nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đa dạng hoá sinh kế là đa dạng các hoạt động tạo thu nhập mà các hộ
gia đình xây dựng nên nhằm duy trì sự sống và phát triển kinh tế. Đa dạng
hoá sinh kế có thể nói là một chiến lược có vai trò hết sức quan trọng đối với
sinh kế của người dân. Nó không chỉ tạo thêm cơ hội về việc làm, tăng thu
nhập và nâng cao đời sống của người dân, mà còn giải quyết được vấn đề dư
thừa lao động nông thôn hiện nay, giảm đáng kể các tệ nạn xã hội…Đa dạng
hoá sinh kế còn có ý nghĩa trong việc tận dụng tối đa nguồn lực của địa
phương [2].
Phú Vang là huyện đồng bằng ven biển và đầm phá của tỉnh Thừa
Thiên Huế, là một huyện có tiềm năng lớn về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
với bờ biển dài trên 35km, có cửa biển Thuận An và nhiều đầm phá như đầm
Sam, đầm Chuồn, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú nằm trong
hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích trên 6.800 ha mặt nước,
là tiềm năng lớn để phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Đây là thế
mạnh, lợi thế so sánh để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Đặc biệt cảng
biển Thuận An là vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế, có
tiềm năng lớn về kinh tế đang được khai thác và sử dụng [6]
Với nguồn lợi sẵn có như thế người dân nơi đây đã biết tận dụng khai
thác một cách triệt để, nâng cao kinh tế và đời sống của mình. Số lượng tàu
thuyền ra khơi ngày càng nhiều lên. Hiệu quả khai thác ngày càng tăng mạnh,
biến chuyển qua nhiều năm. Năm 2009, sản lượng khai thác thuỷ sản của
huyện đạt 16,611 tấn, tăng 5,13% so với năm 2008. Năm 2009, khai thác
thuỷ sản biển đạt 16,6 tấn vượt 600 tấn so với kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, cùng
với những nguồn lợi đạt được còn tồn tại một số vấn đề bất cập đe doạ đến
sinh kế của các ngư dân đáng để chúng ta phải quan tâm. Cùng với việc tăng
tàu thuyền ra khơi thì việc tranh chấp nguồn lợi ngày càng gay gắt, việc sử
dụng các hình thức khai thác mang tính hủy diệt như xung điện hay phát triển
1

nơi có các hoạt động kinh tế phát triển mạnh mẽ như đánh bắt và chế biến hải
sản, thương mại hàng hóa, giao thông, đô thị hóa. Tuy nhiên, hiện nay phát
triển các vùng này chưa thực sự bền vững do thiếu quy hoạch hợp lý, có quá
nhiều cảng ở gần nhau (kể cả cảng cá và cảng thương mại). Mức độ ô nhiễm
môi trường tại các vùng này cũng khá lớn do tác động của ô nhiễm nguồn
nước trên thượng nguồn và rác thải của các hoạt động sản xuất và dịch vụ
[10].
- Tài nguyên đất đai:
Đất đai tại các khu vực ven biển thường dùng cho các hoạt động canh tác,
nuôi trồng thủy sản, phát triển đô thị và công nghiệp. Có hai nguồn tài nguyên
đất đặc biệt cần được chú trọng trong sự phát triển vùng ven biển đó là: các
đụn cát và các khu vực đất ngập mặn thấp, chủ yếu là các vùng đất ngập
nước.
Diện tích các vùng đất cát ven biển khoảng 100.000 ha. Đây chủ yếu là
vùng bãi ngang, có tiềm năng phát triển du lịch có các bãi cát đẹp, nước biển
sạch và dân cư thưa. Các xã vùng bãi ngang chủ yếu còn là các xã nghèo, vì
điều kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn, trong khi đó các ngành sản xuất và
dịch vụ chưa phát triển.
Các vùng đầm lầy và đất ngập nước chủ yếu ở những khu vực có độ cao
thấp dọc theo các phá nước và dưới ảnh hưởng thủy triều dọc theo bờ biển,
cửa sông. Các khu vực đầm lầy chịu ảnh hưởng thủy triều cũng chiếm diện
tích lớn (khoảng 1000.000 ha và chủ yếu tập trung ở các khu vực cửa sông và
xung quanh một số hòn đảo [10].
