Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã bảo ninh – thành phố đồng hới – tỉnh quảng bình - Pdf 39

PHẦN I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ
bản, giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Chính vì vậy việc
đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm. Trong đó, sản xuất rau

uế

cũng là lĩnh vực rất cần thiết cho cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay.
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi và lao động dồi dào, nước ta có tiềm

H

năng lớn về sản xuất các loại rau quả có giá trị kinh tế cao như: dưa chuột, khoai tây,
cà chua, su hào, bắp cải v.v.

tế

Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người.
Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn nhiều đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chất

h

lượng và số lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh

cK

và phòng chống bệnh tật.

in

lớn. Trước đây, do điều kiện tự nhiên không thuận lợi và người dân chưa có kinh nghiệm
sản xuất nên việc sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là sản xuất rau gặp nhiều khó khăn và
thường chỉ tiến hành manh mún nhỏ lẻ. Trong thời gian gần đây, rất nhiều hộ dân ở xã
Bảo Ninh đã phát triển mạnh nghề trồng rau trên cát đã mang lại hiệu quả kinh tế khá
cao. Nhờ vậy, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, diện tích đất được khai
thác một cách triệt để, giải quyết được việc làm cho một bộ phận dân cư.

uế

Trước thực trạng đó, để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này tôi quyết định chọn đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã Bảo Ninh – thành

H

phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình”.

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:

tế

2. Mục đích nghiên cứu

h

- Đánh giá chính xác kết quả, hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát.

in

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau.



kiện thời gian và không gian nhất định. Đặc điểm của những hiện tượng này là đa dạng
và phức tạp nên người nghiên cứu phải phát hiện được tính quy luật từ sự đa dạng đó.
Nội dung gồm có :
+ Tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tích thống kê.
+ Phân tích tài liệu bằng các mô hình kinh tế lượng.
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Excel để nhập, xử lí dữ liệu
điều tra. Đồng thời áp dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy để xác định các yếu tố ảnh

uế

hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát.

H

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng
kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất để xác định mức độ, xu

tế

hướng tác động của hiện tượng. Trên cơ sở so sánh đưa ra những kết luận chính xác.
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp nghiên cứu dựa vào ý kiến của các

h

chuyên gia (nhà khoa học, nhà trồng rau có kinh nghiệm…). Phương pháp này giúp

in

chúng ta nắm tốt hơn về lý luận, định hướng và giải pháp cơ bản.



PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vai trò của việc sản xuất rau
Rau xanh là mặt hàng nông sản có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống con

khu vực nông thôn cũng như những vùng ven đô.

uế

người. Việc sản xuất rau có vai trò rất to lớn trong nhiều mặt của đời sống của nhiều

H

Rau là nguồn thực phẩm có tác dụng tốt đến sức khỏe con người, giúp con người
hấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng chất trong rau. Việc tăng cường rau quả vào khẩu

tế

phần ăn sẽ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe như giảm huyết áp, tăng cường khả năng
miễn dịch của cơ thể và phòng bệnh tật. Chúng còn cung cấp cho cơ thể nhiều chất

h

hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất

in

Về hiệu quả xã hội, khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, mọi thành viên
trong gia đình đều có thể tham gia trồng rau. Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải
quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Mặt khác do có hiệu quả kinh tế cao, trồng
rau làm tăng thu nhập cho người dân, cải thiện cuộc sống của họ qua đó góp phần ổn
định trật tự xã hội.
1.1.2. Những quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng, khai thác

uế

các nguồn lực và phương thức quản lý. Nó phản ánh mặt chất và mặt lượng của các
hoạt động kinh tế. Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn

H

tại thì phải đặt ra mục tiêu là hiệu quả kinh tế.

tế

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được
sử dụng. Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi

h

phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm [Lê Dân, 2007].

in

Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.


