PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất lúa là một hoạt động được hình thành từ lâu đời và vai trò của sản
xuất lúa đã được khẳng định có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần trong
việc nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phát triển của đất nước. Ngoài ra,
sản xuất lúa còn có chức năng phục vụ cho sự phát triển các ngành công
nghiệp chế biến, xuất khẩu, dịch vụ Tuy nhiên việc sản xuất lúa còn gặp
nhiều khó khăn do tác động của lũ lụt [1].
Hiện nay, cho thấy một thực tế cường độ và tần suất của lũ lụt ngày càng
tăng lên và dữ dội hơn, tác động mạnh đến hoạt động sản xuất lúa làm giảm
hiệu quả sản xuất, từ đó làm giảm thu nhập của người dân. Vì vậy việc tìm
kiếm những giải pháp thích ứng của người dân trong hoạt động sản xuất lúa
trước lũ lụt là rất cần thiết.
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của thiên
tai nhất của miền Trung, đặc biệt là lũ lụt. Chỉ tính riêng trong năm 2007 đã
có 5 trận lũ trên báo động cấp 3 từ 0,8 m – 2 m [2]. Lũ chồng lên lũ, ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất của người dân trong đó có hoạt động sản xuất
lúa, là hoạt động sinh kế chính của nông dân Thừa Thiên Huế. Tuy rằng, các
cấp chính quyền đã có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ người dân ứng phó với lũ lụt
nhưng hoạt động sản xuất lúa của người dân vẫn gặp nhiều khó khăn. Vấn đề
đặt ra đó là phải giúp người dân tăng khả năng thích ứng trước lũ lụt. Điều
này có ý nghĩa rất lớn đến sinh kế của họ.
Quảng Điền là huyện nằm ở vùng trũng nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế,
thường xuyên bị ảnh hưởng của các dạng thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, triều
cường, bão, xâm nhập mặn. Trong đó đáng chú ý nhất là lũ lụt, đây là một
hiện tượng chính xảy ra trên địa bàn huyện.
Quảng Vinh là một xã thấp trũng thuộc huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên
Huế, nằm về phía Tây của huyện Quảng Điền. Các hoạt động sinh kế của
người dân ở đây gồm: sản xuất lúa, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi và ngành
nghề phụ khác. Trong đó hoạt động sản xuất lúa là chủ yếu. Trong những năm
1
phòng bị trước với ý nghĩa giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của
BĐKH [5].
- Thích ứng là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ
tổn thương; con người, động vật hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của
mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi của BĐKH [5].
- Thích ứng với lũ lụt trong hoạt động sản xuất lúa nghĩa là trước khi có lũ lụt thì
người dân sẽ có những giải pháp, hành động gì để nhằm hạn chế những thiệt
hại do lũ lụt gây ra cho hoạt động sản xuất lúa.
3
2.3. Biểu hiện của lũ lụt ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế
2.3.1. Biểu hiện của lũ lụt ở Việt Nam
- Những trận lụt lớn xảy ra ở các tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu
Long thường xuyên hơn so với nửa thế kỷ trước [6].
- Ở Việt Nam những năm gần đây nhìn khái quát cũng có thể nhận thấy
những bất thường của thời tiết mang tính kỷ lục đã xảy ra do các hiện tượng
quy mô toàn cầu như Elninô và Lanina, đã gây ảnh hưởng rất lớn đến thời tiết
ở nhiều vùng khác nhau. Ba cơn bão đổ bộ dồn dập vào dải đất miền Trung
chỉ riêng trong tháng 11/1998 cũng là hiện tượng hiếm thấy. Trong tháng 11
và tháng 12/1999, hai đợt mưa lũ lớn nghiêm trọng đã xảy ra ở nhiều tỉnh
miền Trung. Đặc biệt đợt mưa lũ đầu tháng 11/1999 từ Quảng Bình đến Bình
Định đã tạo ra hàng loạt kỷ lục về mưa và lũ chưa từng thấy trong nhiều chục
năm. Trong đó, kỷ lục về lượng mưa trong 24 giờ ở Huế đạt tới 1.384 mm
được coi là lớn nhất trong lịch sử quan trắc khí tượng ở nước ta, chỉ đứng thứ
hai sau kỷ lục cùng loại trên thế giới là 1.870 mm ghi được vào năm 1952 ở
đảo Reunion thuộc Thái Bình Dương [6].