3
- Tiềm năng du lịch:
Dọc miền ven biển có nhiều bãi biển đẹp, có nhiều di sản lịch sử văn hóa ở
các khu vực ven biển, khoảng 950 di sản có giá trị lịch sử văn hóa. Mật độ
trung bình các địa điểm di sản ở Việt Nam là 2,2 đơn vị/100km
2
, trong đó, các

phát triển mạnh các nghề thương mại, dịch vụ, đang hình thành dần các thị tứ,
thị trấn. Hoạt động kinh tế của các tụ điểm dân cư ven biển nghề cá ngày nay
mang tính hỗn hợp, tổng hợp và đa dạng. Sản xuất nghề cá chuyên nghiệp
thường gắn với các hoạt động dịch vụ nghề cá như đóng và sữa chữa tàu
thuyền, sản xuất và cung cấp nước đá, các loại hình chế biến và thương mại
thủy sản và vật tư phục vụ cho sản xuất thủy sản như cung cấp dầu nhớt, lưới
sợi, phụ tùng máy, dịch vụ đời sống như nhà hàng, quán cà phê giải khát, các
hiệu vàng, hiệu may, làm đầu, hàng bách hóa…
Do các tụ điểm nghề cá thường nằm trên các cửa sông, cửa lạch nơi các
tàu thuyền đánh cá lớn hơn có thể ra vào được nên ở những nơi này theo mùa
vụ trở thành nơi tụ hội các tàu thuyền nơi khác di chuyển đến đánh bắt các
ngư trường gần đó. Họ mang sản phẩm của họ vào đây bán, mua các vật tư và
vật phẩm tiêu dùng làm cho các hoạt động kinh tế kinh doanh và xã hội càng
trở nên sầm uất. Phần lớn các cửa lạch lớn có nghề cá phát triển, nơi tập trung
dân cư đều là những nơi dân cư tụ hội buôn bán sầm uất, nghề nghiệp năng
động, dân cư có thu nhập cao.
Tuy có đến 2/3 làng cá ở Việt Nam có kết hợp nghề khai thác cá với
nghề khác nhưng trong thực tế điều tra ngay ở các làng cá này sự kết hợp giữa
các loại hình sinh kế chỉ mang tính hình thức vì lao động đánh cá dù có ít hơn
lao động làm các nghề khác ở các làng ven biển họ cũng là nguồn đảm bảo
sinh kế chủ yếu của các hộ gia đình làm nghề cá. Ở một số gia đình, vợ hoặc
con những người đánh cá hoặc người già cả có làm thêm nông nghiệp, chăn
nuôi, làm muối… Tuy nhiên, cũng có những vùng ven biển lại xem nghề cá là
nghề phụ của họ, chỉ hoạt động vào những tháng nông nhàn, hoặc một vài lao
động đi đánh cá, còn đại bộ phận thời gian họ canh tác ruộng đất.
Các cộng đồng ven biển hiện nay đang chuyển đổi từng ngày, đang hòa dần
vào các cộng đồng dân cư hiện đại và ngay trong các gia đình của họ, trong
các cộng đồng của họ nghề nghiệp cũng được mở rộng, hòa quyện với nhau
trong những thể thức phân công lao động mới đa dạng tạo cho họ nhiều khả
năng lao động để làm giàu. Nghề nông, nghề nuôi trồng thủy sản, chế biến

người dân thì khi nhiệt độ cao làm cho thời gian lao động của hộ giảm mất 1
đến 2 giờ đồng hồ so với những thời điểm bình thường và điều này gây ảnh
hưởng không nhỏ đến thu nhập của một số hoạt động sinh kế.
Về mùa đông, nhiệt độ giảm xuống cũng gây ảnh hưỏng rất lớn đến đời
sống và sản xuất, nhiệt độ thấp làm giảm quá trình sinh trưởng và phát triển
của động vật thuỷ sản, chính vì vậy việc thu lãi nuôi trồng thuỷ sản trong mùa
6
này thường không cao, hiệu quả kinh tế thấp. Do đặc điểm của mùa đông
ngày ngắn đêm dài vì vậy thời gian lao động cũng giảm từ 2 – 3 giờ đồng hồ
so với các mùa khác, chính vì vậy thu nhập từ các hoạt động sinh kế cũng
giảm đi rất nhiều.
