tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu tới hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân xã phú mỹ, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân
loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất,
đời sống, và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, nước biển
dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước… ảnh hưởng đến nông nghiệp,
gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế- xã hội trong tương
lai. Theo Nicolas Stern (2007): đến năm 2017 chi phí thiệt hại do biến đổi khí
hậu gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD, nếu không có giải
pháp để thích ứng thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP. Biến
đổi khí hậu có thể làm sản lượng nông sản phẩm tổn thất đến 50%. Nếu không
có hành động khẩn cấp, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương
thực, khiến số người bị thiếu đói và suy dinh dưỡng tăng vọt [23]. Ngay ở
thời điểm năm 2008, trên thế giới, khoảng 1 tỷ 100 triệu người bị đói tăng
hơn 100 triệu so năm 2007, cơ quan lương thực Liên hợp quốc (FAO) cho
rằng con số này lớn đến mức kỷ lục. Tỷ lệ người đói trên thế giới chiếm
khoảng 1/6 dân số toàn cầu đang là mối đe dọa nguy hiểm cho an ninh lương
thực và hòa bình trên thế giới [3].
Theo báo cáo đánh giá tác động của mực nước biển dâng đối với 84
nước đang phát triển được công bố tháng 3-2007 của Ngân Hàng Thế giới,
Việt Nam là một trong 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng bởi biến đổi khí hậu,
trong đó đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng bị ngập chìm
nặng nhất. Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10 % dân số bị ảnh
hưởng trực tiếp , tổn thất đối với GDP khoảng 10%. Nếu mực nước biển dâng
3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng và tổn thất đối với GDP là 25%
[18]. Hàng triệu hecta đất bị ngập, tình trạng đói nghèo có thể tăng 21,2% –
35,0%[12]. Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP,
nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2
0
C thì 45% diện tích đất nông nghiệp ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ ngập chìm

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Biến đổi khí hậu và biểu hiện của biến đổi khí hậu
2.1.1. Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1. Thời tiết
Thời tiết là trạng thái vật lý khí quyển được đặc trưng bởi tập hợp các
yếu tố khí tượng quan trắc được trong một thời điểm hoặc một khoảng thời
gian ngắn nhất định tại một địa phương nào đó. Về cơ bản, thời tiết là sự thể
hiện phối hợp các trị số nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, hướng, tốc độ gió,
mây, mưa và độ trong suốt của khí quyển. Thời tiết biến thiên liên tục theo
thời gian, nhiều khi rất đột ngột [1].
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác
định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa [20]
2.1.1.2. Khí hậu.
Khí hậu là điều kiện trung bình của thời tiết trong khoảng thời gian
nhất định (thường là 30 năm) [18].
2.1.1.3. Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Các hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm: lũ lụt, hạn hán, lũ ống, lũ
quét, nắng nóng, mưa đá, rét …
Lũ lụt là hiện tượng nước sông dâng lên cao trong khoảng thời gian
nhất định, sau đó giảm dần. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông, bờ đê, chảy
vào vùng thấp trũng và gây ngập trên diện rộng thì được gọi là lụt [15]
Bão và áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới phát triển mạnh
tạo nên một vùng gió lớn, xoáy mạnh và mưa to trải ra [22]
Mưa đá là hiện tượng hạt mưa đóng băng rơi xuống mặt đất, dưới dạng
những cục nước đá có hình dạng và kích thước khác nhau. Thông thường hạt
mưa đá có kích thước chừng 1cm và nặng vài gam [10].
Sương muối là những hạt băng nhỏ, nhẹ, xốp đọng trên cành cây, ngọn
cỏ, bề mặt đất hay các vật gần mặt đất, khi nhiệt độ hạ tới điểm 0
0
C [10].

