“Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LHQ Liên hợp quốc
MT Môi trường
ATSC Trung tâm giống cây Lâm nghiệp Úc
COGREDA Nghiên cứu và phát triển Keo ở khu vực Đông Nam Á
AusAID Tổ chức Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc
ACIAR Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc
GS.TS Giáo sư tiến sĩ
PGS.TS Phó giáo sư tiến sĩ
TS Tiến sĩ
Th.S Thạc sĩ
CN Công nguyên
KH&CN Khoa học và Công nghệ
CIFOR Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
TR Trong rừng
ĐT Ngoài rừng
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới
Bảng 1.2: Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam
Bảng 4.1. Bảng số liệu diện tích Keo lưỡi liềm của xã
Bảng 4.2: Tình hình sinh trưởng của rừng Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên cứu
Bảng 4.3. Lượng vật rơi rụng ở khu vực rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống
Bảng 4.4: Phẫu diện đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống
Bảng 4.5. Độ ẩm tuyệt đối khu vực trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài đất trống
Bảng 4.6: Bảng nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài rừng
Bảng 4.7. Kết quả phân tích độ pH của đất trong rừng và ngoài đất trống
Bảng 4.8. Kết quả phân tích mùn của mẫu đất trong rừng Keo lưỡi liềm và ngoài
đất trống
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ biến động diện tích trồng Keo lưỡi liềm

4.1.5. Đặc điểm dân cư và nguồn lao động 33
4.1.6. Đánh giá về lợi thế và hạn chế của khu vực 34
4.2. Khái quát tình hình sinh trưởng của rừng Keo lưỡi liềm tại khu vực nghiên
cứu 35
4.3. Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm 36
4.3.1. Đánh giá lượng vật rơi rụng tại khu vực nghiên cứu 36
4.3.2. Đánh giá ảnh hưởng của rừng Keo lưỡi liềm đến tính chất vật lý của đất
tại khu vực xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 39
4.3.3. Ảnh hưởng của rừng Keo lưỡi liềm đến tính chất hóa học của đất cát ven
biển 44
4.4. Giải pháp nâng cao khả năng cải tạo đất cát ven biển 48
4.4.1. Giải pháp về kinh tế - xã hội 48
4.4.2. Giải pháp về tài chính 48
4.4.3. Giải pháp về kỹ thuật 48
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1. Kết luận 50
5.2. Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, việc khai thác và sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên đất là vô cùng quan trọng bởi nó không chỉ quyết định
đến năng suất mà còn quyết định cơ cấu cây trồng và mùa vụ sản xuất nông lâm
nghiệp. Tài nguyên đất đai được con người khai thác và sử dụng từ rất sớm gắn
liền với nền sản xuất nông, lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Mỗi loại
đất khác nhau sẽ có các kiểu sử dụng khác nhau nhằm đạt được những hiệu quả
cao nhất trong quá trình khai thác và sử dụng đất.
Theo NIAPP (2003) nhóm đất cát biển nước ta có tổng diện tích hơn
442.570 ha, có mặt trên 120 huyện, 28 tỉnh, chiếm khoảng 1,61% diện tích tự
nhiên của cả nước. Ðất cát biển phân bố chủ yếu ở ven biển các tỉnh Nghệ An,

