PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng đất cát ở khu vực Bắc Trung Bộ - Việt Nam có diện tích rất lớn,
khoảng 334.740 ha, chiếm 12% tổng diện tích đất lâm nghiệp của cả vùng,
trong đó 36,7 % diện tích còn bỏ hoang (Theo Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nghĩa
- Viện KHLN Việt Nam). Với diện tích lớn như vậy nhưng việc canh tác lâm
nghiệp còn khá nhiều bất cập. Một trong những bất cập lớn nhất là chưa xác
định được loài cây trồng chính trong vùng và các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh phù hợp. Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên cát đã và
đang được nhiều cơ quan chức năng quan tâm đầu tư, diện tích rừng đã tăng
đáng kể. Tuy nhiên hiệu quả của rừng trồng chưa cao và chưa được đánh giá
một cách đầy đủ. Một số nghiên cứu của Viện KHLN Việt Nam cho một số
loài cây trồng trên vùng này gồm có: Keo lá tràm, Keo tai tượng, phi lao, các
loài keo chịu hạn và một số loài bạch đàn trắng nhưng cũng chưa đi sâu.
Qua tìm hiểu, cây Keo lá liềm là một loài cây trồng có khả năng thích ứng
cao với các vùng đất cát bạc màu và khô cằn đã được Trung tâm Khoa học
lâm nghiệp Bắc Trung Bộ trồng thành công theo đề tài nghiên cứu.
Người dân ở vùng đất cát nội đồng Bắc Trung Bộ nói chung và ở
huyện Phong Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đa số là dân nghèo, đời
sống phụ thuộc vào nghề nông, canh tác nông nghiệp thu nhập thấp, trong
khi đất cát nội đồng lại bỏ hoang khá nhiều, đây là một bức xúc cần quan
tâm giải quyết. Do đó xác định được cơ cấu cây lâm nghiệp và biện pháp kỹ
thuật phù hợp cho vùng cát nội đồng Bắc Trung Bộ có một ý nghĩa rất lớn
về kinh tế và xã hội, góp phần cung cấp gỗ, củi cho người dân trong vùng,
làm vành đai bảo vệ các khu canh tác nông nghiệp, nâng cao đời sống cho
người dân, cải tạo môi sinh môi trường. Nay huyện Phong Điền – Thừa
Thiên Huế đã và đang đưa vào xây dựng các mô hình trồng Keo lá liềm
nhằm giúp người dân vùng đất cát có thể phát triển một loài cây lâm nghiệp
với các mục tiêu ổn định đất đai canh tác, bảo vệ môi trường sinh thái và có
thể giải quyết công ăn việc làm, thu lại hiệu quả kinh tế trồng rừng.
1
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên
động của khí hậu và của con người, đặc biệt là các hoạt động công nghiệp,
nông nghiệp không bền vững, gây ô nhiễm môi trường đã và đang làm phá vỡ
hệ sinh thái tự nhiên của nhiều vùng đất cát trên thế giới.
3
Ở Việt Nam: Theo NIAPP (2003), nhóm đất cát biển có tổng diện tích
hơn 442.570 ha, có mặt trên 120 huyện, 28 tỉnh, chiếm khoảng 1,61% diện
tích tự nhiên của cả nước. Phần lớn diện tích đất cát tập trung thành một dải
chạy dọc bờ biển miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận và rải rác
một số ít vùng ven biển Bắc bộ và Nam bộ. Trước đây ta vẫn dùng đất cát
biển vì chủ yếu phân bố ven biển, nhưng cũng có một số đất cát phân bố
ven một số sông lớn hoặc ở một số vùng đất phát triển tại chỗ trên đá mẹ sa
thạch hoặc granit.
Về sự hình thành: Đất cát là loại đất rất trẻ (từ kỷ đệ tứ đến hiện đại).