- Mưa:
Mưa cũng là yêú tố mà theo người dân có ảnh hưởng đền hoạt động sinh kế
và đời sống của họ. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11âm lịch
và gây ra nhiều khó khăn, thiệt hại cho hộ, ảnh hưởng đến đa dạng sinh kế của
người dân như thợ nề, phị hồ, buôn bán phải ngừng lại.
- Lũ lụt:
Là một trong yếu tố tác động rất lớn đến đời sống chung của cộng đồng ven
phá. Trung bình mỗi năm người dân phải hứng chịu khoảng 5 – 7 trận lụt, bão
lớn nhỏ. Ở khu vực này hàng năm xẩy ra nhiều trận lũ tiểu mãn, ảnh hưởng
nhiều đến hiệu quả kinh tế của người dân
Tóm lại, các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sinh kế và
đời sống sinh hoạt của người dân. Nó vừa có tác động tích cực nhưng cũng
gây ra những khó khăn cho hoạt động sinh kế hộ.
2.2 Chủ trương chính sách quản lý TS và PT thủy sản
Nhu cầu tăng cường quá trình QLTHĐB ở các tỉnh ven bờ biển của
Việt Nam xuất hiện do những lý do hết sức thực tiển. Trước hết, nó gắn liền
với việc sử dụng tài nguyên nguồn lợi, với việc phòng ngừa, giảm thiểu tác
hại của thiên tai, với việc bảo vệ các quá trình và chức năng sinh thái của đới
bờ và tăng cuờng cơ chế quản lý đa ngành, đa mục tiêu với sự tham gia rộng

giá tác động môi trường và triển khai các chương trình giám sát, lập kế hoạch
phòng ngừa những tai biến thiên nhiên và tai biến do con người gây ra. Bảo
tồn và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng. Đề xuất những chính sách chỉ đạo
quốc gia để duy trì đa dạng sinh học và năng suất của các loài và các hệ sinh
thái biển ở Biển Đông. Việt Nam cũng đã chú trọng đưa những kiến thức sinh
thái và sự hiểu biết về các hệ thống giá trị xã hội và văn hóa truyền thống vào
quản lý đới bờ và đưa các cộng đồng địa phương cùng tham gia vào quá trình
quản lý. Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành gần 50 văn bản khung pháp
lý bảo vệ môi trường biển và phòng chống ô nhiễm biển [1].
Để giải quyết các vấn đề trên ngày 3/12/2003, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 257/2003/QĐ-TTg về việc hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ
8
sở hạ tầng thiết yếu và phát triển kinh tế các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi
ngang ven biển và hải đảo.
Thực hiện Quyết định nêu trên, ngày 14/5/2004, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội đã có Quyết định số 683/2004/QĐ-LĐTBXH về ban hành tiêu
chí xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, đồng thời hướng
dẫn địa phương rà soát, đề xuất xã phù hợp với tiêu chí đã nêu để xem xét,
tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở thực hiện chính
sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các xã đặc biệt khó khăn bãi ngang
ven biển và hải đảo giai đoạn 2006- 2010.
Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang đánh giá kết quả thực
hiện Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các xã đặc biệt khó khăn ven biển, hải
đảo 2006 - 2010, đề xuất tiêu chí mới, hướng dẫn địa phương rà soát, đề xuất
để thực hiện giai đoạn 2011 - 2015
2.3 Hoạt động khai thác thủy sản biển ở Việt Nam
2.3.1 Tổng quan về nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái
Bình Dương, có diện tích khoảng 3.448.000 km
2

Xét theo nhóm cá có sự khác nhau theo vùng địa lý. Nhóm cá nổi nhỏ tập
trung nhiều ở khu vực biển miền Trung (chiếm 82,5%) và Vịnh Bắc Bộ
(57,3%) [10]
2.3.3 Hiện trạng khai thác thủy sản
- Số lượng và công suất tàu thuyền khai thác thủy sản:
Theo thống kê từ năm 1990 – 2007 số lượng tàu thuyền lắp máy đánh bắt
hải sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian.