Xuất phát từ những vấn đề đó mà tôi tiến hành lựa chọn đề tài: “Nghiên
cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở vùng
đất cát ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Nhằm phân tích những thay đổi về lý tính và hoá tính của đất cát ven biển khu
vực này từ khi có Keo lưỡi liềm.
7
PHẦN II
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
Trong lịch sử hình thành, quá trình tiến hoá và phát triển của con người đã
nhận thấy được mối quan hệ khăng khít giữa thực vật đối với đất. Từ đó con
người đã biết quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao giá trị sử dụng của đất, một
trong những tài nguyên vô giá của nhân loại. Đặc biệt mối quan hệ đó được các
nhà lâm học nghiên cứu, họ đã cho thấy được ý nghĩa lớn lao trong các vấn đề:
nuôi dưỡng, cải thiện rừng, nâng cao sản lượng rừng… Mối quan hệ giữa thực
vật và đất càng được con người chú trọng khi họ biết phân biệt đất nào thích hợp
với cây trồng nào. Như vậy thì thực vật có vai trò rất to lớn đối với cuộc sống
của chúng ta, trong đó hệ sinh thái rừng có vai trò lớn nhất.
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần
nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động
vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất). Nội dung
nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh
thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với
các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những
sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (E.P. Odum 1986,
G. Stephan 1980).
Khái niệm về hệ sinh thái rừng cho ta thấy rừng là một hợp phần quan
trọng nhất cấu thành nên sinh quyển. Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật,
rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên; nó có vai trò
cực kỳ quan trọng tạo cảnh quan và có tác dụng mạnh mẽ đến các yếu tố khí

nước trong đất, ngăn cản dòng chảy chống xói mòn, điều hòa nhiệt độ đất rừng.
Thảm mục được tích luỹ dần dần cùng với quá trình hình thành rừng và tăng
thêm của lớp thảm khô, nhưng đồng thời song song với quá trình tích lũy còn có
quá trình phân giải của vi sinh vật đất. Quá trình phân giải kị khí thảm khô và
thảm mục dẫn đến sự phân hủy của xenlulozơ và linhin. Kết quả của quá trình
phân giải và mùn hóa là hình thành nên lớp đất bề mặt gọi là mùn, đồng thời nó
cũng ảnh hưởng đến các phản ứng hóa sinh của các vi sinh vật từ đó thay đổi
nhiều tính chất của đất như: tỷ lệ axit humic và axit fulvic…
Đất là một hệ thống động trong đó dung dịch đất là môi trường của các quá
trình vật lý, hoá học và sinh học trong đất. Dung dịch đất tồn tại ở trạng thái cân
bằng động với các chất vô cơ, chất hữu cơ, vi sinh vật và không khí đất. Vì thế
nó đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá và vận chuyển các phân tử và
các ion cần thiết cũng như các phân tử và ion có hại trong một hệ sinh thái. Còn
hoá học đất bao gồm các phản ứng và quá trình hoá học của đất gắn liền với sinh
trưởng của thực vật, động vật và môi trường phát triển của con người. Các quá
9
trình hoá học đất là nền tảng cho sự tiến hoá của địa quyển, sinh quyển và môi
trường sống của con người. Vì vậy hoá học đất đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và sự bền vững của hệ
sinh thái. Việc nắm vững bản chất của các phản ứng và các quá trình hoá học đất
ở mức độ nguyên tử, phân tử và vi mô là rất cần thiết nhằm khai thác và quản lý
có hiệu quả đất cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và điều chỉnh
các hoạt động của hệ sinh thái trên mặt đất trong phạm vi vùng và toàn cầu.
Đất được phân chia thành nhiều loại khác nhau, trong đó có đất lâm nghiệp,
nó được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc là đất trống, đồi núi
trọc được quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp. Đất ở các khu
vực khác nhau sẽ khác nhau về thành phần và tính chất của đất. Theo Cục Kiểm
lâm, tổng diện tích đất có rừng ở Việt Nam hiện nay là hơn 13,5 triệu ha, chiếm
40,8% tổng diện tích đất của cả nước. Chúng ta biết rằng đất rừng khác với đất
nông nghiệp và các loại đất khác ở điểm nó có khả năng tích lũy chất hữu cơ từ