KQ : Kết quả thu được
C

: Toàn bộ chi phí bỏ ra

5


Phương pháp này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực, xem
xét một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại được bao nhiêu kết quả. Qua đó giúp
chúng ta có thể so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.
1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế
1.1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các chỉ tiêu phản ánh kết quả
sản xuất sau:

uế

- Giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu cho biết một năm hoặc một vụ thì đơn vị sản

H

xuất tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị là bao nhiêu, chỉ tiêu này phản ánh
quy mô về giá trị sản xuất mà ngành nông nghiệp tạo ra cho xã hội.

tế

Được xác định bằng công thức sau:
GO = Q * P
Q : Khối lượng sản phẩm

- Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng
phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành thành phần kinh
tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kì nhất định. Đó là nguồn gốc của
mọi khoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội. Nó không chỉ biểu hiện hiệu quả

6


của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính các
chỉ tiêu kinh tế khác.
Được xác định bằng công thức sau:
VA = GO – IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập (gồm cả công lao động và lãi) nằm
trong giá trị sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định
(TSCĐ), thuế.

uế

Được xác định bởi công thức sau:

H

MI = VA – khấu hao TSCĐ – thuế, phí, lệ phí phải nộp

- Khấu hao TSCĐ (chi phí cố định): là phần giá trị của tài sản cố định bị hao mòn

tế

trong quá trình sản xuất.


ại

S : Diện tích gieo trồng

1.1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các nhóm chỉ tiêu phản ánh

hiệu quả sản xuất sau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư:
+ GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản
xuất.

7


+ VA/IC: Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản
xuất.
+ MI/IC: Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ
sản xuất.
+ LN/IC: Lợi nhuận trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một đồng chi

H

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sức lao động:

uế



được bà con nông dân quan tâm. Nó cho biết trên một diện tích sản xuất ra được bao
nhiêu sản phẩm. Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng, đứng trên góc độ nông nghiệp, một phương pháp
thông dụng nhất được sử dụng đó chính là phương pháp phân tích hồi quy đối với hàm
sản xuất Cobb – Douglas .
Hàm sản xuất Cobb- Douglas có dạng:

Y  A. X11. X 2 2 . X 3 3. X 4 4

(*)

8


Trong đó:
Y: là biến phụ thuộc, Y là các chỉ tiêu về kết quả như năng suất, thu nhập, GO,
VA…
A: là hệ số xác định, đo lường mức độ biến động của Y xảy ra ngoài các tác động
của các biến X.
X1: là các biến phân Đạm (N).

uế

X2: là biến phân phân Lân (P)
X3: là biến phân Kali (K)

H

X4: là biến phân chuồng

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây tình tình sản xuất và tiêu thụ rau quả của các nước trên

thế giới có nhiều sự biến động. Để hiểu rõ hơn vấn đề này ta xem xét tình hình sản
xuất và thị trường các mặt hàng rau quả của một số nước. Theo nguồn số liệu thống kê
từ Rau – Hoa – Quả Việt Nam cho thấy:
- Trung quốc:
Hiện nay, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà chua.
Năm 2009, sản lượng cà chua của Trung quốc được dự báo đạt mức kỷ lục 39,5 triệu

9


tấn. Phần lớn sản lượng cà chua được sử dụng cho công nghiệp chế biến, làm tương cà
chua. Lợi nhuận từ cà chua đã thúc đẩy một số nông dân trồng bông chuyển sang canh
tác loại cây này trong niên vụ tới.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Nga, chiếm trên 70% tổng lượng xuất khẩu. từ
tháng 1-5/2009, xuất khẩu cà chua của Trung quốc đã tăng 10%, đạt 23.000 tấn, nhờ
nhu cầu tăng nhanh tại Hồng Kông, Việt nam. Tuy nhiên, xuất khẩu sang Nga lại giảm
12% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 35.000 tấn.