Tổng số tàu đánh bắt có lắp máy ở nước ta tăng gấp 1,3 lần, với tốc độ tăng
bình quân 1,53%/năm. Nhưng tổng công suất tàu đánh bắt tăng gấp 6,4 lần và
đạt tốc độ tăng 10,87%/năm [9]
Như vậy, tốc độ tăng công suất tàu thuyền cao hơn gấp 10 lần so với tốc độ
tăng số lượng tàu. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nguồn lợi hải sản gần bờ
giảm nhanh, từ sau khi chính phủ ban hành quyết định 393/ttg ngày 25/5/1997
về việc cho vay vốn tín dụng ưu đãi đóng tàu khai thác hải sản xa bờ, đã tạo
thành phong trào trong ngư dân đóng tàu công suất lớn ra khai thác xa bờ. Do
đó, người dân có chiều hướng đóng thuyền có công suất lớn nhằm vươn ra
ngư trường ngoài khơi, nhiều gia đình đã thực hiện việc cải hoán tàu thuyền
10
khai thác, từ thuyền có công suất thấp sang thuyền có công suất lớn hơn, khả
năng ra khơi xa hơn.
Trong tổng số tàu thuyền khai thác ở nước ta, tỷ lệ số tàu thuyền khai thác
xa bờ chiếm tỷ lệ không cao nhưng có xu hướng tăng dần theo thời gian.
Tổng số lượng tàu khai thác xa bờ của nước ta trong năm 2000 có 9.766
chiếc, chiếm 12%, đến năm 2007 đạt tới 21.130 chiếc, chiếm 22% tổng số tàu
thuyền của cả nước, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu khai
thác xa bờ lên 10,13%/năm [10]
- Sản lượng và năng suất khai thác:
Trong thập kỷ vừa qua, sản lượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản đã tăng lên
không ngừng và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước hàng đầu trên
thế giới về xuất khẩu thuỷ sản. Năm 1990, tổng sản lượng thuỷ sản chỉ

Thứ ba, hầu hết các hoạt động khai thác hải sản diễn ra ở khu vực ven
bờ và cường lực khai thác (bao gồm cả số lượng tàu thuyền cũng như tổng
công suất) đang không ngừng tăng lên. Hình 1 cho thấy số lượng tàu thuyền
máy đã tăng gần gấp đôi với tổng công suất tăng gần gấp ba, tàu thuyền thủ
công giảm một nửa trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2002.
(Nguồn: Dữ liệu từ Bộ Thuỷ sản)
Biểu đồ 1: Tỷ lệ gia tăng số lượng và tàu thuyền khu vực ven bờ
giai đoạn 1990 - 2002
12
Thứ tư, do có thu nhập thấp từ nông nghiệp, nhiều nông dân đã tham
gia khai thác hải sản và xem đây là phương kế sinh nhai cuối cùng dẫn đến số
lượng người tham gia khai thác ở khu vực ven bờ tăng lên làm cho sản lượng
khai thác trên một đơn vị cường lực giảm và nguồn lợi ngày càng cạn kiệt.
Cuối cùng, vấn đề khai thác quá mức ở khu vực ven biển đã ngày càng
trở nên rõ ràng, chẳng hạn, ở khu vực Vịnh Bắc bộ sản lượng khai thác thực
tế đã vượt quá sản lượng bền vững tối đa (MSY) từ năm 1994. Nghề cá ven
bờ đã được ngư dân và Chính phủ nhìn nhận là đang trong tình trạng khai thác
quá mức, Chính phủ đã và đang cố gắng giảm cường lực khai thác ở khu vực
ven bờ. Tuy nhiên, kết quả của các nỗ lực này chưa đạt được như mong muốn
do chưa có sự phối hợp và phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp chính
quyền, thiếu các thông tin khoa học căn bản cần thiết và sự hạn chế của các
nguồn vốn đầu tư .