năng suất tùy thuộc vào lượng nước mưa và lượng nước tưới hàng năm. Theo
kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học, sự hình thành đất cát biển Việt
Nam liên quan mật thiết đến các hoạt động địa chất trong khu vực. Phan Liêu
(1978) cho rằng đất cát biển rất trẻ (từ kỷ đệ tứ đến hiện đại). Ðất cát biển được
hình thành từ hai quá trình chính đó là quá trình hoạt động địa chất của biển, vận
động nâng lên của thềm biển cũ (bằng chứng là các bãi vỏ sò, ốc ở Diễn Châu,
Nghệ An) và quá trình bồi tụ tạo lập đồng bằng của hệ thống các con sông ngắn
ở miền Trung. Do hệ thống sông miền Trung thường ngắn do phần lớn được bắt
nguồn từ phía Ðông của dãy Trường Sơn chảy thẳng ra biển nên có độ dốc lớn,
dòng chảy ở các con sông này rất mạnh do đó các sản phẩm lắng đọng lại
thường là những hạt vật liệu thô chủ yếu là các hạt cát có kích thước khác nhau.
Ngoài ra, về cấu tạo địa chất ở khu vực đầu nguồn phần lớn có cấu tạo đá mẹ
khó phong hóa như các loại đá granit, riolit, cát kết nên chất liệu của các sản
phẩm phong hóa cũng thường rất thô. Từ đó việc sử dụng cũng như biện pháp
cải tạo chúng được áp dụng khác nhau cho phù hợp và hiệu quả. Ðất cát là loại
đất trong đó tỷ lệ cấp hạt cát lớn, có thể đạt tới 100 %. Ðất cát có những ưu
nhược điểm sau:
+ Do các hạt có kích thước lớn nên tổng thể tích khe hở lớn, lớn nhất là khe
hở phi mao quản, từ đó nước dễ thấm xuống sâu và đồng thời cũng dễ bốc hơi
nên dẫn tới đất dễ bị khô hạn.
+ Trong đất cát điều kiện ôxy hoá tốt nên chất hữu cơ bị khoáng hoá mạnh
dẫn đến đất nghèo mùn.
+ Ðất cát dễ bị đốt nóng vào mùa hè và cũng dễ mất nhiệt trở nên nguội
lạnh vào mùa đông, bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật phát triển.
+ Ðất cát rời rạc, dễ cày bừa giảm công làm đất, nhưng nếu mưa to hay tưới
ngập, đất thường bị lắng rẽ, bí chặt.
11
+ Ðất cát chứa ít Keo nên khả năng hấp phụ thấp, khả năng giữ nước giữ
phân (chất dinh dưỡng) kém. Vì vậy nếu bón nhiều phân tập trung vào một lúc
cây sẽ không sử dụng hết, một phần lớn bị rửa trôi do đó gây lãng phí. Trên đất

lớn, dễ tính, có bộ rễ khoẻ để phá vỡ đất rắn và khai thác dinh dưỡng từ sâu
trong lòng đất, đồng thời phải dễ kiểm soát.
12
Hiện nay diện tích đất cát nói chung và đất cát ven biển ở trên trái đất
chiếm diện tích tương đối lớn. Nhưng phần lớn chúng chưa được sử dụng hoặc
sử dụng chưa hiệu quả, do đây là loại đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng, cùng
với điều kiện khí hậu và môi trường ở các khu vực đó rất khắc nghiệt. Công tác
cải thiện môi trường ở những khu vực đang trở nên rất cấp bách, trong đó cần
chú trọng việc trồng rừng phòng hộ ven biển với mục đích chống gió hạn, chặn
cát bay, ngăn sự xâm nhập của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các
công trình ven biển. Ngoài ra các loài cây sử dụng để trồng rừng phòng hộ ven
biển còn phải có khả năng cải tạo đất. Như vậy với những nghiên cứu về những
tính chất của đất, thành phần và số lượng vật rơi rụng ở hai khu vực trong rừng
Keo lưỡi liềm và ngoài đất cát trống, cũng như việc nghiên cứu về những đặc
điểm đặc trưng của cây Keo lưỡi liềm trong đề tài sẽ là những thông tin quan
trọng và có giá trị. Tôi hi vọng sẽ làm được những điều đó, qua đó góp phần
đánh giá được khả năng cải tạo đất và tính thích hợp của loài Keo lưỡi liềm ở
vùng đất cát ven biển của khu vực nghiên cứu và có thể áp dụng sang các khu
vực khác.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người
có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con
người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người Tại Hội nghị LHQ
về môi trường con người họp năm 1972 tại Stockholm- Thụy Điển, các nhà khoa
học đã đi đến kết luận rằng, nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng về MT
không phải là do phát triển mà chính là hậu quả của sự kém phát triển. Tư tưởng
đó đã được thể hiện trong chiến lược phát triển 10 năm lần thứ nhất của LHQ.
Chiến lược đã đề cập tới mối quan hệ giữa phát triển với môi trường, dân số, tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ đất, bảo vệ rừng…