Nó là sản phẩm của hai quá trình chính: Quá trình vận động nâng lên của
thềm biển cũ và quá trình bồi tụ tạo lập đồng bằng của hệ thống sông ở
miền Trung và hoạt động địa chất của biển. Do hệ thống các con sông miền
Trung ngắn, độ dốc lớn, nên vận tốc dòng chảy lớn, khiến sản phẩm tích tụ
được thường thô, chủ yếu là cát các loại. Mặt khác, các sông suối lại bắt
nguồn từ các khu vực có cấu tạo bởi các loại đá mẹ khó phong hóa như
granit, riolit, cát kết nên các sản phẩm phong hóa trong nước sông cũng rất
thô.
Theo hệ thống phân loại của FAO – UNESCO, đất cát có 7 loại (đơn
vị) là:
- Đất cồn cát trắng vàng - Luvic Arenosols
- Đất cồn cát đỏ - Rhodic Arenosols
- Đất cát điển hình - Haplic Arenosols
- Đất cát mới biến đổi - Cambic Arenosols
- Đất cát potzon - Albic Arenosols
- Đất cát glây - Gleyic Arenosols
- Đất cát feralit - Feralit Arenosols
trồng tới độ cao 700m so với mặt biển. Lượng mưa bình quân hàng năm từ
1.000-2.500mm, mưa theo mùa hoặc mưa tập trung vào mùa hè, chịu được
5
khô hạn, gió Lào… Chịu nhiệt độ bình quân các tháng nóng nhất là 31-34
o
C,
nhiệt độ bình quân các tháng lạnh nhất 15-22
o
C, không có sương giá. Có thể
sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đất cát sâu và đất sét khó
thoát nước. Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi và khả năng chịu lửa tốt.
Gỗ keo lưỡi liềm khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng,
làm ván ghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ
mỏ… Do tán lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh
với cỏ dại nên dùng để trồng trên đồi trọc làm cây che bóng cho các cây ăn
quả, cây công nghiệp rất tốt. Trên các vùng đất dốc có thể trồng thành hàng
rào hay băng xanh để chống xói mòn, làm băng cản lửa, chắn gió để bảo vệ
đất rất hữu hiệu. Với các vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội
đồng hoặc đồi cát di động, bán di động… là cây trồng lý tưởng để hình
thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hóa khí hậu, chống cát bay, cát nhảy,
cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông
nghiệp và đời sống dân sinh. (Viện KHLN Việt Nam)
Theo Hanum &Van der Maesen, 1997, Keo lưỡi liềm có vùng phân bố
rộng nhiệt độ thích hợp từ 15-34
0
C, lượng mưa từ 500-3500 mm. mùa khô
có thể kéo dài 6 tháng phân bố từ vùng đất cát ven biển đến đất đồi núi, xuất
hiện ở nơi đất khô hạn, nhiểm mặn. Nó thích hợp với nhiều loại đất (Đất ven
biển, đất vàng, đất núi lửa đất axit hay bị ngập lụt vào mùa ẩm.)
Trong thời gian 15 năm trở lại đây, Keo lưỡi liềm đã được nghiên cứu
Điều tra và Quy hoạch rừng - 2001), Thừa Thiên Huế có 28.498,8 ha
(Viện Điều tra và Quy hoạch rừng - 2001), Tỉnh Ninh Thuận và Tỉnh
Bình Thuận có 170.000 ha (Lâm Công Định, 1990). Theo số liệu từ các
trung tâm điều tra quy hoạch của các tỉnh, hiện nay diện tích đất cát
hoang hóa chưa sử dụng của các tỉnh khá lớn chiếm bình quân từ 22-
35% tổng diện tích đất cát ven biển của tỉnh. Như tỉnh Hà Tĩnh tổng diện
tích đất cát còn hoang hóa là 8500ha/28.000ha chiếm 30,35%, Quảng Trị
10.020ha /30.133ha chiếm 33,25%, Tỉnh Thừa Thiên Huế là 6515,97ha,
7
đất hoang hóa chiếm tỷ lệ 6515,97/28.498ha chiếm 22,86%, Tỉnh Quảng
Bình tỷ lệ 8200ha/ 34000ha chiếm 24,1% Đặc biệt 2 huyện Tuy Phong
và Bắc Bình (Bình Thuận) có diện tích đất cát hoang hoá lớn khoảng
35000 ha. Những vùng đất hoang hóa này rất khô căn và nắng nóng vì
vậy bức bách và cần thiết phải chọn ra giống cây chịu hạn, nóng để phủ
xanh vùng đất phòng hộ xung yếu này.