uế

Theo số liệu thống kê từ Bộ nông nghiệp Trung Quốc, tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu nông sản của Trung Quốc trong bốn tháng đầu năm 2010 đã tăng 33,1% so với

H



Năm 1993, Ấn Độ xuất khẩu 68,500 tấn rau đã qua chế biến. Và kể từ đó đến

nay, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lượng xuất
khẩu đạt 16%. Trong đó, lượng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lượng xuất khẩu
rau tươi của Ấn Độ. Ngoài ra Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tươi khác
như: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt…Các thị trường nhập khẩu rau tươi chủ yếu
của Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri Lanka, Malaysia và Singapo. Mặc dù,
đứng thứ 2 thế giới về sản lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau
Ấn Độ còn thấp hơn so với các nước khác trên thế giới. Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu
rau tươi không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến.

10


Các loại rau như: khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lượng
chiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ. Rau tươi của Ấn Độ hiện được trồng
phổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát triển, hiện tại ở các quốc
gia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp cho
sản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều. Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang đề
nghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụng
hạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng rau

uế

của Ấn Độ.
- Ucraina:

H



ngạch xuất khẩu cùng kỳ năm tài khóa trước là 58,9 triệu USD. Tuy nhiên, so với kim
ngạch xuất khẩu đạt 6,56 triệu USD trong cùng tháng của năm 2009, xuất khẩu trong
tháng 4/2010 đã tăng 70,53 %.
Xuất khẩu rau trong tháng 4/2010 của Mỹ đạt 15,13 triệu USD, giảm 32,04 % so

với kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2010 là 22,26 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu rau
trong tháng 4 năm 2010 đã tăng 49,30 % so với tháng 4/2009 với kim ngạch xuất khẩu
rau chỉ đạt 10,13 triệu USD.
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu rau củ quả sang Nhật Bản lớn thứ hai chỉ sau
Trung Quốc, trong 10 tháng đầu năm 2010, đã xuất khẩu được 789 ngàn tấn rau củ
quả, đạt tăng trưởng 11,2% về lượng và 9,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

11


- Nhật Bản
Theo số liệu thống kê của Nhật Bản, xuất nhập khẩu hàng rau củ quả của Nhật
Bản sang các thị trường chính trong tháng 10/2010 đạt trên 240,2 nghìn tấn, kim ngạch
đạt 37,41 tỷ yên. Tính chung 10 tháng đầu năm 2010, tổng lượng xuất khẩu rau quả
của Nhật Bản đạt 30,68 nghìn tấn, kim ngạch đạt 387,37 tỷ yên.
Xuất khẩu rau củ quả của Nhật Bản trong tháng 10/2010 tập trung vào hai thị
trường chính là Đài Loan và Trung Quốc. Trong đó, Đài loan vẫn là thị trường có

uế

lượng nhập khẩu cao nhất là 1791 tấn, với kim ngạch xuất khẩu đạt 755,2 triệu yên,
nhưng lại giảm 21,9% về lượng và 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

H

minh sớm và phát triển vào bậc nhất toàn cầu, vì thế cũng là khu vực có khối lượng
giao dịch thương mại khổng lồ, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu và 46% tổng
kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ,
Italia, và Tây Ban Nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU. Sản lượng rau
quả của ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua.
Theo thống kê của Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài (FAS) thuộc Bộ Nông
nghiệp Mỹ, một số mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của EU như sau:
+ Thổ Nhĩ Kỳ là nước xuất khẩu nhiều cà chua nhất tại EU, chủ yếu sang Nga
và Đông Âu. Trong 5 tháng đầu năm 2009, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu 335.000 tấn cà
chua, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước.

