân trồng tự phát ngoài kế hoạch
tăng quá nhanh, không tương thích với khả năng của các cơ sở chế biến, điều
này khiến cho cây Dong riềng có nơi rơi vào tình trạng ế thừa, rớt giá. Hiện
nay là thời điểm chuẩn bị bắt đầu cho vụ trồng Dong riềng mới của năm 2014,
diện tích trồng mà tỉnh xây dựng kế hoạch chỉ gói gọn trong khoảng 1.700ha.
Để vụ Dong riềng tới đây và những năm tiếp theo không còn lặp lại cảnh
“khủng hoảng thừa nguyên liệu” như năm 2013, UBND tỉnh đã chỉ đạo các
địa phương hướng dẫn bà con trồng theo kế hoạch, quy hoạch vùng trồng
Dong riềng ở những nơi thuận tiện giao thông cũng như cơ sở chế biến.
Cây Dong riềng có lịch sử phát triển khá lâu tại Côn Minh. Cách đây
hơn 50 năm, người dân các thôn Lủng Vạng, Bản Lài đã trồng dong riềng để
lấy củ ăn. Đến những năm 1985, một số hộ dân từ miền xuôi lên khai hoang
lượng giống nhằm giữ vững nhãn hiệu tập thể miến Dong Bắc Kạn.
Chế biến nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, vốn ít, hầu hết đều chưa xây dựng
được công trình xử lý chất thải đạt yêu cầu, chỉ mang tính chất đối phó dẫn
đến gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vào lúc cao điểm, các khu vực