ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng bún ô sa đến môi trường sống của người dân xã quảng vinh, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 14

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
T&T
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG BÚN Ô SA
ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ QUẢNG VINH
HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Thị Thu Hiền Th.S. Mai Lệ Quyên
Lớp: K44 Kinh tế TNMT
Khóa: 2010 - 2014
Huế, tháng 5 năm 2014
Lời Cảm Ơn
Lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo
trong trờng Đại Học Kinh Tế Huế, đặc biệt là các thầy cô giáo khoa
Kinh Tế và Phát Triển trong suốt 4 năm của khóa học đã dạy dỗ, truyền
đạt cho tôi những kiến thức bổ ích.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Th.s Mai Thị Lệ
Quyên, ngời đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cô, chú, anh chị ở
UBND xã Quảng Vinh, Phòng TNMT huyện Quảng Điền, Chi cục
Bảo vệ môi trờng tỉnh Thừa Thiên Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập để tôi hoàn thành tốt đề tài
nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể gia đình,
bạn bè tôi, những ngời luôn ở bên tôi, động viên và tạo điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp.
Do còn hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm cũng nh thời gian,
nên quá trình nghiên cứu đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính

1.1.1.3.Các dạng ô nhiễm môi trường 6
1.1.2.Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề 7
1.1.2.1.Khái niệm và vai trò làng nghề 7
1.1.2.2.Đặc điểm chung và những tồn tại của làng nghề 10
1.1.2.3.Ảnh hườngcủa ô nhiễm làng nghề đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, kinh
tế - xã hội 13
1.2.Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1.Tổng quan ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam 16
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
i
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2.Thực trạng môi trường các làng nghề sản xuất bún 18
1.2.3.Khái quát tình hình phát triển làng nghề bún Ô Sa tại xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền 20
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ 21
BÚN Ô SA ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN 21
XÃ QUẢNG VINH 21
1.3.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
1.3.1.Vị trí địa lý 22
1.3.2.Điều kiện tự nhiên 23
1.3.2.1.Địa hình, thổ nhưỡng 23
1.3.2.2.Khí hậu, thủy văn 23
1.3.2.3.Tài nguyên thiên nhiên 23
1.3.3.Điều kiện kinh tế xã hội 25
1.4.Hoạt động sản xuất bún của các hộ dân thôn Ô Sa 27
1.4.1.Tổng quan làng nghề sản xuất bún Ô Sa: 27
1.4.1.1.Tình hình sản xuất và thu nhập 27
1.4.1.2.Quy mô lao động sản xuất bún 27
1.4.1.3.Cơ sở hạ tầng 28
1.4.2.Quy trình sản xuất bún ở làng nghề Ô Sa 29
1.4.3.Hiện trạng môi trường ở làng nghề bún Ô Sa 31

xuất, gây tiếng ồn, thải nước thải gây ô nhiễm không khí, môi trường nước ảnh hưởng đến
cuộc sống, sức khỏe của người dân trong khu vực gây ra những mâu thuẫn, xung đột. Đáng lẽ ra,
những người trong thôn đều có quyền được hưởng môi trường trong lành, nhưng do đánh giá
lợi ích thu nhập do làm bún cao hơn nên các hộ làm nghề bất chấp làm 47
1.5.4.Tình hình thực hiện các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm của chính quyền địa phương đối với
làng bún Ô Sa 47
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO 50
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG XÃ QUẢNG VINH 50
1.6.Định hướng bảo vệ môi trường của xã Quảng Vinh 50
1.7.Một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm làng nghề 51
1.7.1.Giải pháp về tăng cường năng lực quản lý 51
1.7.2.Giải pháp quy hoạch 52
1.7.3.Giải pháp về công nghệ, kỹ thuật: 52
1.7.4.Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và phối hợp sự tham gia của cộng đồng 53
1.7.5.Áp dụng chế tài kinh tế: người gây ô nhiễm phải trả tiền 54
1.7.6.Tăng cường nhân lực và tài chính trong BVMT làng nghề 54
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1.Kết luận 55
2.Kiến nghị 56
2.1. Đối với chính quyền địa phương 56
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
iii
Khóa luận tốt nghiệp
2.2. Đối với các cơ sở sản xuất bún 57
2.3. Đối với người dân địa phương 58
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
iv
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MT : Môi trường