đất và các chất cấu thành của nó thuộc thế kỷ 18. Nhiều nghiên cứu cuối thể kỷ
18 - đầu thế kỷ 19 có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình phát triển sau này của
khoa học. Cơ bản là việc nghiên cứu ba vấn đề quan trọng nhất: mùn đất, khả
năng hấp thụ của đất và lý thuyết về dinh dưỡng khoáng của thực vật. Trong các
vấn đề quan trọng này phải kể đến công trình của F. Ahard (1786) là người đã
nhận được dung dịch màu nâu thẫm khi tác động dung dịch kiềm vào trong đất
và than bùn. Thêm axit sunfuric vào dịch chiết kiềm gây ra sự kết tủa màu đen.
Sau này ta gọi chất màu đen đó là axit humic, còn phương pháp chiết rút nó do
Ahard sử dụng với một vài cải tiến vẫn còn được giữ đến ngày nay. [4]
Việc tiến hành các thử nghiệm tách và phân tích các hợp chất hữu cơ có
màu nâu thẫm đặc trưng từ đất ở một mức độ nhất định gắn liền với học thuyết
mùn dinh dưỡng của thực vật do nhà bác học Thuỷ Điển Y. Vallerius đưa ra
trong cuốn sách “Các cơ sở của hoá học nông nghiệp”. Ông cho rằng mùn là hợp
chất dinh dưỡng chính đối với thực vật, còn các phần cấu thành khác của đất chỉ
14
tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự hấp thụ mùn của thực vật. Giáo sư của đại
học tổng hợp Beclin A. Teier cũng đi theo học thuyết này nhưng sau các nghiên
cứu của Z. B. Bussengo ở pháp và Iu. Libikh ở Đức các nhà nông hoá học không
còn công nhận thực vật có khả năng đồng hoá trực tiếp các hợp chất hữu cơ
phức tạp của đất, mặc dù sau đó vấn đề này vẫn gây ra nhiều tranh cãi. Các
nghiên cứu của những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, với việc sử dụng các hợp chất
mùn được đánh dấu C
14
đã khẳng định khả năng thực vật hấp thụ các axit mùn
có khối lượng phân tử cao qua hệ thống rễ. Cần nhấn mạnh rằng ở các thế kỷ 18
và thế kỷ 19 các vấn đề hoá học nông nghiệp và hoá học đất nói riêng là trung
tâm chú ý của nhiều nhà hoá học vĩ đại. Trong số đó có I. A. Bertselius, người
đã nghiên cứu chi tiết các đặc tính của axit mùn. Trong “Sách giáo khoa hoá
học” (1839) Bertselius đã dành hẳn một chương lớn cho hoá học hợp chất mùn.
Ông nghiên cứu các quá trình biến đổi tàn dư thực vật thành mùn, mô tả đặc tính

