LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một khóa luận nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa
luận đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được
ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 1 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Phạm Thanh Nam
11
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ chức, cá nhân. Đầu tiên, em xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Nhà trường, tập thể các thầy/ cô
giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập, rèn luyện tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Trần
Đình Thao đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn các cán bộ UBND xã và các hộ gia đình trồng
rừng ở xã Tú Sơn đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình điều tra, thu
thập số liệu và đánh giá tình hình trồng rừng của địa phương.
Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình,
người thân và bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tuy đã có nhiều cố gắng để hoàn thành đề tài, song do điều kiện về thời
gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khóa luận này
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự quan
tâm, ý kiến đóng góp của thầy/ cô và các bạn để bài khóa luận được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới
33
hiệu quả kinh tế các mô hình trồng rừng ở xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh
Hòa Bình; Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả trồng rừng tại xã
Tú Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Một số phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như:
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp thu thập số liệu; Các
phương pháp phân tích và xử lý số liệu là phương pháp hạch toán thu nhập,
chi phí của mô hình trồng rừng, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê
mô tả. Trong đó phương pháp hạch toán chi phí và hiệu quả sản xuất trong
trồng rừng được sử dụng nhiều nhất nhằm giúp tổng hợp kết quả điều tra, từ
đó tính toán được các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế, đồng thời qua số liệu
đã xử lý phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các
mô hình trồng rừng.
Qua nghiên cứu thực tế trồng rừng tại xã Tú Sơn đã phân tích được kết
quả và đánh giá được hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng tại xã.
Kết quả thu được như sau:
- Đối với mô hình trồng keo tai tượng thuần: đây là mô hình có chu kỳ kinh
doanh thấp nhất ( 7 năm), vì vậy việc quay vòng vốn nhanh. Tuy nhiên, đây
cũng là mô hình có giá trị hiện tại thuần NPV thấp nhất ( 37,6 triệu đồng/ha),
tỷ lệ thu nhập/chi phí BCR và tỉ suất nội hoàn vốn IRR cũng thấp nhất trong 3
mô hình nghiên cứu. Vì vậy, mô hình này phù hợp với những hộ có vốn đầu
tư ít;
- Đối với mô hình trồng hỗn giao keo xen lát: đây là mô hình có mức đầu tư về
chi phí lớn, công lao động nhiều hơn so với mô hình keo thuần. Xét về hiệu
quả trên mức vốn đầu tư thì mô hình này mang lại hiệu quả cao hơn mô hình
keo thuần với chỉ tiêu NPV đạt 652,9 triệu đồng/ha. Chỉ tiêu BCR là 39,43 lần
và IRR là 36%. Tuy đây không phải là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhất nhưng lại là mô hình được người dân yêu thích và nhiều hộ trồng nhất
bởi phương thức “ lấy ngắn nuôi dài”;
phá nghiêm trọng, chất lượng rừng ngày càng suy thoái đặc biệt là các nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tình trạng phá rừng bừa bãi gây ra
những ảnh hưởng tồi tệ cho môi trường, hệ sinh thái và đời sống dân cư trong
khu vực. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ ống, lũ quét, lở đất, lở đá,
rửa trôi khiến cho môi trường ngày càng xuống cấp, sinh kế của đồng bào
miền núi bị đe dọa.
Trước thời kỳ đổi mới, phương thức quản lý rừng ở Việt Nam vẫn
chủ yếu dựa vào các Lâm trường Quốc doanh. Trong suốt một thời gian
dài, phương thức quản lý đó không những không mang lại hiệu quả về kinh
tế do các Lâm trường sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, tài nguyên
rừng bị tàn phá, người dân không nhận thức rằng rừng là của họ nên mặc
sức khai thác mà không để ý đến việc trồng mới và khôi phục rừng. Sau đó,
các Lâm trường đã phải giải thế, chuyển đổi thành các Công ty Lâm nghiệp
và các Ban quản lý rừng nhưng vẫn không phát huy được vai trò quản lý
của mình và tài nguyên rừng vẫn bị tàn phá. Do vậy để quản lý và bảo vệ
rừng một cách hiệu quả và bền vững, xu hướng chính hiện nay sẽ là giao
đất giao rừng cho các hộ, nhóm hộ và cộng đồng, đặc biệt là đối tượng đất
rừng sản xuất và phòng hộ.