2011 41
Bảng 19: Tác động của ô nhiễm làng bún đến sức khỏe 44
Bảng 20: Ý kiến của người dân về vấn đề xả chất thải làm bún ra công cộng 46
Bảng 21: Ý kiến của người dân về mâu thuẫn làng nghề 47
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
vi
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
vii
Khóa luận tốt nghiệp
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Những năm gần đây, các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm phát triển
khá mạnh góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, tang thu nhập, tạo công ăn
việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi. Bên cạnh lợi ích trực tiếp về hiệu quả kinh tế,
cũng giống như mặt trái của nhiều làng nghề truyền thống khác, các làng nghề chế
biến lương thực đã và đang phát thải các chất gây ô nhiễm làm giảm chất lượng môi
trường sống của cộng đồng, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Làng nghề bún Ô Sa, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
cũng không nằm ngoài quy luật này, nước thải của quá trình sản xuất đã và đang gây
tác động xấu đến môi trường, hoạt động sản xuất kinh tế cũng như sức khỏe của người
dân trong thôn. Từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng hoạt động sản xuất
làng bún Ô Sa đến môi trường sống của người dân xã Quảng Vinh, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Các phương pháp được sử dụng:
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp tham khảo chuyên gia
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
- Phương pháp quan sát, mô tả
Từ mục đích và các thông tin thu thập được, đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn tồn tại những bất cập, đặc
biệt là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân từ hoạt
động sản xuất của các làng nghề.Mức độ ô nhiễm môi trường trong các làng nghề
truyền thống và các cơ sở ngành nghề nông thôn ngày nay đang ngày càng gia tăng.
Bởi ý thức bảo vệ môi trường còn thấp của con người trong quá trình sản xuất, các hộ
làm nghề xả nước thải chưa qua xử lý trực tiếp ra môi trường dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường đã và đang xảy ra rất nghiêm trọng ở các làng nghề truyền thống ở
Việt Nam.
Được hình thành và phát triển trên 500 năm, làng nghề sản xuất bún Ô Sa – xã
Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã khẳng định được thương
hiệu và chất lượng. Tuy nhiên làng bún cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là nước thải của làng nghề xả trực tiếp
xuống con mương chung mà không qua bất kỳ hệ thống xử lý nước thải nào đã gây ô
nhiễm môi trường đất, nước và không khí, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của
người dân. Cùng với đó là mật độ dân cư đông, thiếu mặt bằng sản xuất, chủ yếu tại
nhà khiến khâu xử lý nước thải khó khăn. Mặt khác, dưới áp lực của gia tăng dân số,
ao, hồ, sông ngòi bị san lấp phục vụ vào mục đích dân sinh làm giảm khả năng điều
tiết chất thải dẫn đến tình trạng quá tải, nước chảy tràn ra kênh, mương, cống rãnh ven
đường, gây mùi hôi ảnh hường đến sức khỏe người dân và mất mỹ quan thôn xóm.
Vì vậy, bên cạnh phát triển kinh tế, việc giải quyết các vấn đề môi trường làng
nghề là một trong những tiêu chí để xây dựng làng nghề truyền thống trong tương lai.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
1
Khóa luận tốt nghiệp
Và làng bún Ô Sa là một trong số đó. Vấn đề đặt ra ở đây là cần tìm hiểu ảnh hưởng
của hoạt động sản xuất làng nghề bún đến môi trường, sức khỏe của người dân hiện
nay thực sự là cần thiết. Xuất phát từ vấn đề này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng bún Ô Sa đến môi trường sống của người
dân xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm nghiên cứu và
đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường cho làng nghề bún Ô

nghiệp…
- Thu thập số liệu sơ cấp: nghiên cứu, điều tra tại địa bàn, tìm hiểu ý kiến của 25
hộ dân làm bún và 35 hộ không làm bún ở thôn Ô Sa nhằm đánh giá nhận thức và mức
độ ảnh hưởng của hoạt động sản xuất bún đến môi trường sống. với tổng số mẫu điều
tra là 60 hộ dân trên tổng số 159 hộ (bao gồm 12 xóm ở thôn Ô Sa), các mẫu được
chọn theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp.
•Phương pháp tham khảo chuyên gia
Tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nói
chung và cán bộ ở các Sở tài nguyên, phòng TNMT huyện về những nội dung của đề tài.
•Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được ở kết quả phỏng vấn, tiến hành thống kê và xử lý số
liệu bằng phần mềm Excel, với các bảng được thể hiện trong khóa luận là kết quả của
phương pháp này.
•Phương pháp quan sát, mô tả
Quan sát và ghi lại những thói quen xả thải hàng ngày của người dân cũng như ý
thức của họ trong công tác bảo vệ môi trường sống. Đồng thời, đánh giá ưu điểm và
hạn chế của mô hình xử lý môi trường làng bún Ô Sa.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu dựa trên thông tin, dữ liệu điều tra từ 60
hộ dân ở thôn Ô Sa, bao gồm 25 hộ làm bún và 35 hộ không làm bún.
- Phạm vi thời gian: các dữ liệu, thông tin sử dụng được thu thập chủ yếu trong 3
năm 2011 - 2013.
- Phạm vi nội dung: đánh giá mức độ ô nhiễm bởi quá trình sản xuất bún Ô Sa
đến môi trường và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường thời
gian tới cho xã Quảng Vinh.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
3