các muối nhôm. Các nhà bác học V. A. Xokolov, H. Kapen, K. Marshall… đã
phát triển giả thuyết nhôm trao đổi. Nghiên cứu về vấn đề này đã được nhà bác
học Liên Xô V. A. Trernov hoàn thành cuốn sách “Về bản chất độ chua đất”
(1947) của ông đã quyết định hướng nghiên cứu tiếp theo được thực hiện trong
những năm sau bởi các nhà khoa học nổi tiếng của nhiều nước. Sự phát triển tiếp
theo các vấn đề độ chua gắn liền với các vấn đề cấp bách hiện nay là độc đối với
thực vật và vấn đề sinh thái được trình bày trong chuyên khảo của các nhà khoa
học người Bungari T. Palaveev và T. Totev “Độ chua của đất và cách khắc
phục” (1983). [4]
Sự phát triển tiếp theo của các nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu Keo
đất và khả năng hấp thụ của đất gắn liền chặt chẽ với tên tuổi của viện sĩ K. K.
Gedroits (1872 – 1932), ông là nhà bác học, nhà nông hoá học, nhà lý hoá học,
nhà thổ nhưỡng học xô viết nổi tiếng đã tạo ra cơ sở hoá học và phân tích hoá
học đất. Các nghiên cứu của ông đều hướng tới nắm vững đất để điều khiển các
đặc tính của nó, nâng cao độ phì nhiêu đất và năng suất cây trồng. Ông có rất
nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực này, năm 1922 xuất bản cuốn sách “Học
thuyết về khả năng hấp thụ của đất”, năm 1923 ông cho xuất bản cuốn sách
“Phân tích hoá học đất”, năm 1925 ông đưa ra nguyên tắc phân loại đất trên cơ
sở thành phần cation hấp thụ, đã soạn thảo giả thuyết lý hoá học phát sinh của
đất solonet. Trong nhưng năm đầu tiên của thế kỷ 20 nhà bác học Thuỵ Sĩ G.
Vigner (1833 – 1935) và nhà bác học Thuỵ Điển S. E. Mattson (1886 – 1945) đã
đóng góp rất nhiều cho lý thuyết hoá Keo đất và sự trao đổi ion. Trong những
năm 30 - 40 của thế kỉ 20, các nhà khoa học tăng cường nghiên cứu khả năng
của hấp thụ của đất gắn liền với việc mở rộng sử dụng các loại phân khoáng, sử
dụng và cải tạo các đất solonet và đất bị mặn hoá, tìm tòi các phương trình mô tả
quy luật trao đổi cation trong đất. [4]
Nghiên cứu về mùn diễn ra rất mạnh trong những năm 1940 - 1950 đến nay
dưới ảnh hưởng viện sĩ I. V. Tiurin và các học trò của ông. Ivan Vladimirovitr
Tiurin (1892 – 1962) là nhà thổ nhưỡng, nhà di truyền học và nhà thổ nhưỡng –
hoá học Xô Viết vĩ đại. Ông đã đưa ra hệ thống hoàn chỉnh các quan điểm về