2.3.2. Biểu hiện của lũ lụt ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Theo một số nghiên cứu cho thấy Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh
chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi lũ lụt. Theo báo cáo của Trung Tâm Khí
Tượng thuỷ văn Thừa Thiên Huế, tần suất và cường độ của các trận lụt ngày
càng tăng lên. Số lượng các trận lụt tăng hơn 0,6 lần so với thời kỳ 1977 -
xuống hạ lưu từ ngày 1 - 6/11/1999 là khoảng 307 tỷ m
3
làm 90% lãnh thổ
vùng đồng bằng ngập sâu trong nước từ 1 - 4 m [8].
Lũ lụt là thiên tai cực kỳ nguy hiểm có cường suất lớn, sức tàn phá ác liệt,
hàng năm gây nhiều thiệt hại cho Thừa Thiên Huế [8].
Hộp 1: Cấp báo động mực nước lũ sử dụng ở Việt Nam [8].
Dưới đây mô tả các cấp nước lũ báo động chính thức được Văn phòng
thường trực Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương sử dụng [8].
- Báo động Cấp I: có khả năng xảy ra lũ, nước sông dâng cao; đe doạ phần
bờ cao; gây ngập ở các vùng đất rất thấp [8].
- Báo động Cấp II: tình trạng lũ nguy hiểm, lũ gây ngập tại những vùng bằng
phẳng; trừ những thị trấn và thành phố được bảo vệ trước sự tấn công của
nước lũ; dòng chảy trong sông với vận tốc lớn gây nguy hiểm cho bờ sông và
làm xói lở đê; chân cầu có nguy cơ bị nguy hiểm do bị xói lở [8].
5
- Báo động trên Cấp III: trình trạng lũ khẩn cấp, lũ không thể kiểm soát
được trên diện rộng; đê bị vỡ là điều khó tránh khỏi và có thể không kiểm
soát được; thiệt hại về cơ sở hạ tầng là nghiêm trọng [8].
2.5. Tác động của lũ lụt đến sản xuất lúa tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải miền trung, nằm trong vùng hay bị
ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Địa hình của tỉnh Thừa Thiên Huế
đa số là đồng bằng, thấp trũng nên ảnh hưởng của lũ lụt càng nặng nề hơn.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nông nghiệp, với các hoạt động sản xuất nông
nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, ngành nghề
phụ. Trong đó hoạt động trồng trọt là chủ yếu, với hoạt động sản xuất lúa
chiếm ưu thế. Với diện tích lúa lớn lại có nhiều vùng thấp trũng, thường
xuyên bị lũ lụt nên lúa là cây bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong các cây trồng
của tỉnh. Lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất lúa, làm lúa ngập
úng, đổ ngã Ví như năm 2007 toàn tỉnh có 1.039 tấn lúa giống, 666 tấn lúa
toàn và chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Trong các giải pháp lâu dài, mọi
người muốn có một ngôi nhà hay một nơi trú ẩn an toàn hơn để bảo vệ họ và
lúa giống. Đặc biệt, nhiều người dân ở khu vực miền núi Hương Lộc muốn
thay đổi cơ cấu mùa vụ vì hiện tại cả mùa vụ cũng như cây rừng và cây vườn
của họ đều bị bão ảnh hưởng nặng. Có nhiều người trả lời rằng họ di chuyển
đồ vật, lúa giống lên cao để chống lụt. Nhiều người trong 3 khu vực di chuyển
đến những nơi cao hơn để tránh lũ. Người dân ở địa phương vùng cao Hương
Lộc muốn thay đổi các hoạt động sinh kế. Tuy nhiên, họ không biết thay đổi
thế nào. Tóm lại, những kinh nghiệm tốt nhất giúp cho người dân địa phương
giảm bớt thiệt hại do thiên tai là cập nhật nhật thông tin về thời tiết và khí
hậu, di chuyển đồ vật lên cao và chuẩn bị lương thực, thực phẩm.