mực nước biển dâng là do các hoạt động kinh tế- xã hội của con người gây
phát thải quá mức vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính.
4
2.1.2.1. Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung
bình toàn cầu tăng 0,74
0
C trong thời kỳ 1906-2005 và tốc độ tăng nhiệt độ của
50 năm trở lại đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Nhiệt độ ở lục địa cao
hơn so với nhiệt độ ở đại dương [2]. Trung bình, nhiệt độ trái đất đã được bổ
sung nhiều hơn hoặc ít hơn 0,074
0
C trong mỗi thập kỷ. Tuy nhiên, mức độ
tăng nhiệt độ phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau và ở các khu vực địa lý
khác nhau, trong đó nhiệt độ tại 2 cực tăng gấp 2 lần so với trung bình toàn
cầu. Gần đây xu hướng tăng lên của nhiệt độ trong 50 năm cao hơn gấp đôi tỷ
lệ trung bình của 100 năm là 0,13
0
C/ thập kỷ. Hai năm được ghi nhận là có
nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay là 1998 và 2005 [11, 3-
22]. Nhiệt độ trung bình ở Bắc Cực trung bình tăng 0,15
0
C/ 100 năm, gấp 2
lần so với tăng trung bình trên toàn cầu [11, 3-22]. Đến năm 2100, nhiệt độ
trung bình toàn cầu được dự đoán sẽ tăng thêm 1,4-5,8
0
C.
Khi nhiệt độ tăng lên, các dòng sông băng nằm chủ yếu ở Bắc Cực,
Nam Cực và Greenland đã tan chảy ngày càng tăng và tương ứng với mực
nước biển sẽ cao hơn từ 0,09- 0,88m [1].

quỹ đạo bất thường.
Có sự biến đổi trong chế độ hoàn lưu quy mô lớn trên cả lục địa và
đại dương, dẫn đến sự gia tăng về số lượng và cường độ hiện tượng El Nino.
Biến đổi khí hậu không chỉ liên quan với thay đổi của các yếu tố khí hậu
trung bình trong khoảng thời gian dài mà còn thay đổi trong sự hình thành các
hiện tượng khí hậu cực đoan: bão, giông, tố, lốc với cường độ và tần xuất
ngày càng cao hơn. Tần xuất của các trận mưa lớn đã tăng 2-4% ở vùng vĩ độ
trung bình đến vĩ độ cao của Bắc bán cầu [11, 3-22]. Tần xuất và cường độ
của bão, lũ lụt, hạn hán ngày càng tăng lên dưới sự tăng giảm của các điều
kiện khí hậu trung bình của nhiệt độ và lượng mưa [7]. Mưa lớn, lũ lụt thường
xảy ra ở khu vực xích đạo Đông Thái Bình Dương, miền tây Hoa Kỳ, Chi Lê,
Ác-hen-ti-na và châu Phi [1].
2.1.2.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Trong 50 năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam
tăng lên khoảng 0,5-0,7
0
C, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với nhiệt độ
mùa hè, nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn so với các vùng
phía Nam [2].
Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa, tăng lên
trong các tháng cuối mùa. Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam
giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ gần đây, từ 29 đợt mỗi năm trong các thập kỷ
6
1970, 1980 xuống còn 24 đợt mỗi năm trong thập kỷ 1990, đặc biệt trong các
năm 1994 và 2007, chỉ có 15 - 16 đợt mỗi năm [1].
Số cơn bão hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có
xu thế giảm trong 4 thập kỷ qua, từ 114 cơn trong thập kỷ 1961 - 1970 giảm
xuống còn 103 cơn trong thập kỷ 1991 – 2000. Ở Việt Nam, từ 74 cơn trong
thập kỷ 1960 xuống còn 68 cơn trong thập kỷ 1990, số cơn bão mạnh có chiều
hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn hơn, quỹ đạo bão có vẻ dị thường hơn