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
4
Khóa luận tốt nghiệp
Theo tổ chức Y tế thế giới: “ Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các
chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe
con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường”.
Theo khoản 6, điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: “ Ô nhiễm
môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc
năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm
bao gồm các chất thải dạng khí như khí thải, dạng lỏng như nước thải, dạng rắn như
chất thải rắn chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như
nhiệt độ, bức xạ.
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường có thể là do các hoạt động của quá trình tự
nhiên như thiên tai, bão lũ, núi lửa… Hoặc do hoạt động của con người thực hiện
trong công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất làng nghề, giao thông, chiến tranh, trong
sinh hoạt, mức độ gia tăng dân số Trong khi con người chưa có biện pháp xử lý hữu
hiệu, nồng độ chất thải ngày càng vượt quá mức tự đồng hóa của môi trường. Ngày
nay, ô nhiễm môi trường trở thành hiểm họa đối với đời sống của sinh giới và cả con
người ở bất kỳ phạm vi nào, từ quốc gia, khu vực đến toàn cầu. Đây chính là sản phẩm
của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra trên thế giới. Ô nhiễm hiện nay đã
lan tràn nhiều nơi, từ đất, nước đến khí quyển, từ bề mặt đất đến lòng đất hay đại
dương.
Ô nhiễm môi trường là các yếu tố có thể định lượng được, thông qua các cách
nhận biết:
- Bằng trực quan: căn cứ vào màu sắc bất thường của môi trường nước, bụi…
- Bằng cảm quan: khó chịu
- Bằng các sinh vật chỉ thị: sự biến mất của các loài sinh vật nhạy cảm với môi

biến đổi thành phần và chất lượng của không khí theo chiểu hướng xấu đối với sự sống.
Ô nhiễm không khí cũng có 2 nguồn: nguồn gốc tự nhiên (do núi lửa, cháy rừng, gió
bụi, quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong tự nhiên…) và nguồn gốc nhân tạo do các
hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người gây nên như hoạt động công nghiệp tại
các nhà mày, làng nghề hay đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, hoạt động giao thông …
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
6
Khóa luận tốt nghiệp
- Ô nhiễm đất: là sự biến đổi thành phần chất lượng của lớp đất ngoài cùng của
thạch quyển, dưới tác động tổng hợp nước, không khí đã bị ô nhiễm, rác thải độc hại…
theo chiều hướng tiêu cực đối với sự sống của sinh vật và con người. Do các tác nhân
sinh học như phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý, ký sinh trùng…, tác nhân
hóa học như chất thải công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật…, tác nhân vật lý như nhiệt,
phóng xạ. Sa mạc hóa là hiện tượng nguy hiểm nhất của suy thoái và ô nhiễm đất.
1.1.2. Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề
1.1.2.1. Khái niệm và vai trò làng nghề
1.1.2.1.1. Khái niệm làng nghề
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm
được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần
cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn. Đa số
các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước, như làng gốm sứ Bát
Tràng ( Hà Nội) với hơn 500 năm lịch sử thăng trầm, làng tranh dân gian Đông Hồ
(Bắc Ninh), làng nghề kim hoàn Kế Môn (Thừa Thiên Huế) nổi tiếng hơn 300 năm
nay… Trải qua dòng thời gian, các làng nghề đã hình thành và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần được qui về các khái niệm
như làng nghề truyền thống, làng nghề cố truyền, làng nghề thủ công… Tùy vào từng
địa phương, từng góc độ nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa
khác nhau về làng nghề. Để tìm hiểu khái niệm làng nghề cần chú ý đến 2 yếu tố cấu
tạo nên làng nghề đó là “làng” và “nghề”. Làng là không gian lãnh thổ nhất định mà