Bên cạnh những kinh nghiệm trong thích ứng như: điều chỉnh lịch thời vụ,
thay đổi kỹ thuật và cơ cấu giống cây trồng phù hợp là những biện pháp thích
ứng đang được các sở NN&PTNT triển khai đến các vùng sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là những vùng nhạy cảm với lũ lụt, hạn hán
Qua kết quả nghiên cứu của CSRD về thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng,
Trường hợp nghiên cứu: lưu vực sông Hương - tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể
với các địa phương là: xã Hải Dương (Hương Trà), xã Thủy Biều (Thành phố
Huế), xã Hương Lộc (Nam Đông). Người dân ở các địa phương đã đưa ra các
7
biện pháp thích ứng ngắn hạn: cập nhật thông tin, di chuyển đồ vật lên cao
và dài hạn như thay đổi cơ cấu mùa vụ, thay đổi các hoạt động sinh kế.
Những biện pháp đó được thể hiện được thể hiện cụ thể ở bảng 1 cùng với số
% ý kiến của họ.
8
Bảng 1: Những biện pháp được người dân địa phương lựa chọn thích
ứng với lũ lụt
Loại kinh nghiệm
Hải
Dương
mùa màng thất bát; lũ lụt, sạt lỡ, biến dạng địa hình Để thích ứng người dân
đã đưa ra biện pháp thích ứng trong hiện tại: xây dựng hệ thống cống rãnh
thoát nước, thông tin được tuyên truyền thông qua xã, thôn và trong tương lai
(tiềm năng) họ cho rằng sẽ mở các lớp dạy bơi cho trẻ để khi mùa mưa lũ về
sẽ hạn chế phần nào số người bị thiệt mạng do chết đuối. Những biện pháp đó
được thể hiện cụ thể ở bảng 2.
10
11
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Thực trạng lũ lụt tại xã Quảng Vinh
- Đặc điểm của lũ lụt tại địa bàn nghiên cứu hiện nay so với 5 năm về trước.
- Loại lũ lụt và thời điểm xảy ra.
- Cường độ, tần suất của lũ lụt từ 2006 - 2010. Diện ngập lụt, độ sâu.
3.1.2. Tác động/ảnh hưởng của lũ lụt đến hoạt động sản xuất lúa
- Mức độ của các loại lũ lụt.
- Lũ lụt ảnh hưởng đến cây lúa, năng suất, thu nhập của người dân.
- Những khó khăn trong sản xuất lúa phát sinh do lũ lụt gây ra.
3.1.3. Tìm hiểu giải pháp thích ứng của người dân và chính quyền đối với
lũ lụt gây ra trong sản xuất lúa ở xã Quảng Vinh
- Giống.
- Kỹ thuật.
- Mô hình sản xuất.
- Lịch thời vụ.
- Điều chỉnh cơ cấu.
- Sinh kế thay thế.
- Cơ sở hạ tầng.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tập trung vào nông hộ có hoạt động sản xuất lúa ở 2 thôn có
các hộ dân trong xã có tham gia vào hoạt động sản xuất lúa trong thời gian
13
trên. Ngoài ra, còn kế thừa các số liệu thống kê của các ban ngành liên quan,
các tài liệu đã có về điều kiện kinh tế - xã hội và các nghiên cứu đã có tại địa
bàn nghiên cứu.
- Thông tin sơ cấp
+ Phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu được thực hiện với 7 cán bộ nồng cốt của
địa phương bao gồm: phó Chủ tịch UBND xã Quảng Vinh phụ trách mảng
nông nghiệp; trưởng thôn Đông Lâm, Thanh Cần; chủ nhiệm hợp tác xã Đông
Vinh; chủ nhiệm hợp tác xã Bắc Vinh; cán bộ khuyến nông phụ trách mảng
trồng trọt của huyện và cán bộ phòng nông ngiệp phụ trách mảng trồng trọt
của huyện. Phỏng vấn sâu nhằm mục đích tìm ra những gì chính quyền và
người dân ở đây đã và đang làm hay những thông tin liên quan đến nhận thức,
hiểu biết về lũ lụt, tác động của lũ lụt, biện pháp thích ứng với lũ lụt hay là
những kinh nghiệm bản thân trong việc thích ứng với lũ lụt. Phỏng vấn sâu
được dựa vào những câu hỏi đã được chuẩn bị phù hợp với nội dung nghiên
cứu và đựơc trình bày cụ thể, rõ ràng.