2.1.2.3. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Thừa Thiên Huế
Theo kết quả công bố của Nguyên Đạt- Lê Văn Đĩnh, 2009 đã đưa ra
những nhận định về biến đổi khí hậu:[11, 3-22]
Nhiệt độ không khí trung bình năm trong những thập kỷ qua không có
dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây thường xảy
ra nhiều đợt nắng nóng hoặc rét đậm.
Lượng mưa trên toàn lãnh thổ có những thay đổi, cường độ mưa sẽ
tăng khoảng 5-10%.
Ảnh hưởng của bão tăng ít, mùa bão có thể đến sớm và kết thúc muộn
hơn. Cường độ bão có thể mạnh hơn, thể hiện qua tốc độ gió mạnh và cường
độ mưa lớn. Từ năm 1952 đến 2008 đã có 36 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến
Thừa Thiên Huế. Diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu ở Thừa Thiên Huế
đã làm ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao thêm khoảng 30-90cm đến cuối
thế kỷ này so với hiện nay.
Trung bình hàng năm ở Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của 4-5 trận
lũ trên báo động II và 2-3 trận lũ trên báo động III. Những năm chịu ảnh
hưởng của La Nina số lượng lũ tăng lên và đỉnh lũ cao hơn rõ rệt vào những
năm 1975, 1995, 1998, 1999. Những năm chịu ảnh hưởng của El Nino ít lũ
hơn và đỉnh lũ thấp vào các năm 1982, 1987, 1991, 1994, 1997.
2.2. Tác động của biến đổi khí hậu
2.2.1. Phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
2.2.1.1. Đánh giá tác động dựa vào kịch bản của biến đổi khí hậu
Các nhà khoa học đánh giá tác động của biến đổi khí hậu từ quá khứ
đến hiện tại và tương lai chủ yếu dựa trên những kịch bản của biến đổi khí
hậu.
Mục tiêu của việc xây dựng kịch bản về biến đổi khí hậu (nhiệt độ,
lượng mưa, nước biển dâng ) là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế biến
8
đổi khí hậu trong tương lai trên cơ sở các kịch bản khác nhau về sự phát triển

trung hàng đầu trong tương lai cho việc đầu tư về biến đổi khí hậu là nâng cao
9
khả năng phục hồi của các hệ thống xã hội và sinh thái. Tuy nhiên, việc này
chỉ có thể thực hiện được thông qua sự tham gia tích cực của cộng đồng gắn
với những sinh kế của người dân, để có thể quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên
và cải thiện sự bền vững trong các hoạt động tạo sinh kế của chính họ.
Trong nghiên cứu này, sẽ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến
hoạt động sản xuất nông nghiệp dựa vào sự thay đổi cường độ, tần xuất và
tính hoạt động bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan.
2.2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp chịu tác động của hàng loạt các yếu tố bên ngoài và trong
đó biến đổi khí hậu là một trong những yếu tố mà phải đối mặt ở hiện tại và
cả tương lai. Nông nghiệp cũng là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì hoạt
động sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu. Biến đổi khí
hậu đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cây trồng và vật
nuôi, đầu vào trong sản xuất và các thành phần khác trong sản xuất nông
nghiệp ( Adams et al., 1998; Oyekale and Ibadan, 2009 [5].
2.2.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động trồng trọt
Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp lên đối tượng sản xuất. Đối tượng
sản xuất là hệ thống cây trồng nó bị ảnh hưởng của nhiều nhân tố về môi
trường như độ ẩm, nhiệt độ và những nhân tố này quyết định đến năng suất
cũng như phẩm chất cây trồng. Sự tác động của các yếu tố khí hậu lên cây
trồng là khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và điều kiện canh tác ở các vùng
địa lý khác nhau.
Đối với cây trồng, nhiệt độ là yêu cầu sinh thái cơ bản. Cây trồng
muốn phát triển thì phải có ngưỡng nhiệt độ thích hợp. Nhiệt độ tăng có thể
ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến năng suất cây trồng. Nhưng nhìn
chung nhiệt độ tăng làm giảm năng suất và chất lượng các loại cây trồng do
tăng quá trình phát triển sinh lý dẫn đến tăng quá trình chín, tập trung ở những
cây trồng quan trọng bao gồm ngũ cốc và các loại ngũ cốc làm thức ăn cho