“Rừng là vàng”, nhưng một thực tế bao đời nay là người dân sống
gần “vàng” lại là những người nghèo. Sự suy thoái tài nguyên rừng, đặc
biệt là chất lượng rừng đang đẩy xa những người dân nghèo ra khỏi tầm thụ
hưởng các nguồn tài nguyên. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho sự phân
hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc và tiềm ẩn nguy cơ đói nghèo nặng nề
88
trong nông thôn miền núi Việt Nam. Thực tế trên đòi hỏi Chính phủ phải có
những điều chỉnh trong chính sách quản lý rừng, giao đất, giao rừng nhằm
giúp dân có cuộc sống ổn định gắn bó với rừng, trực tiếp bảo vệ rừng và phát
triển bền vững.
Hơn nữa về thực tiễn và khoa học rừng còn là tài nguyên phong phú và
vô cùng quý giá của đất nước. Rừng có ảnh hưởng lớn đối với đời sống con
Đông, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội
73 km dọc theo quốc lộ 6. Diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh là 325.975,4
ha, chiếm 70,7% tổng diện tích tự nhiên, là nơi sinh sống, sản xuất của 6 dân
tộc Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao và Mông.
Kim Bôi là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Hòa Bình, có vị trí đặc biệt
quan trọng, là cửa ngõ của tỉnh thông thương với các tỉnh đồng bằng Bắc bộ.
Huyện có thời tiết khí hậu khá đặc biệt với đa dạng sinh học phong phú, có
nhiều loài động thực vật quý hiếm. Rừng ở đây có một vị trí quan trọng trong
phòng hộ, điều tiết nước phục vụ canh tác nông nghiệp và cho một vùng rộng
lớn của thị trấn huyện. Tuy nhiên rừng nguyên sinh ngày càng lùi xa, từ trung
tâm phải đi sâu hàng chục km mới có rừng. Diện tích rừng suy giảm, độ che
phủ thấp, lượng nước ngày một ít dần.
Trong đó xã Tú Sơn thuộc Kim Bôi là một trong những xã miền núi, có
diện tích đất lâm nghiệp lớn và xã nhận được sự quan tâm và đầu tư của chính
quyền Trung ương và địa phương về phát triển rừng. Với diện tích đất rừng
lớn và lực lượng lao động dồi dào, ngành lâm nghiệp của xã hoàn toàn có thể
là một thế mạnh có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong xóa đói giảm nghèo,
góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tại xã đã có khá nhiều mô hình trồng rừng, có những mô hình khá
thành công do phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa
phương. Bởi vậy để hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi chọn đề tài “ Đánh giá
hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng tại xã Tú Sơn, huyện Kim
Bôi, tỉnh Hòa Bình”.
1010
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng thể
Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng tại xã Tú Sơn, so
sánh các đặc điểm, ưu thế của các mô hình, từ đó lựa chọn mô hình hiệu quả
và đề xuất các giải pháp phát triển rừng tại địa bàn nghiên cứu.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Với những hình thái xã hội khác nhau, với những quan hệ sản xuất
khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và các yếu tố hợp thành phạm
trù này cũng vận động theo khuynh hướng khác nhau.
2.1.1.2. Hiệu quả kinh tế
a. Khái niệm
- Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, tuy nhiên
chúng ta có thể tóm tắt thành ba loại quan điểm như sau:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số
giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra ( các nguồn nhân, tài, vật lực, tiền
vốn, ) để đạt được kết quả đó.
+ Quan điểm thứ hai cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa
giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế = Kết quả sản xuất – Chi phí
+ Quan điểm thứ ba xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động
giữa chi phí và kết quả sản xuất.
Theo quan điểm thứ ba, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa
phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ
giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ
lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí
của nền sản xuất xã hội.
Hiệu quả kinh tế = ΔK/ΔC
1212
Trong đó: ΔK: là phần tăng thêm của kết quả sản xuất
ΔV: là phần tăng thêm của chi phí sản xuất.