+ Phỏng vấn hộ: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc với một bộ câu hỏi có 17 câu
được thiết kế và được dùng để hỏi 30 hộ trồng lúa đã được chọn để phỏng vấn
tại địa bàn nghiên cứu. Tổng số là 30 bảng hỏi được thực hiện. Mục đích của
phỏng vấn hộ nhằm tìm hiểu hoạt động sản xuất lúa của nông hộ trong thời
gian qua, những nhận định của họ về lũ lụt, tác động của lũ lụt đến hoạt động
sản xuất lúa, giải pháp thích ứng với hiện tượng đó. Mặt khác việc phỏng vấn
hộ nhằm kiểm tra lại các thông tin thứ cấp và có thể đưa ra con số định lượng
các thông tin cần thu thập.
3.2.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Kết quả điều tra được nhập và xử lý trên phần mềm Excel. Kết hợp phân
tích định tính, định lượng để phân tích kết quả xử lý.
14
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Mưa bắt đầu tập trung nhiều vào đầu tháng 9 đến tháng 12. Vào những
tháng này mưa nhiều nên thường xuyên xảy ra lũ lụt, lượng mưa giai đoạn
này chiếm hơn 70% lượng mưa cả năm.
Mùa mưa trùng với mùa có gió mùa Đông Bắc, gió Tây Bắc gây ra lũ lụt,
ngập úng nhiều nơi trong xã. Bởi vậy việc xây dựng các công trình thủy lợi,
trồng thêm rừng và cây xanh để giữ nước, chống lũ lụt có ý nghĩa to lớn đối
với sự phát triển kinh tế – xã hội của xã.
4.1.1.4. Thủy văn, nguồn nước
Chế độ thuỷ văn của xã chịu ảnh hưởng từ mạng lưới sông ngòi kênh mương
được rẽ từ chi lưu con sông Bồ và hồ chứa nước Đập Bao. Sông tuy nhỏ
nhưng có tác dụng rất lớn trong việc cải tạo vi khí hậu và thoát nước ra phá
Tam Giang vào mùa mưa.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Toàn xã có 14 thôn, trong đó có 6 thôn nằm dọc tuyến đường tỉnh lộ 11. Xã
có 2.487 hộ với11.028 khẩu.
16
Giao thông: là địa bàn có tỉnh lộ 11A đi ngang qua với chiều dài 4 km và
hơn 17 km đường bê tông liên thôn nên mạng lưới giao thông của xã cơ bản
được đảm bảo.
Thuỷ lợi: trên địa bàn xã, hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho nông
nghiệp được phân thành hai hệ thống. Đó là hệ thống kênh mương do Công ty
quản lý khai thác công trình thủy lợi chi Bắc Sông Hương quản lý và hệ thống
thuỷ lợi do các HTX quản lý. Trong những năm qua, được sự quan tâm của
trên nên hệ thông thủy lợi đã từng bước được bê tông hóa. Đến nay, tổng
chiều dài kênh mương đã được bê tông hóa là 20 km, đạt tỷ lệ 23%. Đối với
các kênh mương chưa được bê tông hóa, hàng năm các HTX nông nghiệp, các
thôn đã chủ động nạo vét, nâng cấp đảm bảo cho quá trình tưới tiêu được chủ
động.
Cơ cấu kinh tế xã gồm sản xuất nông nghiệp – chăn nuôi – nuôi trồng thủy
sản và các ngành nghề dịch vụ khác. Năm 2010 toàn xã với tổng giá trị sản
Loại nhà
Nhà tạm (%) 0,0
Bán kiên cố (%) 30,0
Kiên cố (%) 70,0
Thu nhập bình quân/hộ/năm (triệu đồng) 15,2
( Nguồn: Phỏng vấn hộ, năm 2011)
4.2. Thực trạng lũ lụt tại xã Quảng Vinh
Theo nhận định của người dân thì khu vực này đang chịu ảnh hưởng của 5
hiện tượng thiên tai bao gồm: bão, lũ lụt, mưa giông, hạn hán, không khí lạnh.
Đặc biệt và đáng chú ý hiện tượng thiên tai xảy ra thường xuyên là lũ lụt.
18
Qua việc phỏng vấn sâu người am hiểu cho biết về các loại lũ lụt và thời
điểm xảy ra, bao gồm các loại như chín vụ Đông Xuân, tiểu mãn, sớm vụ hè
thu và lụt tháng 10.