18/12/2006 của bộ NN&PTNT).
Như vậy, để xác định làng nghề, người ta căn cứ vào những quy chuẩn, tiêu chí
phát triển nhất định, không phải làng nào có hoạt động sản xuất kinh doanh ngành
nghề nông thôn cũng được gọi là làng nghề.
1.1.2.1.2. Vai trò làng nghề
Trong nhiều năm qua, sự phát triển vượt trội của làng nghề trên cả nước đã làm
nền kinh tế chuyển mình, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đầy phát triển kinh tế tại
địa phương, đóng góp chung vào sự phát triển chung của đất nước. Vì vậy, làng nghề
có ý nghĩa hết sức to lớn với nền kinh tế - xã hội, được thể hiện:
- Các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hóa phong phú, đa dạng phục vụ cho nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
8
Khóa luận tốt nghiệp
Số lượng ngành nghề phong phú, các cơ sở, hộ sản xuất đông đã tạo ra sự đa
dạng về mẫu mã, chủng loại, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, không những
phục vụ tại địa phương mà còn các quốc gia khác trên thế giới như hàng thủ công mỹ
nghệ, thêu ren, gốm sứ của Việt Nam hiện đã có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnh
thổ, đồng thời trở thành nguồn thu ngoại tệ quan trọng với mức độ tăng trưởng bình
quân trên 20%/năm. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao thể hiện
những sắc thái riêng của mỗi làng nghề.
Biểu đồ 1: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ (2010 – 2013)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2013)
Năm 2012, hàng thủ công đạt hơn 1,8 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ năm 2013 so với cùng kỳ năm trước tăng 18,3%,
cao hơn tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước 16,1%, nằm trong top 11
mặt hàng có kim ngạch lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.
- Các làng nghề góp phần tạo việc làm, phân công lao động, thu hút lao động dư
thừa ở nông thôn, tạo việc làm thường xuyên cho trên 11 triệu lao động - chiếm khoảng
30% lực lượng lao động nông thôn. Nhiều làng nghề đã thu hút trên 70% lao động của

(theo báo cáo môi trường quốc gia). Tuy ở mỗi làng nghề có sự khác nhau về quy mô
sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung những đặc
điểm như:
- Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự phát triển của xã hội nông thôn. Có
tác động qua lại lẫn nhau, làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp nông
thôn về lao động, thị trường, nguyên liệu, đất đai… Các ngành nghề thủ công và các
ngành nghề nông thôn khác dần tách khỏi nông nghiệp sang các ngành phi nông
nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn mà nó quay trở lại phục vụ cho nông thôn.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
10
Khóa luận tốt nghiệp
Từ đó góp phần thúc đầy nền kinh tế nông thôn phát triển hơn. Đồng thời, làng nghề
còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét được phản ánh qua tập tục, tín ngưỡng,
lễ hội và nhiều quy định khác. Những quy định này hình thành nên hương ước, lệ làng,
tạo ra một khuôn mẫu trong làng nghề và những nét văn hóa đặc thù.
- Về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề: chủ yếu sử dụng
nguồn nhân lực từ các thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Hình thức này
đảm bảo gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng được lao động và thời gian. Một số
làng nghề đã phát triển thành hợp tác xã và xí nghiệp tư nhân. Tùy theo yêu cầu sản
xuất, khả năng của các hộ mà có thể thuê lao động bên ngoài gia đình.
- Về sản phẩm, nguyên liệu và thị trường: Dựa trên các yếu tố tương đồng về
ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chia
hoạt động của làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính gồm: thủ công mỹ
nghệ; chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc
da; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác.
Sản phẩm của các làng nghề thường là các vật dụng phục vụ cho đời sống sản xuất
và sinh hoạt hàng ngày như các loại sản phẩm chế biến nông sản như bún, bánh …, các
sản phẩm tiêu dùng như nón, chiếu, may mặc… không chỉ đáp ứng nhu cầu cho con
người mà còn mang tính thẩm mỹ của người làm. Với nguyên liệu chủ yếu khai thác và
tận dụng sự tự có của địa phương, hoặc nguyên liệu trong nước như giang, tre, đất sét…