Trong những năm gần đây do biến đổi khí hậu nên khu vực miền
trung thường xuyên phải hứng chịu những trận bão lớn và những trận lũ
lụt kinh hoàng, bờ biển bị lấn chiếm dần như bờ biển Hòa Duân của
Thừa Thiên Huế, đảo Lý Sơn Quảng ngãi. Sóng lớn hàng năm tấn công
vào bờ, cộng với nạn khai thác cát bừa bãi nên đảo Lý Sơn bị xâm thực
nghiêm trọng, diện tích đất ở huyện đảo đang mất dần. Nếu năm 1975
diện tích đất của đảo là 1.400ha thì đến năm 2010 chỉ còn lại 997ha.
Nước biển xâm thực ảnh hưởng nghiêm trọng cuộc sống và việc sản xuất
của người dân vùng cát.
Quá trình di động của cát và hiểm họa sa mạc hóa vùng duyên hải
miền Trung đã thật sự trở thành mối hiểm nguy đe doạ đến môi trường
sinh thái và sự phát triển ổn định bền vững của kinh tế xã hội toàn vùng.
Nhiều vùng đất đai đã bị thoái hoá lâu ngày, đất cát di động mạnh hoặc
phục hồi sự di động vẫn chưa đưa vào sử dụng được. Đời sống người dân
trong vùng còn nghèo nàn, gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: hai huyện Tuy
thực tiễn cao hiện nay.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
- Tại Queensland, Australia và Papua New Guinea:
Ban đầu, Keo lưỡi liềm được trồng và phát triển mạnh mẽ trên đất bị
suy thoái sau khi trồng và đốt slash ở Papua New Guinea, chính những khả
năng đặc biệt của loài keo này nên nó đã được trồng và phát triển mạnh về
phía Bắc của quần đảo.
9
Những nghiên cứu chính thức đã được Trung tâm giống cây lâm
nghiệp Úc (ATSC) đưa vào nghiên cứu để thuần hóa loài cây phục vụ cho
mục đích thương mại từ năm 1980 theo chương trình tài nguyên di truyền và
cải thiện giống cây có sự hỗ trợ của tổ chức Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc
(AusAID), Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) và Bộ
lâm nghiệp Papua New Guinea. Đến năm 1993, loài Keo lưỡi liềm đã chứng
minh sự tồn tại và sức mạnh tuyệt vời trong một loạt các thử nghiệm trong
vùng nhiệt đới ẩm và đã được ghi nhận bởi nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho
Nghiên cứu và phát triển keo ở khu vực Đông Nam Á.
Sau hơn 15 năm nghiên cứu và thử nghiệm, đến nay các chương trình
nghiên cứu của ATSC vẫn đang tiếp tục với mục đích đi sâu vào nghiên cứu
phân tử đa dạng di truyền của loài keo này, đưa loài cây này thành cây lâm
nghiệp ưu tiên phát triển ở vùng đất cát ven biển các nước trong khu vực
Châu Á.
- Tại Thailand:
Nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo trên 6 vùng sinh thái khác
nhau sau 36 tháng tuổi, sinh trưởng của các loài này có sự sai khác rõ ràng,
trong đó 2 loài là Keo lưỡi liềm và Keo lá tràm thể hiện sinh trưởng tốt nhất.