Qua kết qủa phân tích từ phỏng vấn hộ cho thấy rằng người dân trên địa bàn
xã Quảng Vinh đã nhận thấy được những chuyển biến, biểu hiện của hiện
tượng lũ lụt do BĐKH đang xảy ra và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất lúa
của cộng đồng.
Mùa mưa lũ ở xã Quảng Vinh thường xuất hiện từ tháng 9 – tháng 2 năm
sau (dương lịch), chủ yếu tập trung từ tháng 10 đến tháng 12 (dương lịch).
Mặc dù biểu hiện của lũ lụt trong năm và thời gian có lũ lụt ít thay đổỉ, tuy
nhiên cường độ và tần suất các cơn lũ có chiều hướng gia tăng. Ví như trước
năm 2006 tần xuất xuất hiện trung bình 2 - 3 trận/năm, thì 5 năm trở lại đây
con số này đã lên từ 3 – 4 trận/năm và lũ thường lên nhanh, thời gian nước
ngâm dài hơn và có thể có lũ kép (trận lũ đầu chưa kết thúc thì trận mới đến).
(Nguồn: Phỏng vấn sâu, năm 2011).
Ngoài những thay đổi của lũ lụt thì theo ý kiến người dân lũ lụt cũng xảy ra
thất thường hơn. Từ năm 2006 đến nay số trận lũ lớn không có nhưng tần suất
các trận lũ lại tăng lên. Trung bình từ năm 2006 đến 2010 là 3 trận. Đặc biệt là
năm 2007, tuy không có lũ lớn nhưng xuất hiện 5 trận lũ liên tiếp. Năm 2010
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, năm 2011)
22
Bảng 5: Tác động/ảnh hưởng của lũ lụt đến hoạt động sản xuất lúa
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, năm 2011)
Qua bảng trên ta thấy rằng lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất
lúa, làm lúa ngập úng, đổ ngã
Đối với hoạt động sản xuất lúa thì lũ lụt là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự
sinh trưởng, phát triển của cây. Khi xảy ra mưa lớn làm cho ruộng lúa bi ngập
úng, nước ngâm lâu ngay trong ruộng lúa làm cho bộ rễ bị hư, thối dẫn đến
cây lúa không lấy được chất dinh dưỡng và chết. Đặc biệt là vào vụ Hè Thu
nếu lũ tiểu mãn xuất hiện sớm, bà con không kịp thu hoạch thì xem như mất
trắng. Ví như cuối vụ hè thu năm 2010, đợt mưa lũ sớm từ ngày 28/08 - 01/09
(dương lịch), xuất hiện khoảng trước mấy ngày bà con thu hoạch làm ảnh
hưởng đến việc thu hoạch cho một số bà con có diện tích thấp trũng thu hoạch
sau.
23
Loại lũ lụt Tác động/ảnh hưởng
Chín vụ Đông Xuân Làm lúa đổ ngã, làm tăng dịch bệnh, ngập
úng, hư hỏng đê bờ, giảm 7,26% năng suất.
Tiểu mãn Làm lúa đổ ngã, làm tăng dịch bệnh, ngập
úng, hư hỏng đê bờ, giảm 28,66% năng suất.
Sớm vụ Hè Thu Làm lúa đổ ngã, làm tăng dịch bệnh, ngập
úng, hư hỏng đê bờ, giảm 21,6% năng suất.
Tháng 10 Không tác động/ảnh hưởng gì hết vì bà con
đã thu hoạch.
Lũ lụt không chỉ làm cho cây lúa chết mà còn làm hư hỏng đê bờ, kéo theo
dịch bệnh về sau mùa mưa lũ, bà con phải tốn chi phí tu sửa đê bờ mới có thể
cấy vụ tiếp theo. Mùa mưa lũ từ tháng 10 đến tháng 12 (dương lịch) làm đồng
ruộng ngập trên từ 0,5 – 1 m nên thời gian này bà con không gieo cấy được.
Sau lũ lụt thì bà con gặp nhiều khó khăn trong cây giống, vật tư, phân bón.
Quảng Vinh do đây là một xã thấp trũng của huyện nên trong lịch thời vụ
huyện thường cho gieo trước khoảng 5 – 10 ngày so với lịch chung của
huyện. Xã Quảng Vinh trồng được 2 vụ lúa/năm. Lịch thời vụ cụ thể vụ Đông
Xuân và Hè Thu được thể hiện ở bảng 6.
25