tuy cách xa về mặt địa lý nhưng đều được xếp vào cùng một dạng hệ sinh thái
đặc thù do có chung một số đặc điểm như: kết cấu rời rạc, độ phì thấp, khả năng
trữ nước và chất dinh dưỡng kém, thảm thực vật chủ yếu là các loại cây bụi có
khả năng chống chọi lại các điều kiện khắc nghiệt (Moreno - Casasola, 1982).
Trước thực trạng biến đổi khí hậu, sự mất đi của rất nhiều diện tích rừng trên
thế giới đã làm cho nguồn không khí bị ô nhiễm không khí, thảm họa thiên tai
diễn ra hết sức nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng sa mạc hóa, cạn kiệt nguồn
17
nước ngọt, sự xâm thực của cát vào đất liền và nước biển dâng cao đang đặt ra rất
nhiều thách thức cho các nhà khoa học ở tất cả các quốc gia.
Nhiều loài cây trồng đã được đưa vào khảo nghiệm nhằm mục đích cải tạo
đất, ngăn chặn hiện tượng sa mạc hóa ở các vùng cát khô hạn, trong đó các loài
Keo (Acacia) rất được quan tâm chú ý và được đưa vào trồng rừng ở nhiều quốc
gia trên thế giới vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất,
chống xói mòn và cho năng suất cao.
Một trong những loài Keo có nguồn gốc mọc tự nhiên ở Úc đang rất được
nhiều nước ở khu vực châu Á nghiên cứu và đưa vào trồng trên vùng đất cát ven
biển là loài Keo lá liềm (A. crassicarpa). Theo những nghiên cứu chính thức của
Trung tâm giống cây Lâm nghiệp Úc (ATSC) từ năm 1980 đến năm 1993, loài
A. crassicarpa đã chứng minh sự tồn tại và sức mạnh tuyệt vời trong một loạt
các thử nghiệm trong vùng nhiệt đới ẩm, và đã được nhóm các nhà tư vấn, tài
trợ Nghiên cứu và phát triển Keo (COGREDA) ở khu vực Đông Nam Á ghi
nhận là loài có khả năng phát triển hiệu quả.
Trong thời gian 15 năm trở lại đây, Keo lá liềm đã được nghiên cứu đưa
vào trồng ở một số nước Đông Nam Á và châu Phi, và nó đã chứng tỏ là một
trong những loài cây trồng lâm nghiệp mới có nhiều hứa hẹn cho các vùng đất
cát ven biển, các vùng đất bị suy thoái.
- Tại Queensland, Australia và Papua New Guinea:
Ban đầu, Keo lá liềm được trồng và phát triển mạnh mẽ trên đất bị suy
thoái sau khi trồng và đốt slash ở Papua New Guinea, chính những khả năng đặc

2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề môi trường rừng đã được khởi động từ khá lâu. Tuy
nhiên do nhiều lý do. Các nghiên cứu về môi trường rừng chưa được chú ý xứng
đáng với vị trí của nó. Những năm gần đây, vấn đề môi trường rừng mới được
xem xét nghiêm túc trở lại. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế của nước ta cũng như
khó khăn chung của toàn xã hội. Vấn đề nghiên cứu môi trường nói chung và
môi trường rừng nói riêng vẫn còn rất nhiều bất cập và cần thiết phải có nhiều
công trình nghiên cứu.
Theo PGS.TS Lê Văn Thăng trong Giáo trình Khoa học môi trường đại
cương, thì môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động
sống như: nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, Mỗi ngày mỗi người
cần trung bình 4 m
3
không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống, một lượng
lương thực, thực phẩm tương ứng 2000 - 2500 calo. Tuy nhiên, hiện nay không
gian này ngày càng bị thu hẹp (xem bảng 1.1)
19

Bảng 1.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới
Năm -10
5
10
4
0
165
0
1840 1930 1994 2010
Dân số (triệu người) 1,0 5,0
20