12


+ Xuất khẩu khoai tây đông lạnh của EU giảm 10 % trong niên vụ 2008-2009,
xuống còn 440.000 tấn do nhu cầu giảm tại Ả Rập Xê Út, Nga, và Brazil. Đây là ba thị
trường tiêu thụ khoai tây đông lạnh lớn nhất của EU, với mức tiêu thụ chiếm khoảng
một nửa xuất khẩu của EU.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông,
miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm rau của Việt Nam rất

uế

đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến các loại rau xứ

1.2.2.1. Diện tích gieo trồng và năng suất rau

H



họ

STT

2005

2010

164,3

229,3

Sản lượng
2010/2005

(1000 tấn)

(%)

2010/2005
(%)

2005

2010

39,56

2.852,8


670,2

1.020,6

52,28

4

DH Nam Trung Bộ

44

57,1

29,77

616,4

896,1

45,38

5

Tây Nguyên

49

72,9


190,5

20,11

2.732,6

4.102

50,11

8

Cả nước

635,1

810,6

27,63

5.792,2 13.930,7

140,51

(Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả và tính toán của tác giả)

13




cK

xuất cây công nghiệp như cao su, cà phê mà còn phù hợp với sản xuất rau. Vùng có
diện tích tăng thấp nhất là Đông Nam Bộ tăng 07,72%.

họ

- Đối với sản lượng rau thì Bắc Trung Bộ là vùng có sản lượng rau tăng lớn nhất
tăng 52,28%, tiếp đến là ĐB sông Cửu Long tăng 50,11% và thấp nhất là vùng Tây
Nguyên tăng 36,69 %. Nếu tính chung cho cả nước thì sản lượng rau năm 2010 tăng

Đ
ại

so với năm 2005 là 140,51%. Với diện tích đất trồng rau tăng không nhiều tăng
27,63% so với năm 2005 nhưng sản lượng rau tăng lên rất lớn, điều này cho thấy
người dân đã có các biện pháp canh tác hợp lý nhằm tăng năng suất cây trồng như các
biện pháp luân canh, xen canh cây trồng; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
trong sản xuất; chăm sóc, phòng bệnh kịp thời…
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an
toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới
và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt…

14


Theo đánh giá của Viện nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại
rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà
chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau....phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong


thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà
plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng

họ

rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây
quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính có điều khiển kiểm soát các yếu

Đ
ại

tố môi trường.

1.2.2.2. Một số vùng trồng sản xuất rau hàng hoá tập trung
- Miền Bắc:

+ Sản xuất rau ở Hà Nội: Năm 2010, tổng diện tích gieo trồng rau các loại của

thành phố Hà Nội có 12,1 ngàn ha, năng suất đạt 196,2 tạ/ha, sản lượng 170,8 ngàn
tấn.
Chủng loại rau rất phong phú, đa dạng. Các loại rau ăn lá như cải xanh, rau
muống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi...chiếm ưu thế về diện tích và sản
lượng (chiếm khoảng 70 –80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao. Tuy nhiên sản xuất
rau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống nên chất lượng rau không

15


đảm bảo. Do đó chủ chương của thành phố là đẩy nhanh việc xây dựng các vùng sản


cK

+ Thái Bình đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp mang tính
chuyên canh với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai tây ở

họ

huyện Quỳnh Phụ; dưa chuột, ngô bao tử, sa lát ở huyện Thái Thụy... Một số rau màu
xuất khẩu được tỉnh mở rộng gieo trồng: khoai tây Đức, Hà Lan; ớt Đài Loan, Hàn
Quốc, Nhật Bản; cải bắp cuộn, bí xanh, đậu cô ve Trung Quốc; khoai lang Nhật và cà

Đ
ại

chua bi... để tăng giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất.
+ Trồng măng ở Đan Phượng – Hà Tây: Cây măng Điền Trúc, có nguồn gốc từ

Trung Quốc, được trồng ở xã Song Phượng, Đan Phượng, Hà Tây; trên diện tích đất
chân đồi bạc màu. Sau 12 tháng trồng cho thu hoạch, sau khi trừ mọi chi phí, thu lãi từ
60 –70 triệu đồng/ha. Trồng măng Điền trúc cho giá trị kinh tế cao là vì sản phẩm của
nó có khả năng tận thu cao.
- Miền Trung:
Sản xuất rau hàng hoá xuất khẩu Quỳnh Lưu, Nghệ An:

16


Sản xuất rau ở xã Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu vào chính vụ (vụ Đông và Hè
Thu), bình quân mỗi ngày nông dân trong xã đưa ra thị trường từ 45 đến 50 tấn rau. Xã


+ Trồng nấm tại tỉnh Vĩnh Long

Dự án cung cấp giống chương trình nấm thực phẩm đã hỗ trợ nông dân ở 20 xã

họ

trồng trong vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông với diện tích 834,5 ha nấm rơm.
+ Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang

Đ
ại

Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang lên đến 45.000 ha, mỗi năm cho sản
lượng xấp xỉ 550.000 tấn với tổng thu nhập khoảng 160 tỷ đồng. Vùng trồng rau an
toàn của tỉnh được quy hoạch ở các xã Thân Cửu Nghĩa, Long An, Phước Thạnh,
Tân Hiệp; Long Bình Điền, Bình Phan, Bình Phục Nhất (Chợ Gạo); Bình Nhì,
Long Vĩnh (Gò Công Tây); Mỹ Phong, Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho) và
Long Hưng (thị xã Gò Công)
+ Vùng trồng nấm Tân Phước - Tiền Giang
Toàn huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có khoảng 600 ha nấm rơm, chủ yếu
trồng tập trung ở các xã Tân Hoà Tây, Mỹ Phước, Phước Lập, Thạnh Mỹ, Tân Hoà

17


Đông… giá nấm rơm khoảng 22.000 – 25.000 đồng/kg, có khi lên đến 30.000
đồng/kg, vốn đầu tư thấp, nguồn nguyên liệu sẵn có (rơm rạ), kĩ thuật đơn giản.
+ Vùng sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng
Diện tích trồng rau tại Lâm Đồng năm 2010 đạt khoảng 37.315 ha, sản lượng

triệu USD, trong đó phần lớn là từ quả chế biến. Sản phẩm rau cho xuất khẩu chủng
loại rất hạn chế, hiện chỉ một số loại như cà chua, dưa chuột, ngô ngọt, ngô rau, ớt,

họ

dưa hấu ở dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô đặc, đông lạnh và một số
xuất ở dạng tươi.

Đ
ại

Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vào lượng hàng
nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng một mặt hàng
nông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất.
Sản phẩm rau trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và nó rất dễ bị hư hỏng

trong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơ chế và kho bảo quản
tạm thời.

18


1.2.2.4. Tình hình xuất khẩu rau quả ở Việt Nam
- Kim ngạch xuất khẩu:
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau quả tiếp
tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao trong tháng 10 năm 2010, đạt 36,2 triệu USD,
tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 10 tháng năm 2010, kim ngạch xuất
khẩu rau quả đạt 337,8 triệu USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2009.
Rau quả là một trong 9 mặt hàng nông sản được Bộ Công thương đưa vào kế


họ

25

T2

T3

T4

T5

T6

T7

T8

T9

T10

T11

T12

N¨m 2008

27.9


32.5

33.6

42.6

21.5

25.2

38.6

32

38.4

47.4

N¨m 2010

40

31.7

45.8

39.3

33.3


T10/2009

T10/2010 2010/2009

10T/2009

10T/2010

2010/2009

(USD)

(USD)

(%)

Thị trường
(USD)

(%)