2.3.5 Tình hình phát triển ngành khai thác thuỷ sản ở thừa thiên huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm ở miền Trung Việt Nam, có
tọa độ ở 16-16,8 Bắc và 107,8-108,2 Đông, nơi có thể coi là điểm giữa của
bản đồ Việt Nam hình chữ S. Thừa Thiên Huế có ưu thế về phát triển thuỷ sản
ở 3 vùng: vùng biển, vùng đầm phá và vùng nước ngọt. Hệ thống đầm phá
nước lợ thuộc phá Tam Giang với chiều dài 70km, diện tích 22.000 ha là vùng
đầm phá có diện tích lớn nhất Đông Nam Á, có khả năng nuôi trồng và đánh
bắt nhiều loại thuỷ hải sản đặc biệt dành cho xuất khẩu. Những yếu tố đó tạo

Thời gian nghiên cứu: từ ngày 3/1/2010 – 20/5/2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự đa dạng hoá sinh kế của các cộng đồng
trong điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội hiện tại. Cụ thể các nội dung
nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu và đánh giá vai trò sinh kế của hoạt động khai thác thuỷ sản biển
- Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò của tổ chức cộng đồng trong
hoạt động khai thác thuỷ sản biển
-Tìm hiểu các hoạt động sinh kế và đánh giá đa dạng hoá sinh kế của cộng
đồng ngư dân sống dựa vào khai thác thuỷ sản biển
+ Thực trạng đa dạng sinh kế
+ Đánh giá đa dạng hoá sinh kế
- Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về quản lý thuỷ sản biển và ảnh hưởng
của biển đổi khí hậu đến sinh kế ngư dân
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu
- Chọn điểm:
Xã được chọn là một xã ven biển Thuận An, đó là xã Phú Thuận – Phú
Vang – TT Huế, đảm bảo các chỉ tiêu:
- Có nghề khai thác thuỷ sản phát triển
- Thuận lợi cho việc điều tra thu thập thông tin dữ liệu
15
- Chọn mẫu:
Chọn các hộ đang sinh sống và tham gia hoạt động khai thác thuỷ sản
biển tại thôn An Dương – Phú Thuận – Phú Vang – TT Huế.
Phương pháp chọn: thu thập danh sách các hộ KTTS trong thôn, cộng
đồng ngư dân thôn An Dương được chia làm 3 liên đoàn. Chọn ngẫu nhiên
mỗi liên đoàn 20 hộ.
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp

triệu đồng so với năm 2009) với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,5% ; cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng Dịch vụ - Ngư nghiệp – Tiểu thủ công
nghiệp, đã đẩy mạnh tăng nhanh dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.
- Lĩnh vực dịch vụ - thương mại: đạt giá trị 75,759 tỷ đồng, tăng 23,6% so
với năm 2009.
- Lĩnh vực Ngư – Nông – Lâm nghiệp: đạt giá trị 74,818 tỷ đồng, tăng
10,4% so với năm 2009.
- Lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp – ngành nghề nông thôn: đạt giá trị 26 tỷ
862 triệu đồng, tăng 20% so với năm 2009.
Cụ thể một số lĩnh vực như sau:
• Về KTTS biển :
Là một xã ven biển đầm phá nên sản xuất trên địa bàn chủ yếu là khai thác
thủy sản và đây chính là ngành nghề đem lại thu nhập chính cho người lao
động. Trong năm qua đã đẩy mạnh vận động ngư dân từ lưới cụ, trang thiết bị
hiện đại, cải hoán tàu thuyền mở rộng ngư trường khai thác, bám biển dài
ngày, ứng dụng khoa học kỷ thuật hộ trợ sản xuất, năm 2010 sản lượng khai
thác đạt 8003 tấn, ước tổng giá trị: 72 tỷ 27 triệu đồng, tăng 12 tỷ 282 triệu
đồng so với năm 2009, đạt 100,03% kế hoạch. Trong đó: khai thác biển đạt
7.900 tấn, đầm phá 103 tấn. Đến cuối năm 2010 trên địa bàn Xã có 56 tàu
đánh bắt xa bờ (giảm 3 chiếc so với năm 2009), 08 chiếc gọ, 59 ghe máy, 92
17
xuồng nang với tổng công suất 6.166 CV, có 120 thuyền có động cơ khai thác
đầm phá với công suất 2,119 CV.
• Về NTTS đầm phá:
Nuôi trồng thủy sản có xu hướng thu hẹp do quy hoạch đất để thực hiện
các dự án định cư trên địa bàn Xã. Mặc dù vậy, UBND xã đã phối hợp với
phòng NN & PTNT huyện tổ chức hướng dẫn nông dân cải tạo ao hồ nuôi
xen ghép nhiều đối tượng, đảm bảo lịch thời vụ. Tổng sản lượng thu cá thịt
các loại đạt 13,8 tấn, cua đạt 6,09 tấn, ước đạt giá trị 2 tỷ 17 triệu đồng.