vai trò không thể thay thế được các biện pháp sinh học trong việc ngăn chặn và
phục hồi sự thoái hóa của đất dốc.
Như chúng ta đã biết, hầu hết các loại đất bị suy thoái đều có đặc điểm đặc
trưng là nghèo kiệt chất hữu cơ trong đất, dẫn đến đất xuất hiện nhiều tính chất
lý hóa và sinh học xấu của đất như mất kết cấu, khả năng giữ ẩm kém, khả năng
hấp phụ thấp, hàm lượng dinh dưỡng đất (độ phì nhiêu đất) thấp. Nguyên nhân
chính của nhiều loại đất bị suy thoái như ngày nay là do bị khai phá mất lớp
thảm thực vật ban đầu (khai hoang phá rừng làm nương rẫy), sử dụng triệt để
các nguồn và các sản phẩm hữu cơ của đất trong sản xuất mà không trả lại cho
đất lượng hữu cơ nào, không bón hoặc bón rất ít phân hữu cơ cho cây trồng,
20
không đủ lượng hữu cơ đã lấy đi của đất. Vì vậy, một trong những biện pháp
quan trọng nhất và được chú ý nhất nhằm phục hồi đất bị suy thoái là biện pháp
sinh học/hữu cơ. Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tiễn trong việc phục hồi đất
đã bị suy thoái bằng biện pháp này đã chứng minh rằng sau một thời gian ngắn,
đất được phục hồi độ phì và khả năng sản xuất rõ rệt. Hơn nữa, với điều kiện khí
hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, các loại cây trồng và thực vật sinh trưởng
phát triển mạnh, đã tạo sinh khối lớn, trả lại chất hữu cơ cho đất, đó là:
- Tàn tích hữu cơ: rễ cây, thân lá rụng, rơi vào đất, được để lại đất sau thu
hoạch.
- Các hệ thống trồng trọt luân canh, xen canh, trồng theo băng giữa cây
trồng chính và cây cải tạo đất là cây phân xanh, cây họ đậu.
- Các hệ thống nông lâm kết hợp giữa cây dài ngày và cây ngắn ngày bổ
sung chất hữu cơ cho nhau và cho đất.
- Các phương thức bổ sung chất hữu cơ cho dất như bón phân hữu cơ, phủ
vật liệu hữu cơ cho cây trồng chính, trồng cây phủ đất đa tác dụng cho cây trồng
chính.
Trong những năm gần đây, trên thế giới và ở nước ta, các công trình nghiên
cứu khoa học và ứng dụng các biện pháp cải tạo, phục hồi và bảo vệ đất nông
nghiệp bằng hữu cơ/sinh học đã và đang phát triển và được gọi là nông nghiệp

phân xanh phủ đất (cốt khí, đậu mèo, đậu công); cây ăn quả (cây vải); cây đậu
đỗ lấy hạt (lạc, đậu đen). Đất đồi trồng bạch đàn chu kỳ II bị thoái hóa nghiêm
trọng, đã bị kết đá ong hóa đến 20-30%, đất khô kiệt chai cứng, mất khả năng
thấm nước và giữ nước, hàm lượng dinh dưỡng của đất nghèo kiệt từ trên đỉnh
đồi xuống chân đồi. Sau 3 năm thí nghiệm kết quả cho thấy: các loại cây lâm
nghiệp sang năm thứ 3 đã sinh trưởng phát triển tốt, góp phần ngăn xói mòn rửa
trôi đất và giữ ẩm đất. Lá cây góp lượng hữu cơ vào đất. Các loại cây phân xanh
phủ đất và cây lấy hạt họ đậu từ năm thứ hai đã trả lại cho đất một lượng chất
xanh giàu dinh dưỡng đáng kể: cốt khí là từ 10 đến 20 tấn/ha/năm, 20 đến 25
tấn/ha/năm đối với đậu mèo, 12 đến 15 tấn/ha/năm đối với cây lạc. Những tính
chất lý hóa học của đất đồi cũng được cải thiện, đáng kể là độ ẩm đất, hàm
lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng NPK, dung tích hấp thu, độ xốp đất…
Tại viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến
hành đề tài “Nghiên cứu, đánh giá khả năng che phủ, bảo vệ, cải tạo đất và xây
dựng quy trình trồng cây lạc dại - LD99 (Arachis pintoi) ở Vùng miền núi phía
Bắc”, đề tài sẽ góp phần nghiên cứu và phát triển một cây trồng có nhiều tiềm
năng trong phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng đất dốc, đặc biệt là các tỉnh
miền núi.
22
Những nhận thức đúng đắn về sự suy giảm không gian sống và môi trường
sống bị suy thoái, đã giúp con người có chính sách và hoạt động tích cực hơn
trong vấn đề này. Trong đó có việc quản lý, sử dụng hợp lý và nâng cao giá trị
của đất cần được chú trọng. Bằng những nghiên cứu và áp dụng các mô hình
trồng cây ở các khu vực khác nhau để có hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời
phải có tác dụng phòng hộ cao.Trong công tác này thì chúng ta cũng đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn khi đã phân loại được các loại rừng phòng hộ khác nhau,
như ở Việt Nam rừng phòng hộ được chia thành 4 loại chính là:
- Rừng phòng hộ đầu nguồn;
- Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;