5.664.143 7.187.998

26,9 42.706.629 52.146.423

22,1

Nhật Bản

2.622.511 3.175.823


922.383 1.298.735

Hàn Quốc

471.036

tế

-39,1 17.060.184 16.659.538

-2,3

7.228.204 12.531.884

73,4

40,8

8.119.003 12.344.000

52,0

838.773

78,1

7.753.891

9.147.057


918.774

6,3

4.651.731

6.377.345

37,1

570.871

768.186

34,6

4.711.061

5.908.615

25,4

cK

Đ
ại

CHLB Đức


1.152.968

576.067

-50,0

4.845.454

5.441.065

12,3

Pháp

487.613

340.767

-30,1

4.484.070

4.896.471

9,2

Hồng Kông

602.403


19,3

2.599.063

3.010.572

15,8

Ucraina

117.327

365.112

211,2

1.368.530

872.503

-36,2

(Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương Mại)

20


Cơ cấu thì trường rau quả trong tháng 10 hầu như không có sự thay đổi. Trong số
những thị trường chính nhập khẩu rau quả của Việt Nam thì Trung Quốc vẫn là thì
trường đạt kim ngạch cao nhất với hơn 7 triệu USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm

giảm nhẹ với mức giảm 22,1%.

Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường Ucraina đã giảm đáng kể trong 10

họ

tháng. Mặc dù trong tháng 10 kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăng
rất mạnh (tăng 211,2%) nhưng trong 10 tháng qua kim ngạch xuất khẩu rau quả sang

Đ
ại

thị trường này chỉ đạt 0.873 triệu USD, giảm 36,2% so với cùng kỳ năm 2009.

21


1.2.3. Tình hình sản xuất rau ở Quảng Bình
Theo số liệu niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2009 ta có:
Bảng 3: Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt
(Đơn vị tính: Triệu đồng)

1

Toàn ngành trồng trọt

2

- Cây hàng năm


610.723

5

+ Cây lương thực khác

6

+ Cây chất bột có củ

7

+ Rau đậu các loại

8

+ Cây công nhiệp hàng năm

9

+ Cây hàng năm khác

49.762

67.110

79.261

108.493


- Cây lâu năm

cK

in

82.745

+ Cây công nghiệp lâu năm

122.374

134.400

149.998

12

+ Cây ăn quả

73.785

67.432

120.200

7.981

11.602



(Nguồn: Cục Thông kê tỉnh Quảng Bình)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, giá tri sản xuất của rau đậu các loại năm 2009 đạt
172.065 triệu đồng chiếm 0,83% trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành trồng trọt
và chiếm 0.98% trong tổng giá trị sản xuất của cây hàng năm, tăng 1,69 lần so với năm
2008 và 2,08 lần so với năm 2007.
Theo thống kê và phân tích từ Website Hội nông dân Việt Nam cho thấy:

22


Diện tích trồng rau ở Quảng Bình những năm gần đây có biến động không lớn: từ
5.500 đến 6.000 ha, riêng vụ đông xấp xỉ 2.000 ha. Năng suất rau khoảng 95 tạ đến
100 tạ/ha. Rau được sản xuất trên địa bàn bao gồm các nhóm: rau ăn lá, rau ăn củ và
rau gia vị; trong đó diện tích trồng các loại rau ăn lá chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60%.
Hầu hết các huyện, thành phố đều trồng rau song chủ yếu tập trung ở các huyện vùng
cát ven biển như Bố Trạch, Quảng Trạch, Lệ Thủy và Đồng Hới. Rau ăn lá chiếm diện
tích cơ cấu lớn, tập trung chủ yếu tại huyện Bố Trạch (trên 1.000 ha); và Quảng Trạch
(650 ha); Lệ Thủy (300 ha)...

uế

Đối tượng rau ăn quả bao gồm cà chua, dưa chuột... được phát triển với diện tích

H

khá nhưng thời gian sinh trưởng dài nên gặp nhiều bất lợi do hậu quả của thời tiết,
thiên tai. Chính vì vậy mà nhóm rau gia vị lại phát triển khá nhanh, tập trung chủ yếu ở