Loài Keo chịu hạn sinh trưởng chậm hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm về cả
chiều cao cũng như đường kính. Sinh khối khô và tươi của Keo chịu hạn
cũng thấp hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm.
từ lâu đời, đặc biệt trên các vùng đất cát ở các tỉnh miền trung vào thời
Pháp thuộc người dân đã trồng những dải rừng Phi lao chắn cát ven biển
như vùng Quảng Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế… lúc này
nghề trồng rừng Phi lao đã chiếm 50-60% thu nhập hàng năm của người
dân đặc biệt là ở Bình Dương – Thăng Bình - Quảng Nam, ngoài ra cây
này còn mang lại lợi ích chắn gió chắn cát, cải tạo đất, bảo vệ sinh thái
nên cây Phi Lao được coi là cây “độc nhất vô nhị” trên vùng đất cát
miền Trung. Tuy nhiên, nhằm nâng cao tính đa dạng sinh học cho các
vùng sinh thái và tăng giá trị sản xuất cho người dân các nhà nghiên cứu
lâm sinh đã tìm ra một loài cây nhập nội mới là cây Keo lưỡi liềm rất có
11
khả năng thích hợp với một số vùng trồng ở Việt Nam nên đã tiến hành
một số nghiên cứu nhằm phát triển tiềm năng lâm nghiệp.
Báo cáo nghiên cứu “Điều tra tập đoàn cây trồng trên cát và xây
dựng mô hình trồng rừng Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) trên cát nội
đồng vùng Bắc Trung Bộ” do Nguyễn Thị Liệu ở Trung tâm khoa học
Bắc Trung Bộ thực hiện năm 2000. Đây là nghiên cứu được thực hiện ở
3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế dựa trên phương pháp
bố trí thí nghiệm trồng rừng thực tế và tìm hiểu ảnh hưởng của biện pháp
làm đất, mật độ trồng và chế độ bón phân đến sinh trưởng của loài cây
Keo Lưỡi liềm và cây Keo Lá tràm (cây đối chứng). Kết quả của nghiên
cứu đã chọn ra được các loài cây trồng chính ở vùng cát của các tỉnh Bắc
Trung Bộ chủ yếu là : Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo lưỡi
liềm (Acacia crassicarpa), Phi lao (Casuarina equisetifolia). Trong đó
nghiên cứu rút ra tổng kết là trong tất cả các loài cây thì khả năng sinh
trưởng của Keo lưỡi liềm tốt nhất, thích nghi rộng và tỉ lệ sống cao nhất
trên điều kiện đất cát nội đồng, cây thường đơn thân, xanh tốt.
Dự án CARD – VIE: 032/05 nghiên cứu phát triển bền vững và
hiệu quả kinh tế cho rừng trồng keo tại Việt Nam. Thí nghiệm về lên lip
trồng rừng được tiến hành tại Quảng Trị, nơi có lượng mưa trung bình
bảng và tổng hợp lại thì loài keo này cũng xếp ở vị trí cao nhất về đường
kính (bình quân 2.38 cm/năm). Khảo nghiệm 52 tháng tuổi tại Đông Hà –
Quảng Trị và 16 tháng tuổi tại La Ngà – Đồng Nai (cùng bộ xuất xứ với Đá
Chông) cũng cho thấy Keo lưỡi liềm xếp thứ nhất về chiều cao và thứ hai về
đường kính. Với sức sinh trưởng mạnh mẽ, Keo lưỡi liềm được coi là loài có
triển vọng gây trồng trên các loại đất feralit vùng đồi, chua và nghèo dinh
dưỡng. Khảo nghiệm các lô hạt giống của 9 xuất xứ Keo tai trượng, 1 xuất
xứ Keo lá tràm, 1 xuất xứ Keo lưỡi liềm, 1 xuất xứ Keo đa thân tại Đại Lải
1988, thứ tự đầu bảng của Keo lưỡi liềm đã chứng tỏ khả năng chịu đựng
điều kiện lập địa khô cằn, nghèo kiệt của loài keo này.
Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis,Eucaluytus pellita và các loài keo: Acacia
crassicarpa, Acacia aulacocarpa trồng thử nghiệm 3 năm tại trạm thực
13
nghiệm Mang Yang tỉnh Gia Lai do Nguyễn Danh của sở Tài nguyên và
môi trường tỉnh gia lai thực hiện. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy
loài cây bạch đàn Eucalyptus camaldulensis và keo Acacia crassicarpa
sinh trưởng rất tốt trên điều kiện tự nhiên tỉnh Gia Lai.
Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng vùng cát ven biển Miền trung của
PGS.TS Đặng Thái Dương trường Đại học nông lâm Huế năm 2011.
Nghiên cứu đã đánh giá tình hình chung của điều kiện tự nhiên và sinh
thái toàn bộ các tỉnh ở miền trung, đưa ra một số mô hình trồng nông
lâm kết hợp trên vùng đất cát trong đó có các loài keo. Đề tài này đã
cung cấp đặc điểm thích nghi của một số loài cây và trình bày kỹ thuật
trồng cây trên đất cát rất bổ ích.
14
PHẦN 3: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.3.1. Mục tiêu chung
diện cho lâm phần nghiên cứu về điều kiện sinh thái và tình hình sinh
trưởng. Mật độ cây trên diện tích ô phải đảm bảo, diện tích ô tiêu chuẩn
được chọn với diện tích là 1000m
2
, dạng hình chữ nhật có chiều dài 50m và
chiều rộng 20m. Tiến hành điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng, kết quả đo đạt,
tính toán được ghi chép đầy đủ vào biểu mẫu sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA CÂY ĐỨNG RỪNG TRỒNG
Ô tiêu chuẩn: Địa điểm:
Loài cây: Tuổi cây:
Ngày điều tra:
Stt
(cây)
C
13
(cm)
D
13
(cm)
H
VN
(m)
D
t
(m)
ĐT NB BQ
1 2 3 4 5 6 7
1
2
3
C.
+ Mẫu khi sấy cứ 2 giờ thì được kiểm tra 1 lần, nếu sau 3 lần kiểm tra
liên tiếp thấy trọng lượng trong mỗi hộp nhôm không đổi thì đó chính là
trọng lượng khô kiệt của mẫu.
3.3.1.2. Phương pháp xử lý số liệu
Dựa vào phương pháp chỉnh lý tài liệu thực nghiệm của Brooks và
Carruther cho từng dấu hiệu quan sát như sau:
*Số bình quân cộng:
17
*Phương sai và sai tiêu chuẩn:
*Hệ số biến động:
*Hệ số chính xác:
*Phạm vi biến động
R = X
max
- X
min
Trong đó: Dung lượng mẫu (cây): n
Giá trị lớn nhất: X
max
;
Giá trị nhỏ nhất: X
min
*Biến động chung
V
T
=
*Biến động ngẫu nhiên
V
N
19
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Phong Hòa
4.1.1. Điều kiện tự nhiên:
4.1.1.1. Vị trí địa lý:
Xã Phong Hòa là một xã đồng bằng thấp trũng nằm về phía Đông bắc
huyện Phong Điền, cách trung tâm huyện lỵ 15 km, trải dài theo Quốc lộ
49B và dọc bờ sông Ô lâu. Toàn xã có 13 thôn, trong đó có 11 thôn ở tập
trung khu trung tâm xã và 2 thôn ở cách khu trung tâm xã là thôn Đức Phú
và thôn Mè, vị trí địa lý được giới hạn như sau:
+ Phía Bắc giáp với huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
+ Phía Nam giáp với xã Phong Hiền huyện Phong Điền.
+ Phía Đông giáp với xã Phong Bình, Phong Chương, huyện Phong
Điền.
+ Phía Tây giáp với xã Phong Thu, Thị trấn Phong Điền, huyện Phong
Điền.
4.1.1.2. Diện tích tự nhiên và địa hình:
Là một xã thuộc vùng đồng bằng, với diện tích tự nhiên: 3489,24 ha,
dân số 9.699 người, có đường Quốc lộ 49B và đường Tỉnh lộ 6 đi qua, có
chợ Ưu Điềm giao lưu mua bán hàng hóa của huyện Hải Lăng, Quảng Trị và
các xã ngủ điền. Nhìn chung địa hình địa mạo cũng khá thuận lợi cho việc
phát triển hạ tầng, đầu tư các dịch vụ, phát triển khu dân cư cũng như sản
xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
4.1.1.3. Về khí hậu:
Xã Phong Hoà nằm trong vùng duyên hải miền Trung nên chịu ảnh
hưởng sâu sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do chịu sự tác động của khí
hậu chuyển tiếp bắc nam nên khí hậu nơi đây tương đối khắc nghiệt. Khí hậu
trong năm phân thành 2 mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8,
mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau.