Phối hợp với Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tiến hành đăng kiểm cho

Các dự án đầu tư du lịch trên địa bàn đang trong quá trình triển khai xây
dựng, trong đó: dự án do nhà đầu tư người Pháp đã hoàn thành một số hạng
mục công trình, riêng dự án của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển công
nghệ Việt Nam đã có quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết của UBND
Tỉnh với tổng diện tích 665.303m
2
, hiện nay đang triển khai thi công, nhưng
do còn vướng chưa giải quyết dứt điểm việc hỗ trợ, đền bù giải phóng các hộ
có ao hồ để xây dựng khu định cư cho các hộ bị ảnh hưởng từ dự án nên việc
triển khai còn khó khăn.
• Về sản xuất Nông – Lâm nghiệp:
- Lâm nghiệp: đã trồng 10.000 cây phân tấn tại các khu vực ven biển đầm
phá nhằm góp phần chống sạt lỡ ven biển, tăng cường công tác kiểm tra chặt
phá rừng, cháy rừng. Nhờ vậy, đã hạn chế thấp nhất tình trạng chặt phá rừng
trên địa bàn.
- Chăn nuôi: đã làm tốt công tác tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm ở gia
súc, gia cầm, nhất là dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, dịch tai xanh ở
Lợn. Tăng cường công tác tiêm phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, đã tiêm
phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, dịch tả, tụ huyết trùng lợn, bệnh dại chó
với 1.280 liều. Nhờ vậy, đến nay xã chưa có dịch xẩy ra. Hiện trên địa bàn Xã
có 487 con Lợn, trâu bò 52 con, gia cầm 950 con, ước đạt giá trị 1 tỷ 774 triệu
đồng.
• Sản xuất tiểu thủ công nghiệp – ngành nghề nông thôn:
Đạt giá trị 26 tỷ 862 triệu đồng, tăng 20,7% so với năm 2009. Sản xuât
tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn chủ yếu là các cơ sở và các hộ cá thể chế
biến nước mắm. Vì thế, năm qua UBND xã đã tăng cường công tác vận động
các hộ chế biến, đặc biệt là các cơ sở đã có thương hiệu, tích cực quảng bá sản
phẩm, đăng ký nhãn mác hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ. Đồng thời,
19
phối hợp với các phòng ban chức năng Huyện triển khai các dự án khuyến

hóa được kết hợp bán tại nhà, còn hàng trái cây và thủy sản được bán tại các
20
chợ địa phương. Ngoài ra có khoảng 35 lao động trong độ tuổi từ 16 đến 25 đi
làm ăn xa tại các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và một số ít tại Hà Nội
trong đó nam chiếm khoảng 20 người, còn lại là nữ.
Tỷ lệ hộ nghèo tại thôn là 162 hộ với 834 khẩu, chiếm tỷ lệ 8,92% (năm
2010). Hộ cận nghèo chiếm 143 hộ với 712 khẩu, chiếm tỷ lệ 7,87% tăng gần
gấp đôi hộ nghèo theo tiêu chuẩn cũ. Hiện tại những hộ này gặp nhiều vấn đề
khó khăn trong sinh kế, không có vốn đầu tư, vấn đề chất lượng lao động và
thu nhập không ổn định là một thách thức không nhỏ cho các hộ nghèo trong
thôn. Bước sang năm 2010, sự đột phá về giá cả leo thang, đặc biệt là giá
xăng dầu thì dường như khó khăn lại chồng chất, chi phí không đủ bù chi nên
phải chấp nhận ngừng hoạt động.
4.1.3 Đặc điểm nhân khẩu, lao động nhóm hộ khảo sát
Bảng 2: Đặc điểm nhân khẩu, lao động hộ khảo sát
Chỉ tiêu ĐVT Số liệu thu thập
Số khẩu bình quân/hộ Khẩu 4,8
Số lao động bình quân/hộ Lao động 2,75
Số lao động theo ngành nghề chính/hộ Lao động 1,2
Văn hóa chủ hộ Lớp 4,9
(Nguồn: phỏng vấn hộ 2011)
Qua bảng trên ta thấy rằng: số dân trong độ tuổi lao động chiếm khoảng
50%, như vậy số người dưới và trên độ tuổi lao động sống dựa vào lao động
chính tương đối lớn. Số lao động ở độ tuổi 17 – 44 chiếm tỷ lệ cao nhất và
thấp dần ở độ tuổi 55 – 60.