nghiệp (Nyong, 2008). Phân bố cây trồng và sản xuất nông nghiệp phụ thuộc
lớn vào sự phân bố địa lý của nhiệt độ và độ ẩm. Ấm lên toàn cầu có thể tăng
diện tích có lợi cho tăng trưởng cây trồng và sản xuất nông nghiệp cũng như
kéo dài mùa vụ cây trồng ở một số nước. Ví dụ, tăng lượng mưa ở các vùng
bán khô hạn ở châu Phi đang và sẽ tăng sự phân bố cây trồng ở những vùng
này. Ngược lại, các vùng nằm trong phạm vi nhiệt độ cao và lượng mưa giảm
dần vào mùa khô, tăng cường độ vào mùa mưa sẽ dẫn đến hạn hán và ngập lụt
theo mùa cũng tác động đến sự phân bố ở những vùng này (Nyong, 2008)[5].
2.2.2.2. Tác động của biến đổi khí hậu tới hoạt động chăn nuôi
Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi bao gồm thay đổi giá cả
và khả năng sẵn có của thức ăn vật nuôi, tác động trực tiếp khả năng tăng
trưởng và sức sản xuất, ảnh hưởng đến đồng cỏ và cây trồng làm thức ăn cho
gia súc, và thay đổi sự phân bố dịch bệnh, động vật ký sinh trên vật nuôi.
Theo Thornton và đồng tác giả (2007): tác động của biến đổi khí hậu
đến khả năng sẵn có của nguồn thức ăn cho vật nuôi thể hiện bằng nhiều hình
11
thức khác nhau. Thứ nhất, đó là thay đổi hệ thống và mục đích sử dụng đất
thông qua nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi (có thể tăng hoặc giảm tùy
vùng) và ngày một biến thiên sẽ dẫn đến thay đổi nhiều loại cỏ và cây trồng
làm thức ăn cho vật nuôi như vùng châu Á, điều này sẽ dẫn đến có sự khác
nhau trong thành phần chế độ ăn của vật nuôi và thay đổi khả năng của nông
hộ nhỏ để quản lý sự thiếu hụt thức ăn vào mùa khô. Thứ hai là thay đổi năng
suất cây trồng dùng làm thức ăn cho vật nuôi, thay đổi chỉ số thu hoạch thông
qua số lượng sinh khối sản xuất được và kết quả là các hoạt động chăn nuôi bị
thay đổi trên phương diện số lượng ngũ cốc và rơm khô, và khả năng chuyển
hóa năng lượng đối với thức ăn trong mùa khô.
Một lĩnh vực khác trong hoạt động chăn nuôi bị tác động mạnh mẽ của
biến đổi khí hậu đó là dịch bệnh trên vật nuôi và khả năng lây truyền tăng
(Thornton et al., 2007; Thornton and Mario, 2008). Các loại côn trùng gây hại
và dịch bệnh đang di chuyển đến nhiều nơi mới, như khi nhiệt độ tăng hộ trợ

trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản dẫn đến đòi hỏi phải có biện pháp để khắc
phục và giảm thiểu tác động tiêu cực, một biện pháp mà người dân thường
dùng là tăng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc phòng và trị bệnh, kết quả là tăng
các khoản chi phí đầu vào. Hơn nữa, môi trường ngày càng ô nhiễm đặc biệt
là môi trường đất và nước, điều này đồng hành nếu người dân muốn tiếp tục
các hoạt động sản xuất của mình thì bắt buộc họ phải đầu tư chi phí để và kết
quả cũng phải tăng chi phí đầu tư.
Biến đổi khí hậu thông qua thay đổi tần xuất cũng như cường độ của
các loại hiểm họa và hiểm họa kéo theo dẫn đến tác động đến vốn vật chất của
người dân đặc biệt là các phương tiện trong sản xuất. Điều này có ý nghĩa là
người dân phải phục hồi lại các thiệt hại cũng như thay đổi các phương tiện
sản xuất khác phù hợp hơn và kết quả lại một lần nữa phải tăng chi phí đầu tư.
2.3.Thích ứng với biến đổi khí hậu
2.3.1. Khái niệm thích ứng
Khí hậu đã và đang có những tác động tiềm tàng và bất lợi đối với sự
phát triển. Vì thế, sự thích ứng đang ngày càng quan trọng, được quan tâm
nhiều hơn trong các nghiên cứu và trong cả tiến trình đàm phán của Công ước
về biến đổi khí hậu.
Sự thích ứng diễn ra trong cả tự nhiên, hệ thống kinh tế- xã hội. Sự
sống của tất cả các loài động thực vật đều đã và đang thích ứng với khí hậu
cũng như trong hệ thống kinh tế- xã hội đều thích ứng với một mức độ nhất
định với biến đổi khí hậu và ngay cả sự thích ứng này cũng phải thay đổi để
phù hợp với điều kiện mới của biến đổi khí hậu.
13
Thích ứng với biến đổi khí hậu được xem là lựa chọn chủ lực cho các
nước có nền sản xuất nông nghiệp như Việt Nam.
IPCC(1996) cho rằng, khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều
chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những dự
kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang diễn ra của khí hậu. Sự thích ứng có
thể là tự phát hay được chuẩn bị trước và có thể được thực hiện để đối phó với

