MỤC LỤC
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
2
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG PHI NÔNG NGHIỆP 3
2.2. SINH KẾ VÀ CÁC NGUỒN VỐN SINH KẾ 4
2.2.1. Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế 4
2.2.2. Các nguồn vốn sinh kế 5
2.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG PHI NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI 8
2.4. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG PHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 9
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
3.1.1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phong An 12
3.1.2. Tìm hiểu các loại hình sản xuất phi nông nghiệp tại xã Phong An 12
3.1.3. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong sinh kế của người dân 13
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu 13
3.2.2. Chọn mẫu nghiên cứu 13
3.2.3. Phương pháp thu thập thông tin 13
3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 14
14
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ PHONG AN 15
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 15
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 15
4.2. CÁC LOẠI HÌNH SẢN XUẤT PHI NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ PHONG AN 20
4.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG PHI NÔNG NGHIỆP TRONG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN 24
4.3.1. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong thu nhập hộ 24
4.3.2. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương 26
vực nông thôn về mọi mặt đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Huy động các nguồn lực tại chỗ về kinh doanh,
tiết kiệm và cung cấp nguyên liệu. Sự có mặt của kinh tế phi nông nghiệp có thể tạo ra
cơ hội việc làm, ngăn chặn sự di cư đến các thành phố lớn, nguyên nhân gây
ra sự thiếu lao động cho sản xuất nông nghiệp. Tăng cường hoạt động sản xuất ở nông
thôn, nâng cao năng suất lao động cũng như là thu nhập cho người dân, góp phần giảm bớt đói nghèo. Việc
làm trong phi nông nghiệp tham gia đáng kể vào phần trăm tổng thu nhập của
nông hộ. Góp phần nâng cao trình độ của lực lượng lao động nông thôn nói riêng và toàn xã hội nói
chung. Ngoài ra việc tăng cường các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn có thể đem lại những kết quả
bất ngờ về phát triển nông nghiệp…
Xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nằm cách
thành phố Huế 20 km về phía Bắc. Với lợi thế là có khoảng 6 Km đường quốc
lộ 1A chạy dài từ đầu xã cho đến cuối xã, đường tỉnh lộ 11B nối với các xã
vùng trên, có 1 chợ, có ngã tư An Lỗ là trung tâm giao thương buôn bán, có
nhà máy Tinh bột sắn, nhà máy chế biến nước khoáng Thanh Tân, nhà mát
gạch Tuynel, các ngành nghề Vì vậy xã Phong An có những yếu tố thuận lợi
để phát triển các hoạt động phi nông nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp
này đóng góp rất lớn trong sự phát triển kinh tế của địa phương.
Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong
đời sống của các hộ gia đình cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của các địa phương và quốc gia. Tuy nhiên, để “lượng hóa” được vai trò của
hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, mô tả và phân tích các khía cạnh khác
nhau của hoạt động này, phát hiện ra các xu hướng biến đổi nó là một vấn đề
nghiên cứu không hề đơn giản và cho tới nay còn chưa được nghiên cứu một
cách có hệ thống. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi tiến hành đề tài:
“Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong sinh kế của người dân
1
tại xã Phong An , huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2. Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phong An.
- Tìm hiểu các loại hình sản xuất phi nông nghiệp tại xã Phong An.
nghiệp, sự xây dựng và sản xuất sản phẩm có ích, nó diễn ra tại những nông
trại hay là những vùng nông thôn.
3
- Mức độ thứ hai, một phần nói đến những hoạt động phi nông nghiệp
diễn ra tại nông trại và những vùng nông thôn mà còn đề cập đến sự buôn
bán, vận chuyển và những dịch vụ khác.
- Mức độ thứ ba, kinh tế phi nông nghiệp diễn ra tại nông trại , những
vùng nông thôn, trung tâm thương mại nông thôn bao gồm không chỉ tất cả
những hoạt động ở mức độ thứ nhất và thứ hai mà còn những hoạt động khác
như là sự chế biến công nghiệp, tiếp thị và những dịch vụ có liên quan.
Mức độ thứ ba này không những phù hợp cho những nhà nghiên cứu để
hiểu về những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn và những người làm
chính sách để đề xuất những chính sách cho việc phát triển những trung tâm
thương mại nông thôn mà nó còn là nhân tố nòng cốt trong sự phát triển kinh
tế phi nông nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu trên địa bàn xã Phong An, huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa thiên Huế thì khái niệm phi nông nghiệp được hiểu là một
hoạt động sản xuất tạo thu nhập khác với các hoạt động sản xuất nông
nghiệp.
2.2. Sinh kế và các nguồn vốn sinh kế.
2.2.1. Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế
a. Khái niệm sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa
những năm 80 (sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber, Conway và
những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển
đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện.
Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh
nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng
(capacity), tài sản (assets)- (các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền
người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu
sinh kế của mình. Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số
lượng và chất lượng lao động sẵn có. Tuỳ theo quy mô hộ, cấu trúc nhân khẩu
và số lượng người không thuộc diện lao động, giới tinh của các thành viên,
giáo dục, tình trạng sức khoẻ mà khả năng lao động của họ là khác nhau.
b. Nguồn vốn tài chính
5
Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền
mặt và các loại hình tiếc kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt
như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước.
Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với
việc sử dụng thành công các yếu tố/tài sản khác. Nguồn tài chính nghĩa là các
nguồn lực tài chính (chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương)
mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Có hai nguồn
tài chính cơ bản, đó là nguồn vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên.
• Nguồn sẵn có: Tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín
dụng,v.v…
• Nguồn vốn vào thường xuyên: Trợ cấp, các khoản tiền chuyển
nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền gửi.
c. Nguồn vốn vật chất
Đề cập đến tài sản do con người tạo nên và các dạng tài sản vật chất.
Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và công cụ sản xuất hàng
hóa cần thiết để hỗ trợ sinh kế. Cơ sở hạ tầng được hiểu là một loại hàng hóa
công cộng sử dụng mà không cần trả phí trực tiếp, bao gồm những thay đổi
trong môi trường vật chất mà chúng giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản
của mình và đem lại nhiều lợi ích hơn.
Công cụ sản xuất hàng hóa là những công cụ và thiết bị mà con người
sử dụng để hoạt động mang lại năng suất cao hơn. Các công cụ đó có thể do
một cá nhân hay nhóm người sở hữu, cũng có thể thuê hoặc mua, phổ biến là
đối với các thiết bị phức tạp.
bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm
trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển
từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn.
Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc trình độ của chủ hộ, có thể
góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó
thu nhập nông hộ gia tăng. Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành
phần lao động gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông
nghiệp và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông
nghiệp như: Thương maị và dịch vụ.
Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập
thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc
7
gia tăng cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở
nông thôn.
2.3. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trên thế giới
Hơn một thập kỷ về trước, con người vẫn còn ít chú ý tới các hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn. Nhưng thời gian gần đây, người ta bắt đầu coi
trọng các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn như là một trong những
giải pháp khắc phục tình trạng nghèo đói ở nông thôn - sự thành công ở Trung
Quốc và các nước công nghiệp mới (NICs) đã chứng minh cho điều đó [2].
Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp ở các nước trên Thế Giới được thể hiện ở các khía cạnh sau
đây:
- Thúc đẩy sự phát triển ở khu vực nông thôn về mọi mặt đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế.
- Huy động các nguồn lực tại chỗ về kinh doanh, tiết kiệm và cung cấpnguyên liệu.
- Sự có mặt của kinh tế phi nông nghiệp có thể tạo ra cơ hội việc làm,
ngăn chặn sự di cư đến các thành phố lớn - nguyên nhân gây ra sự thiếu lao
động cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời tránh đi những vấn đề như suy
thoái đạo đức và các tệ nạn xã hội. Việc làm phi nông nghiệp chiếm khoảng
30% trong tổng thời gian làm việc ở nông thôn ở Châu Á và Mỹ La Tinh,
20% ở Tây và Bắc Á và 10% ở Châu Phi…
trồng trọt truyền thống của địa phương.
2.4. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp ở Việt Nam
Đến nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 70% dân số sinh
sống tại nông thôn trên một khu vực địa lý rộng lớn chiếm 60% diện tích đất
đai sử dụng canh tác nông lâm nghiệp và đất ở.
Trong những năm đổi mới, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất
cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, nhiều vùng nông
thôn ở nhiều địa phương đã xuất hiện và ngày càng phát triển đa dạng các
ngành nghề phi nông nghiệp như: Ngành chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây
dựng, cơ khí lắp ráp và sửa chữa nhỏ, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và đặc biệt là một số ngành dịch vụ hỗ
trợ sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của bà con nông dân. Sự phát triển các ngành nghề phi nông
nghiệp và dịch vụ này hầu hết sử dụng nguyên liệu tại chỗ, thu hút nhiều lao động và tạo ra sự phân công lao
động ngay trên địa bàn.
Theo điều tra thống kê gần đây cho thấy, cơ cấu các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ ở khu
vực nông thôn đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, thu hút và tạo việc làm cho lao động, nhiều
ngành dịch vụ phát triển khá như các dịch vụ thương mại, tài chính, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật
nông nghiệp.