- Từ các quan điểm trên ta thấy:
+ Nếu chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế ở khía cạnh lợi nhuận thuần tuý (kết
quả sản xuất kinh doanh trừ chi phí) thì chưa xác định được năng suất lao
động xã hội và so sánh khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của những
nhà sản xuất có hiệu số giữa kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí sản xuất
như nhau. Tuy nhiên, nếu tập trung vào các chỉ tiêu tỷ số giữa kết quả sản
và quản lý là với một lượng dự trữ tài nguyên nhất định muốn tạo ra một khối
lượng sản phẩm lớn nhất. Điều đó cho thấy quá trình sản xuất là sự liên hệ
mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, là sự biểu hiện kết quả của các
mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất.
- Hiệu quả kinh tế là vấn đề trung tâm nhất của mọi quá trình kinh tế, có liên
quan đến tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác.
- Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản
xuất, tức là giảm đến mức tối đa chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm
tạo ra.
- Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát
triển kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và
tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
c. Phương pháp tính
• Phương pháp tĩnh:
Phương pháp tĩnh là phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên cơ
sở so sánh trực tiếp giá trị đạt được ở đầu ra với giá trị của các nguồn lực ứng
trước mà không kể đến ảnh hưởng của yếu tố thời gian đối với các lượng giá
trị đó. Phương pháp này thường được áp dụng đối với các dự án đầu tư có
thời gian ngắn, giá trị đồng tiền thường ít biến đổi. Phương pháp này là
1414
phương pháp đơn giản, dễ tính toán. Tuy nhiên, vì coi giá trị đồng tiền là bất
biến theo thời gian nên độ chính xác của kết quả đánh giá bị hạn chế.
Một số chỉ tiêu thường dùng để đánh giá hiệu quả trong đầu tư:
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
+ Lợi nhuận tuyệt đối:
Lợi nhuận là số doanh thu còn lại sau khi đã bù đắp toàn bộ chi phí bỏ ra
và các khoản thuế để đạt được số doanh thu đó từ các hoạt động của chủ thể
sản xuất kinh doanh hay một chương trình, dự án.
LN = DT – Z – T
Trong đó: LN: tổng lợi nhuận
- Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư theo phương pháp động:
+ Giá trị hiện tại ròng của lợi nhuận NPV – Net Present Value: Là hiệu số
giữa tổng doanh thu và tổng chi phí sau khi đã chiết khấu:
Qua công thức tính trên chúng ta có nhận xét:
NPV > 0: Kết quả đầu tư có lãi;
NPV = 0: Kết quả đầu tư là hoà vốn;
NPV < 0: Kết quả đầu tư bị thua lỗ;
+ Tỷ lệ thu nhập/chi phí BCR – Benefits to Cost Ratio:
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết rằng cứ bỏ ra một đồng chi phí thì thu được
mấy đồng doanh thu sau mỗi chu kỳ đầu tư khi đã chuyển giá trị đồng tiền về
thời điểm hiện tại. Do đó nếu:
BCR > 1: Kết quả đầu tư có lãi;
BCR = 1: Kết quả đầu tư là hoà vốn;
BCR < 1: Kết quả đầu tư bị thua lỗ;
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR – Internal Rate of Return:
1616
Là tỷ lệ lãi suất mà nếu dùng nó để thay tỷ lệ chiết khấu (r) thì giá trị
hiện tại ròng của lợi nhuận (NPV) sẽ bằng 0. Hay chỉ tiêu IRR là tỷ lệ lãi
suất mà nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu
và chi phí trong chu kỳ đầu tư về thời điểm hiện tại thì tổng thu sẽ cân
bằng với tổng chi.
IRR giúp nhà đầu tư lựa chọn những phương án đầu tư được ưu tiên chọn
lựa khi IRR > r.
2.1.2. Lý luận về mô hình trồng rừng
2.1.2.1. Khái niệm về mô hình trồng rừng
Mô hình theo lý luận chung là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện
tượng, quá trình nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản
xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người.