Trình độ văn hóa là căn cứ để phản ánh tầm hiểu biết, trình độ kiến
thức cũng như khả năng tiếp thu khoa học kỷ thuật tiên tiến, phần lớn ảnh
hưởng đến hoạt động sinh kế và thu nhập của hộ. Ở bảng trên cho thấy trình
độ văn hóa của các chủ hộ KTTS tại thôn là khá thấp. Tính trung bình văn hóa
chung của các chủ hộ, hầu hết chỉ học hết lớp 5.

lệch nhau. Hộ chuyên KTTS chiếm phần đông (76,7%), trong khi đó hộ
KTTS + dịch vụ chiếm 20% và chỉ có 3,3% số hộ vừa KTTS vừa làm thợ nề.
Lao động chính của các hộ chuyên KTTS la chủ hộ (nam giới), họ thường đi
biển dài ngày va không làm thêm ngành nghề nào khác vì không có thời gian.
Đây thường là các chủ tàu. Còn người vợ chỉ ở nhà nội trợ và chăm sóc con
cái. Những hộ vừa đi tàu vừa làm thợ nề thường là những người đi tàu thuê
cho các chủ tàu, thời gian đi biển của họ không cố định lúc không đi biển
hoặc nhũng ngày tuần trăng tàu lên bờ họ đi làm thợ nề kiếm thêm thu nhập
Hộ KTTS và dịch vụ có sự khác biệt hơn, đó là có sự tham gia của người phụ
nữ. Những hộ này thường thì người chồng đi biển, người vợ kiếm thêm thu
nhập bằng các ngành nghề như buôn bán hoa quả, hay các hàng tạp hóa tại
nhà, một số hộ chế biến nước mắm và bán các loại cá mực tại chợ địa phương
chỉ lúc nào cá đánh bắt về tiêu thụ không hết hay một số loại cá không đạt
chât lượng của người thu mua thì lúc đó người vợ chở ra chợ để bán hoặc làm
chế biến nước mắm với số lượng cá nhiều.
23
4.2 Hoạt động Khai thác thủy sản biển
Bảng 3: Tình hình hoạt động KT xa bờ của xã Phú Thuận
Hoạt động
Năm
bắt đầu
Số hộ/
thôn
HT tổ
chức
T.gian/
chuyến
(ngày)
Số
chuyến/

vào đầu tháng 2 đến cuối tháng 8, và được gọi là vụ nam, dùng để đánh bắt
các đối tượng chính như cá nục (90%), và một số loại cá như cá bạc má, cá
chim (10%). Nghề lưới vây làm vào mùa hè, không có gió bão nên các
chuyến đi được diễn ra đều đặn, bình quân 8 chuyến/1 vụ/1 tàu.
24
Lưới vây được dùng để đánh bắt cá nục, cá chim. Còn lưới rê được dùng cho
vụ bắc, để đánh bắt các loại cá thu, ngừ…, vụ bắc nằm từ đầu tháng 9 đến
cuối tháng 12, đây là thời điểm xẩy ra nhiều trận bão, gió to, áp thấp nhiệt đới
nên thời tàu thuyền nằm bờ dài ngày nhiều hơn, ra khơi thất thường, không ổn
định.
Mỗi chuyến tàu xa bờ thường đi từ 20 đến 23 ngày, ngư trường đánh
bắt trung bình là 120 hải lý (1 hải lý = 1.8km). Tàu có từ 10 đến 12 người
gồm cả chủ tàu và đánh bắt thuê. Ở đây, chủ tàu là những người góp vốn với
nhau để đầu tư mua tàu và ngư cụ đánh bắt, thường là một nhóm 3 hoặc 5
người góp vốn với nhau, cũng có tàu có đến 8, 10 hay 12 người góp vốn với
nhau nhưng số đó chiếm rất ít, chỉ có 3 tàu (chiếm 5%). Hình thức góp vốn
này với mục đích là để hộ trợ vốn cho nhau, đầu tư một chiếc tàu trung bình
phải mất đền 350 triệu, là một con số quá lớn đối với một người, do đó trên
địa bàn thôn người dân thường chung vốn với nhau để làm ăn. Những người
không có vốn thì thì đi tàu thuê cho các chủ tàu.
4.3 Thay đổi sản lượng và thu nhập từ KTTS biển
Bảng 4: Chuyển dịch SL và TN của hộ KTTS xã Phú Thuận giai đoạn
2008 - 2010
Hoạt
động
Loài KT
chính
Sản lượng/
chuyến
2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status