bố dọc sông Ô Lâu và đất cát nội đồng phân bố ở phía đông nam của xã.
a) Đất đai được phân bố như sau:
- Diện tích trồng lúa 596 ha
- Diện tích trồng lạc 50 ha
- Diện tích trồng sắn km 94 hàng năm từ 105-110 ha
- Diện tích trồng khoai lang và rau màu các loại 150 ha
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 7,9 ha
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng các loại đất chính năm 2012 của xã
Phong Hòa
Loại đất Diện tích (ha)
Tổng diện tích tự nhiên 3489,24
Nhóm đất nông nghiệp 2291,42
Đất trồng cây hàng năm 508,92
Đất trồng lúa 349,27
Đất trồng cây lâu năm 12,07
Đất lâm nghiệp 1624,25
Đất nuôi trồng thủy sản 1,88
Nhóm đất phi nông nghiệp 1095,11
Đất ở nông thôn 245,10
Đất chuyên dùng 222,21
Đất tôn giáo tín ngưỡng 15,65
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 206,29
Đất sông suối và mặt nước 405,86
Nhóm đất chưa sử dụng 102,71
22
b) Rừng: Có 1.102,10 ha; trong đó:
- Rừng sản xuất 178,2 ha
- Rừng phòng hộ và rừng kinh tế 853,9 ha được chăm sóc và bảo vệ.
c) Nguồn nước:
Tài nguyên nước của xã Phong Hoà khá phong phú và đa dạng, được
không. Bê tông mặt đường 2- 2,5m: 5.221m. Đương đất chưa bê tông:
26.659m
* Giao thông nội đồng:
Đường giao thông gồm: 18.850m, 52 tuyến. Đa số các tuyến đường
đều bằng đất, nền đường rộng từ 2,5-3,m.
- Cống nước: Số cống hiện có trên địa bàn xã là: 17, trong đó có 5
cống đáp ứng yêu cầu, số cống cần nâng cấp 12, xây dựng mới 3.
4.1.2.3. Thủy lợi.
Diện tích được tưới, tiêu nước bằng công trình thủy lợi 302 ha lúa
nước. Số hồ, đập có khả năng cấp nước là: 6 đập ( Đập Mỹ Xuyên, đập
Niêm, đập Thiềm, đập Ông Môi, đập Hào, đập Bọng Mè) .Số trạm bơm: 04.
Hệ thống kênh mương của xã với tổng chiều dài 67.000m, Trong đó:
Đã bê tông hóa cấp I: 13.850m.
Đã bê tông hóa cấp II: 21.264m.
Đã bê tông hóa cấp III:
Tổng số kênh mương đã bê tông hóa: 35.119m. Số kênh
mương bê tông hóa bị hỏng: 5.000m. Số kênh mương bằng đất: 31.881m.
4.1.2.4. Điện.
Hệ thống điện của xã hiện nay do 01 Hợp tác xã Điện quản lý, với
hiện trạng như sau: Số trạm biến áp: 12 trạm với tổng dung lượng 1.660
KVA, có 12 trạm đạt yêu cầu. Số mét đường dây hạ thế loại 0,4: 19.500m,
trong đó có 16.000m đạt yêu cầu. Số mét đường dây hạ thế loại 0,2 (rẻ
nhánh): 28.750m, trong đó có 17.250m đạt yêu cầu. Tỷ lệ hộ dùng điện
thường xuyên, an toàn: 100%. Mức độ đáp ứng yêu cầu điện cho sản xuất,
sinh hoạt: đạt 80% so với hiện trạng.
24
4.1.2.5. Trường học.
a) Trường Mầm non.
Gồm 01 cơ sở chính, trong đó 03 cơ sở bán trú tập trung, 01 cơ
sở lẻ, được bố trí tại trung tâm khu dân cư, thuận lợi cho trẻ đến trường và