địa phương quy hoạch và sản xuất rau an toàn, dự kiến năm 2009 là 2,9 tỷ đồng và giai
đoạn năm 2010 - 2015 là 10 tỷ đồng.
Để nâng giá trị của cây rau vừa qua, một số địa phương trong tỉnh đã hình thành

các mô hình trồng rau an toàn, trong đó nổi lên ở Cam Thủy (Lệ Thủy) với gần 30 ha,
Đức Ninh (Đồng Hới) 50 ha và Cừa Phú (Bảo Ninh) 25 ha... Chi cục Bảo vệ thực vật
của tỉnh cũng đã triển khai thực hiện mô hình sản xuất rau an toàn từ nguồn kinh phí
hỗ trợ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn tại thôn Đức Hoa (Đức Ninh) và
thôn Cửa Phú đã đạt được kết quả bước đầu, tạo uy tín trên thị trường thành phố, từng
bước giúp người dân thay đổi cách nhìn nhận đối với rau trồng trên quy mô lớn. Thu
nhập bình quân của trồng rau màu đạt gần 50 triệu đồng/ha.

23


CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG
RAU TRÊN CÁT Ở XÃ BẢO NINH TP. ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Bảo Ninh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trị địa lí, địa hình

độ 32 phút vĩ độ Bắc và từ 106 phút kinh độ Đông.

uế

Xã Bảo Ninh nằm ở phía đông TP. Đồng Hới, ở tọa độ từ 17 độ 25 phút đến 17

H


những vùng trũng, mùa mưa trở thành bàu nước, mùa nắng bị cạn khô, nhân dân gọi
đó là đất tằm.

Bề mặt đất đai xã Bảo Ninh tương đối gồ ghề thường bị biến đổi bởi hiện tượng

cát bay, cát chạy, cát lấp, cát lở do gió mưa, bão lụt hằng năm.
Bờ biển Bảo Ninh thuộc bãi ngang dài, độ nghiêng từ 10 đến 15 độ, thuận lợi cho
việc phát triển nghề biển, khai thác bãi tắm, du lịch. Bờ sông cũng là đất mịn không có
bãi phù sa như các sông khác.

24


2.1.1.2. Thời tiết, khí hậu
Bảo Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đó gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của
khí hậu vùng biển Đồng Hới. Thời tiết ở đây theo quy luật 4 mùa: xuân ấm, hạ nóng,
thu mát, đông rét. Mùa nắng nóng từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và mùa rét từ tháng 9
đến tháng 2 âm lịch.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 22,4 độ, trung bình các năm cao là 28 đến 29,5
độ, có lúc cao nhất là 41,5 độ. Trung bình các năm thấp là 21 đến 22,5 độ, có lúc thấp

uế

nhất là 8,5 độ.

Về chế độ gió: Mỗi năm có ba mùa gió, tính theo âm lịch từ tháng 3 đến tháng 5

H

có gió đông – nam (gió nồm), từ tháng 6 đến tháng 8 có gió tây – nam (gió Lào), từ

Nguồn lợi chủ yếu mà thiên nhiên ban tặng cho xã Bảo Ninh là thủy sản và hải sản,

ở trên địa hình có ba bề sông nước nên sản vật sông biển mùa nào cũng phong phú.
Đặc biệt cách bờ biển từ 1 đến 3 km, ở đoạn nước 7 – 12 sải, đáy biển có một dãy
rạn ngầm, có nhiều san hô, là nơi tích tụ nhiều phù du sinh vật làm thức ăn ưa thích
cho nhiều loại cá đến cư trú, trong đó tôm hùm, mực cơm, mực thước là đặc sản, vừa
cung cấp nhiều chất dinh dưỡng vừa mang lại giá trị kinh tế cao.
Biển Bảo Ninh ở vị trí cửa ngõ của Vịnh Bắc Bộ nên có nhiều loại hải sản có giá
trị kinh tế. Các loại cá lớn như cá Dỡ, cá Thu, cá Thuộng, cá Hồng… các loại cá nhỏ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status