tăng mực nước biển, thay đổi môi trường dẫn đến xuất hiện nhiều dịch bệnh đã
và đang gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương
thực. Việc sử dụng các giống chịu hạn trong vùng bị khó khăn của nguồn nước,
sử dụng nhiều giống kháng với sâu bệnh và dịch hại, sử dụng các giống chịu
mặn, chịu rét, giống năng suất cao và chín sớm ở các vùng lạnh [11, 3-22]
Thích ứng trong phương thức sản xuất bao gồm thay đổi cơ cấu cây
trồng trên một diện tích đất hay liên kết các loại cây trồng và vật nuôi trong
một hệ thống sản xuất [5]
Phương thức sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp – lâm nghiệp theo hệ
thống là một hình thức thích nghi tốt với biến đổi khí hậu ở vùng miền núi và
vùng cát nội đồng thông qua thay đổi tiểu khí hậu, cải thiện có hiệu quả sử
dụng đất, nguồn nước và khí hậu, góp phần cải thiện độ phì của đất.
Thời vụ sản xuất của hệ thống cây trồng vật nuôi phụ thuộc nhiều vào
yếu tố khí hậu, thời tiết vì vậy hệ thống thông tin dự báo các điều kiện thời
tiết và khí hậu liên quan đến biến đổi khí hậu là rất cần thiết để xác định thời
vụ thích hợp cho mỗi loại cây trồng. Thông qua hệ thống cảnh báo người dân
có khả năng tự điều chỉnh mùa vụ sản xuất phù hợp với những thay đổi điều
kiện khí hậu. Thay đổi thời gian cho mùa vụ gieo trồng, bảo vệ cây trồng vật
nuôi và xác định được thời điểm để thu hoạch sản phẩm nông nghiệp ngoài
đồng ruộng tránh được các điều kiện khí hậu cực đoan. Xác định lịch thời vụ
chính là xác định cho các hoạt động sản xuất của cây trồng vật nuôi như thời
điểm bón phân, chăn thả gia súc, bố trí và phân bổ hệ thống thủy lợi, che phủ
cho cây trồng, gieo trồng và làm đất. Đồng thời cũng phải cải tiến, đổi mới kỹ
thuật trong lĩnh vực nông nghiệp.
Đối với hoạt động sản xuất của nông hộ trong điều kiện biến đổi khí
hậu đang xảy ra, đã và đang tác động đến sản xuất. Các nông hộ ngoài việc
duy trì các hoạt động sản xuất của mình họ còn thường tìm kiếm thêm những
ngành nghề mới, phù hợp với khả năng và tiềm lực của mình để tăng thu nhập
15
và điều kiện sống của mình hoặc tìm kiếm một hoạt động sinh kế khác để

PHẦN 3: NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của điểm nghiên cứu và của
nhóm hộ điều tra
3.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Khí hậu
- Diện tích và tỷ lệ các loại đất của xã
- Diện tích và tỷ lệ các loại đất của hộ điều tra
3.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Tổng số dân và lao động của xã và hộ điều tra
- Kinh tế- xã hội của xã và các hộ điều tra
- Cơ cấu thu nhập các ngành nghề của hộ điều tra
- Thu nhập trung bình của hộ
3.1.2. Mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết, khí hậu với hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi tại đia phương
3.1.3. Biểu hiện của sự thay đổi rét tại địa phương
- Tần suất xuất hiện
- Thời gian xuất hiện
- Thời gian trung bình mỗi đợt
- Cường độ xuất hiện
3.1.4. Tác động của rét đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người
dân
3.1.4.1. Tác động của rét đối với sản xuất lúa
- Tác động của rét đến năng suất
+ Ảnh hưởng của dịch bệnh đến năng suất
+ Ảnh hưởng của sinh trưởng đến năng suất
+ Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất
17
- Tác động của rét đến chi phí