Mô hình trồng rừng là một phương thức xác định một hoặc nhiều loài
cây trên cơ sở phù hợp với kết quả nghiên cứu lập địa, điều kiện khí hậu, thổ
Khi dự án đưa về thì ở cấp xã không đưa về cho người dân làm từ A-Z nghĩa
là không đưa về cho người dân ở trồng phát dọn mặt bằng và trồng rừng mà
thuê cho một đơn vị khác đến dọn mặt bằng và trồng. Sau khi trồng xong giao
lại cho người dân chăm sóc để sau này khai thác, giao cho dân rồi là của dân.
Theo quyết định số 556/TTg đã quy định: “Trồng rừng phòng hộ đầu
nguồn là trồng rừng hỗn giao theo sinh thái nhiều tầng gồm nhiều loài cây
rừng bản địa gỗ quý, chủ yếu lấy giống từ rừng nguyên sinh với mật độ bình
quân 1600 cây/ha. Trong đó 40% là các loài cây bản địa và 60% cây phù trợ,
kể cả cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản lâu năm”. Dựa vào kinh
nghiệm sản xuất, các Sở Nông nghiệp, Ban quản lý dự án 327 căn cứ những
quy định kỹ thuật của chương trình để chọn đối tượng đất, cây trồng và
phương thức trồng. Các loài cây được sử dụng rất đa dạng, gồm cả cây mọc
nhanh, cây mọc chậm; cây lá rộng, cây lá kim; cây bản địa, cây nhập nội
Theo tài liệu kiểm kê rừng năm 1999, chương trình 327 đã trồng được
172.875 ha rừng hỗn loài, với các loài cây trồng rừng chính: Bồ đề, Mỡ, Sao
dầu, Thông, Keo, Muồng và các loài cây hỗ trợ khác. Loài cây bạn có khi 2,
1818
3 loài tạo nên các mô hình hỗn loài khác nhau. Chủ yếu các mô hình rừng hỗn
giao chỉ có 2 loài. Các phương thức hỗn loài đã được các địa phương sử dụng
là: hỗn loài giữa các cây trong hàng, hỗn loài giữa các hàng với nhau và hỗn
loài theo đám.
b. Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo dificilis và Lim xanh trên đất thoái
hoá tại Cẩm Quỳ – Hà Tây
Đây là mô hình được xây dựng trên đối tượng đất bị thoái hoá mạnh,
lớp đất mặt bị xói mòn chỉ còn lại kết von và sỏi đá, đất rắn chắc, khô cứng.
Keo dificilis được đưa vào trồng trước với cự ly 3×6 m. Sau hai năm mới đưa
Lim xanh vào trồng với cự ly 3x6m (xen giữa hai hàng Keo lá tràm là một
hàng Lim xanh), mật độ chung cho cả lâm phần là 1100 cây/ha. Việc xử lý
thực bì trước khi trồng tương đối đơn giản, do độ che phủ của thực bì thưa
(<30%) nên không phát toàn bộ thực bì mà chỉ tiến hành đào hố để trồng cây.
xuất hiện sau bệnh hại, các loài cây trong mô hình sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống
cao (>95%), Lõi thọ đã bắt đầu ra hoa, nếu được theo dõi, bảo vệ và chăm sóc
cẩn thận thì khu rừng trồng này có thể làm rừng giống rất tốt. Đây là một mô
hình rất thành công và có nhiều triển vọng.
d. Mô hình trồng rừng hỗn loài theo đám ở khu rừng đặc dụng Núi
Chung – Nam Đàn – Nghệ An
Các loài cây bản địa được đưa vào trồng gồm: Lim xanh, Lim xẹt,
Trám, Sấu, Sau sau, Gụ, Giẻ, Dầu rái, Trai, Bằng lăng theo phương thức
hỗn loài theo đám từ 8-20 cây. Đất tại khu vực này rất xấu, bị thoái hoá mạnh,
khô cứng, có nhiều kết vón, tầng mặt bị xói mòn mạnh không còn tầng A0.