hộ điển hình cho các vùng phòng hộ, nhóm dạng lập địa. Rừng này bao gồm cả
cây cao ở trên, cây nhỡ ở giữa và cây bụi ở dưới để tạo đai rừng có kết cấu tán
từ dưới sát mặt đất cát lên phía trên. Hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường của
công trình đã rõ. Các vấn đề được phát hiện và kết quả nghiên cứu đã được trao
đổi, chuyển giao cho các cơ quan, cán bộ, người dân vùng cát ven biển - là
những nơi thực hiện nghiên cứu. Cụ thể, các đai rừng phi lao, Keo lá tràm trồng
trên các dạng lập địa bãi cát, trên líp trong khu vực canh tác nông nghiệp, có thể
chặt khai thác ở tuổi 7 - 10, mỗi ha thu được 9,7 - 10 triệu đồng. Khai thác xong
có kế hoạch trồng lại rừng mới. Đai rừng phi lao hay Keo Acacia difficilis,
Acacia torulosa 3 tuổi trồng trên đụn cát bay với mật độ 5.000 cây/ha, bề rộng
đai 100m có tác dụng làm giảm tốc độ gió ở sau đai rừng 10m tới 0,7 - 0,8 lần so
với tốc độ gió ở trước đai rừng 10m, giảm lượng cát bay 2,4 - 4,2 lần, tăng độ
ẩm không khí 2,1 - 3,7%, giảm nhiệt độ không khí 0,9 - 20, trả loại đất tới
240g/m2 lá rụng và cải thiện tính chất hóa học đất so với nơi trống. Với công
trình nghiên cứu này, không chỉ các nhà khoa học mà rồi đây, người dân vùng
biển sẽ biết rất rõ về giá trị to lớn của rừng phòng hộ ven biển. Nó ngăn chặn
tình trạng biển xâm thực, cát bay cát chảy vào khu dân cư, lại bảo vệ được môi
trường sinh thái ở những miền quê nắng nóng khốc liệt.
Còn với nghiên cứu khoa học “Phân vùng phòng hộ vùng cát ven biển bắc
trung bộ” của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã chỉ ra rằng: do địa hình
phức tạp, đất cát ven biển tồn tại ở dạng đụn cát, cồn cát và bãi cát với địa mạo
khác nhau; đất cát khô, rời rạc, dễ bị di động do gió thổi và nước chảy kéo cát
trôi. Vì vậy, vùng cát ven biển Bắc Trung bộ là vùng đất đã và đang bị sa mạc
hóa do nạn cát di động nhưng mỗi phân vùng lại có mức độ xung yếu khác nhau.
Bài viết này nhằm đưa ra những cơ sở phân chia và kết quả phân vùng phòng hộ
theo mức độ xung yếu cho vùng cát ven biển, giúp các địa phương xây dựng kế
hoạch, quy hoạch và có giải pháp phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong
vùng đạt hiệu quả cao.
24
Cùng với Nghiên cứu phát triển đai rừng phòng hộ, kết hợp sản xuất nông

tỉnh Gia Lai.
Nhà giáo ưu tú Đỗ Xuân Cẩm cũng có rất nhiều nghiên cứu đóng góp trong
lĩnh vực này như nghiên cứu về đa dạng sinh học và khả năng tận dụng các loài
25

Trích đoạn Tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của rừng Keo lưỡi liềm Giải pháp về kinh tế xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status