Số liệu thứ cấp đã được thu thập từ: các báo cáo kinh tế- xã hội năm
2008, 2009, 2010, tài liệu từ các báo cáo thống kê, các báo cáo hàng năm, các
báo cáo nghiên cứu đã được công bố, tập hợp và tham khảo các sách báo, báo
cáo khoa học, tài liệu nghiên cứu, tạp chí, thông tin trên mạng internet.
Việc tìm hiểu các thông tin này nhằm mục đích: thu thập các vấn đề
về thực trạng kinh tế, vị trí địa lí xã, tìm hiểu về hộ nghèo, hoạt động sản xuất
có trên địa bàn và đặc biệt là hoạt động trồng trọt, chăn nuôi. Hiện tượng thời
tiết, khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và tác động của
nó cũng như tìm hiểu các giải pháp thích ứng với các hiện tượng thời tiết, khí
hậu đó.
Thảo luận nhóm người dân (2 buổi )
19
Điểm nghiên cứu
Đề tài thực hiện 2 cuộc thảo luận với 2 nhóm đối tượng khác nhau:
- Thảo luận nhóm 1 được tiến hành với cán bộ xã: Phó chủ tịch xã phụ
trách kinh tế- xã hội, chủ tịch hội nông dân, chủ tịch hội phụ nữ, cán bộ
khuyến nông xã, cán bộ phụ trách mảng nông nghiệp. Nội dung của cuộc thảo
luận nhóm : (1) Xác định sự biến đổi khí hậu tại xã qua thời gian, xác định
được hiện tượng thời tiết nào ảnh hưởng xấu nhất đến hoạt động sản xuất. (2)
Tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất trồng trọt và
chăn nuôi tại xã. (3) Tìm hiểu các giải pháp thích ứng trước tác động của biến
đổi khí hậu.
- Thảo luận nhóm 2 bao gồm: Các hộ nông dân bao gồm hộ nghèo và
không nghèo, có tham gia sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, có kinh nghiêm
lâu năm. Nội dung của buổi thảo luận nhóm: (1) Xác định được biểu hiện của
biến đổi khí hậu tại địa phương. Bằng cách liệt kê và sử dụng công cụ cho
điểm để xếp thứ tự ưu tiên cho các hiện tượng tác động tới địa phương. Từ đó
xác định sự thay đổi về tần xuất, cường độ, thời gian xuất hiện. (2) Tìm hiểu
sự tác động của hiện tượng thời tiết đó đối với cây trồng và vật nuôi của thôn.
(3) Tìm hiểu một số biện pháp thích ứng của người dân trong thôn trước tác

Đối với thông tin định lượng: sử dụng phần mềm excel để tính toán
Đối với thông tin định tính: đơn giản hóa các đoạn văn trong dữ liệu
ghi chép được và các báo cáo, phân tích theo chủ đề và nội dung.
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
21
4.1. Đặc điểm tự nhiên- kinh tế- xã hội của điểm nghiên cứu và nhóm hộ
điều tra
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Phú Mỹ
4.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Xã Phú Mỹ thuộc huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế cách trung
tâm thành phố 13km về phía Đông, là một xã đồng bằng ven đầm phá có địa
hình thấp trũng.
Khí hậu xã Phú Mỹ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu
sắc của gió mùa Tây Nam và Đông Bắc nên có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô: từ
tháng 3 đến tháng 8 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khí hậu khô nóng,
oi bức. Về nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 25
0
C, cao nhất vào các tháng
5,6,7 và tháng 8 với nhiệt độ tối cao tuyệt đối năm khoảng 40,1
0
C, nhiệt độ
thấp nhất vào các tháng 12, tháng 1 và 2 năm sau với nhiệt độ tối thấp tuyệt
đối là 10,2
0
C. Mùa mưa: từ tháng 9 năm trước đến tháng hai năm sau thường
kéo theo lụt. Riêng tháng 11 là tháng có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới 30%
lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình năm khoảng 2550mm. Mùa mưa kéo
dài và với địa hình thấp trũng của xã thì khi có lượng mưa lớn, nước từ đầu
nguồn đổ về làm ngập úng gây lụt lội. Mặt khác, mùa mưa trùng với mùa Đông-
lạnh nên vào thời gian này ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt

2532
239
600
1810
194
9150
( Nguồn: Báo cáo kinh tế của xã Phú Mỹ năm 2008, 2009, 2010 )
Phú Mỹ là vùng trọng điểm lúa của huyện Phú Vang, tỷ lệ người dân
sống bằng nghề nông nghiệp chiếm 93%, các nghề dịch vụ, thương mại, xây
dựng, thủy sản… chiếm tỷ lệ ít.
Về trồng trọt, xã đã biết ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất nên năm 2010 năng suất bình quân đạt 58 tạ/ha, sản lượng lương
thực có hạt đạt 5140 tấn. Công tác dồn điền đổi thửa đã cơ bản hoàn thành, đã
tiến hành quy hoạch giao thông thuỷ lợi nội đồng và kiến thiết lại đồng ruộng,
đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng đất.
Bên cạnh cây lúa người dân trồng các loại hoa màu như rau, khoai, sắn…
Hoạt động chăn nuôi tương đối phát triển tuy nhiên chăn nuôi quy mô
không lớn chủ yếu chăn nuôi theo gia đình, các loại vật nuôi phổ biến như lợn
trâu, bò, gia cầm : gà, vịt, ngan…Qua bảng số liệu nhận thấy, số lượng gia
súc, gia cầm có sự thay đổi đáng kể qua các năm. Trong 3 năm, 2008- 2010
thì số lượng đàn gia cầm có sự thay đổi lớn nhất. Cụ thể, năm 2008 là 4128 con
nhưng đến năm 2009 chỉ còn 600 con do trong thời gian này dịch bệnh bùng
phát. Đến năm 2010, con số này tăng lên đáng kể là 9150 con. Chăn nuôi lợn
23
và trâu bò giảm đi. Hiện nay, xã đang khuyến khích hộ gia đình chăn nuôi theo
hướng gia trại nhằm tăng tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệp.
Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản kém phát triển do những
năm gần đây dưới tác động của biến đổi khí hậu thời tiết thất thường bão lụt
liên miên, và tình hình dịch bệnh khá phổ biến làm thiệt hại đáng kể nên
người dân ít nuôi. Xã có 6 thôn thì chỉ có thôn Định Cư giáp với phá Tam

Số lao động / hộ Lao động 3,62
Tỷ lệ hộ nghèo % 5,23
BQTN/ hộ/ năm Triệu đồng 17,85
(Nguồn: Báo cáo kinh tế- xã hội của xã Phú Mỹ năm 2009- 2010)
Về công tác dạy và học được nâng cao về số lượng và chất lượng thể
hiện: số lượng học sinh bỏ học giảm dần, Công tác chăm sóc sức khoẻ cho
người dân ngày càng được tăng cường thể hiện thông qua việc mạng lưới y tế
cơ sở được kiện toàn, cán bộ y tế được đào tạo, đội ngũ y bác sĩ trạm y tế
được tăng cường…
4.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội của các hộ điều tra
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ,
huyện Phú Vang. Trong quá trình điều tra, các hộ được phân thành 2 nhóm hộ
chính: Nhóm hộ nghèo (gồm hộ nghèo và hộ cận nghèo) và nhóm hộ không
nghèo (gồm hộ trung bình và hộ khá). Mỗi nhóm hộ có sự khác nhau về đặc
điểm kinh tế xã hội và đặc điểm của các nhóm hộ điều tra được mô tả ở bảng 3.
Bảng 3 : Đặc điểm kinh tế- xã hội của nhóm hộ điều tra
Tiêu chí Đvt Nghèo Không nghèo
Nhân khẩu/ hộ Khẩu 3,5 5,07
Lao động/ hộ Lao động 1,5 3,21
BQTN/ hộ/ năm Triệu đồng 14,35 60,26
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
Kết quả bảng 3 cho thấy:
Số nhân khẩu/ hộ ở các nhóm có sự khác biệt. Đối với nhóm hộ không
nghèo là hơn 5 khẩu/ hộ. Nhóm hộ nghèo gần 4 khẩu/ hộ.
Số lao động / hộ giữa các nhóm hộ tương đối thấp và có sự chênh lệch
cao. Đối với nhóm hộ không nghèo là hơn 3 lao động/ hộ. Còn nhóm hộ
nghèo là gần 2 lao động/ hộ. So với mặt bằng chung của xã thì số lao động/
hộ ở đây vẫn còn thấp hơn. Điều này chứng tỏ nhóm hộ nghèo có số người
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status