Sau hơn 30 năm gây trồng hiện các loài cây sinh trưởng tốt (số liệu được thể
hiện ở bảng dưới đây), cây tương đối đều. Sự phân hóa giữa các cá thể trong
loài không lớn, từ 2.8% (Bằng lăng) đến 7.9% (Lim xanh). Dưới tán các loài
cây bản địa thực bì phát triển mạnh, độ che phủ của thực bì 60%. Sau khi
trồng cây bản địa môi trường rừng được tạo lập, một số loài cây bản địa đã ra
hoa kết quả và có tái sinh tự nhiên dưới tán cây mẹ như: Lim xẹt, Trai, Sau
sau. Các loài cây bản địa sinh trưởng bình thường. Do đất xấu nên tốc độ sinh
trưởng của chúng chậm. Một số loài có hiện tượng phân cành rất sớm: 100%
2020
cây Gụ đều có 2-4 thân/gốc, số cây có từ 2 thân/gốc của Lim xanh là 90%,
Bằng lăng 57%, phần lớn chúng đều phần cành ở độ cao dưới 1.3m. Mặc dù
vậy đây được coi là mô hình thành công về trồng rừng hỗn loài bằng các loài
cây bản địa trên đất rừng thoái hoá.
2.1.3. Hiệu quả kinh tế mô hình trồng rừng
Trên cơ sở chi phí đầu tư và thu nhập của các mô hình rừng trồng, sử
dụng các chỉ số kinh tế để đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình rừng
trồng. Cụ thể trong đề tài sử dụng phương pháp phân tích thu nhập và chi
phí CBA (Cost benefit analysis). CBA là phương pháp so sánh giữa thu
nhập với chi phí đầu tư xây dựng mô hình, trong đó có tính tới sự thay đổi
của giá trị đồng tiền theo thời gian, từ đó có thể đánh giá được hiệu quả
Trong đó: B
i
: là thu nhập năm thứ i
C
i
: là đầu tư của năm thứ i
r: là lãi suất ngân hàng
i: là chỉ số của kỳ đầu tư
- Tỷ suất thu nhập so với chi phí (BCR): là tỷ số giữa toàn bộ thu nhập so với
chi phí sau khi chiết khấu đưa về hiện tại. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng
sinh lãi thực tế của các mô hình và được tính toán như sau:
BCR=
0
0
(1 )
(1 )
n
i
i
i
n
i
i
i
B
r
C
r
=
=
1
1 2
NPV
NPV NPV+
.
Thường thì r
2
> r
1.
Để xác định r
1
và r
2
một cách dễ dàng hơn, ta nên vẽ đồ thị NPV.
2222
Kết quả IRR thường sẽ nằm trong khoảng giữa r
1
và r
2
(r
1
< IRR < r
2
).
2.1.4. Các chính sách phát triển mô hình trồng rừng
- Quyết định số 264-CT về chính sách đầu tư phát triển rừng.
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là đạo luật được Quốc hội nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
03 tháng 12 năm 2004. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 và
thay thế cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991. Luật này quy định về
đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55m
3
/ha/năm sau 7 năm trồng
(Welker, 1986).
Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus Patula sau 15
năm tuổi đạt năng suất 19m
3
/ha/năm (Pandey, 1983).
Ở Zimbabue cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt
từ 35m
3
–40m
3
/ha/năm, giống Bạch đàn Europhylla đạt trung bình tới
55m
3
/ha/năm, có nơi lên tới 70m
3
/ha/năm (Campinhos và Ikermori, 1988).
Các dẫn chứng trên cho thấy giống cây và chất lượng giống cây đóng
vai trò rất quan trọng trong năng suất của cây trồng.
2.1.5.2. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ
thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là
ở những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt
đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân
đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm
1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Ngô
Đình Quế, 2004). Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan
tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của Mello
Lập địa được hiểu “ là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác
động tới sự sinh tồn và phát triển của thực vật”. Theo một số tác giả, lập địa
được hiểu là những điều kiện của nơi sinh trưởng thực vật. Các yếu tố hình
thành lập địa quyết định tạo nên những kiểu rừng khác nhau và ảnh hưởng tới
năng suất, sản lượng rừng.
Như vậy lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: khí hậu, địa hình, đất,
sinh vật tạo thành một quần lạc sinh địa. Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh
2525