nguồn nhân lực tại làng nghề còn rất yếu và thiếu. Lao động làng nghề nói chung hiện nay
chia làm 2 nhóm rõ rệt: nhóm lao động không thường xuyên , thiếu kỹ năng thì làm
những công việc đơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản và nhóm thứ 2 là lao động
thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sở hoặc doanh nghiệp làm hàng
mỹ nghệ cao cấp. Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làng nghề chỉ là 12,3%
(theo báo điện tử nhân dân), nhiều làng nghề hiện nay thiếu vắng đội ngũ thợ lành nghề,
lực lượng lao động có trình độ văn hóa, thẩm mỹ chưa cao. Hầu hết chủ hộ sản xuất chưa
được đào tạo về quản trị kinh doanh và thiếu kiến thức về kinh tế thị trường.
- Phát triển làng nghề tác động xấu đến môi trường sinh thái, cảnh quan. Hầu hết
các làng nghề làng nghề ở nước ta đều ô nhiễm môi trường.
- Trong làng nghề, người lao động thường làm việc từ 10 – 12 tiếng trong ngày,
trong điều kiện diện tích chật hẹp, điều kiện phòng chống cháy nổ, an toàn của người lao
động thấp, trong khi thiếu hiểu biết về nghề nghiệp, làm này sinh tai nạn nghề nghiệp.
- Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá dẫn tới quá
trình sản xuất tiêu tốn nhiều nhiên, nguyên liệu làm tăng phát thải ra môi trường đất,
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44 Kinh tế TNMT
12
Khóa luận tốt nghiệp
nước, không khí ảnh hưởng tới giá thành và chất lượng sản phẩm. Kỹ thuật lao động
chủ yếu là thủ công, bán cơ khí.
- Do tính chất phân tán theo mô hình hộ gia đình nên việc chỉ đạo, giám sát, quản
lý của cơ quan quản lý Nhà nước gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc quản lý làng nghề
chưa triệt để.
1.1.2.3. Ảnh hườngcủa ô nhiễm làng nghề đến môi trường, sức khỏe cộng đồng,
kinh tế - xã hội
Bên canh những tích cực thì hệ lụy của phát triển làng nghề đã để lại những hậu
quả mà vấn nạn ô nhiễm ngày càng trầm trọng không chỉ đến hoạt động sản xuất, môi
trường mà còn gây tổn hại đến sức khỏe người dân. Hiện nay, các chất thải phát sinh
ra từ các làng nghề hầu hết chưa qua xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường, các kết quả
quan trắc gần đây cho thấy nồng độ các chất thải có xu hướng gia tăng, nhất là ô

13
Khóa luận tốt nghiệp
2500 – 5000mg/l, COD 13300 – 20000mg/l đối với nước tách bột đen trong sản xuất
tinh bột sắn. Nước thải cống chung của các làng nghề này đều vượt quy chuẩn cho
phép từ 5 – 32 lần (nguồn: đề tài KC 08 – 09)
Nước mặt ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, ở nhiều nơi có BOD
5
, COD, NH
4
+,
Coliform vượt TCVN hàng chục đến hàng trăm lần như làng chế biến tinh bột Cát
Quế, Dương Liễu…
Môi trường đất và chất thải rắn đa dạng như bã nguyên liệu, chai lọ, bao bì… thải
ra cống rãnh, đường đi gây tắc nghẽn, khi phân hủy có mùi hôi thối gây ô nhiễm môi
trường đất, không khí, nước ngầm.
+ Tại các làng nghề tái chế phế liệu (nhựa, giấy, kim loại…): ô nhiễm ảnh hưởng
đến môi trường nghiêm trọng. việc đốt nhiên liệu, rửa sạch chất thải mang nhiều hóa chất
độc hại ra môi trường như Zn, Fe, Cr… trong làng tái chế kim loại: xút, phèn, nhựa
thông… trong làng tái chế giấy. chất thải rắn khó phân hủy như phôi, rỉ sắt, bao bì, cao
su… Ngoài ra, làng nghề phải thường xuyên chịu nhiệt độ cao, tiếng ồn lớn, bụi và khí
độc nhiều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người.
+ Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: ô nhiễm không khí diễn
ra phổ biến, phát sinh từ quá trình khai thác, gia công, vận chuyển,… khói độc và sức
nóng tỏa ra từ lò nung, tiếng ồn do hoạt động giao thông làm cho môi trường không
khí bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân. Một số làng nghề sản
xuất gạch ngói thiếu quy hoạch gây hủy hoại thảm thực vật, tạo ra các vùng trũng ảnh
hưởng lớn đến quá trình tưới tiêu và làm giảm diện tích canh tác.
+ Tại các làng nghề ươm tơ, dệt vải và thuộc da: ô nhiễm không khí cục bộ, chủ
yếu là ô nhiễm nước bởi thuốc nhuộm, tẩy, tơ sợi, chất thải rắn thuộc da… chứa nhiều
hóa chất độc hại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status