9
Thực tế phát triển đó cho thấy, các ngành nghề phi nông nghiệp và
dịch vụ nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp phát triển, làm chuyển dịch mạnh mẽ hơn cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
phát triển thị trường nông thôn, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập và góp phần
cải thiện đáng kể đời sống của nông dân. Nơi nào phát triển đa dạng ngành
nghề và dịch vụ, phát triển thị trường thì nơi đó cuộc sống sôi động hơn,
những tệ nạn xã hội trong dân cư ít hoặc không xảy ra, bộ mặt nông thôn
được khởi sắc.
Thời gian gần đây, sự phát triển nghề và làng nghề đã góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản
xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn và
góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động.
3.1.1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phong An
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý
+ Thời tiết khí hậu
+ Địa hình
+ Tài nguyên thiên nhiên
+ Chế độ thủy văn
- Điều kiện kinh tế:
Tìm hiểu về các hoạt động sản xuất, cơ cấu hoạt động sản xuất,
thu nhập của người dân ở trên địa bàn.
- Điều kiện xã hội:
+ Dân số
+ Lao động
+ Trình độ dân số
+ Trình độ lao động
+ Số hộ nghèo
+ Tỷ lệ trẻ đến trường
+ Các chính sách phát triển của địa phương.
3.1.2. Tìm hiểu các loại hình sản xuất phi nông nghiệp tại xã Phong An
Để tìm hiểu các loại hình sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn xã cần
chú xem xét các nội dung:
- Có các hoạt động sản xuất nào ?
- Đối tượng tham gia là ai ?
- Số lượng tham gia, chiếm bao nhiêu %.
- Thường diễn ra vào thời gian nào và chiếm bao nhiêu thời gian.
- Lịch sử phát triển của hoạt động đó.
12
3.1.3. Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong sinh kế của người dân
- Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong thu nhập hộ của người dân.
- Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong giải quyết việc làm cho
người dân.
+ Thảo luận nhóm người dân thôn Bồ Điền: Được tiến hành tại Hợp
Tác Xã Bồ Điền, với số lượng 5 người, gồm: Trưởng thôn và 4 người dân.
- Phỏng vấn hộ:
30 hộ được phỏng vấn, trong đó thôn Thượng An 15 hộ, thôn Bồ Điền
15 hộ. Các hộ này được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên.
3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm Excell trên máy tính.
14
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phong An
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Phong An huyện Phong Điền là một xã thuộc vùng bán sơn địa, với
địa giới hành chính được phân định như sau: Phía bắc giáp với Thị Trấn
Phong Điền, phía Nam giáp với huyện Hương Trà, phía Đông giáp với xã
Phong Hiền, phía tây giáp với xã Phong Sơn và Phong Xuân.
Xã Phong An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng
của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam. Xã Phong An có 2 mùa
rõ rệt, mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 24
0
C -
25
0
C tương đương với tính tổng nhiệt hàng năm 900 - 9200
0
C, số giờ nắng
trung bình 5 - 6 giờ/ngày. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm chênh lệch
7
0
C - 9
Về chăn nuôi, kinh tế hộ, gia trại, trang trại ngày càng được phát triển
và nhân rộng, ủy ban nhân dân xã đã tích cực triển khai các biện pháp phòng
chống dịch bệnh cho giá súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng gia súc đạt trên
79% kế hoạch, nên tổng đàn trâu hiện có 551 con, giảm 7 con so với cùng kỳ
đạt 85,9% so với kế hoạch, đàn bò hiện có 83 con, giảm 15 con đạt 74,1% kế
hoạch, đàn lợn: 3.890 con, tăng 739 con đạt 100% kế hoạch. Tổng đàn gia
cầm 25.000 con đạt 100% kế hoạch.
Về nuôi trồng thuỷ sản, duy trì diện tích ao hồ 80 ha, sản lượng cá thu
hoạch trong năm ước đạt 160 tấn.
Về thương mại, dịch vụ ngành ngề, các ngành nghề truyền thống như
mộc, nề, cơ khí, cưa xẻ gổ, sửa chũa xe máy, diện tử, điện dân dụng được duy
trì và phát triển tốt, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động đem lại thu
nhập khá cao. Các quán hàng ở chợ buôn bán ổn định, lượng hàng hóa trao
đổi dồi dào, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nhân dân, dịch vụ bán lẻ được
mở rộng, toàn xã có 268 hộ kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ.
Tổng thu từ hoạt động thương mại, dịch vụ, ngành nghề ước đạt 62 tỷ
đồng chiếm 82,76% tổng thu nhập của xã.
Dân số và lao động của một địa phương thể hiện được sức sản xuất của
địa phương đó. Trong quá trình phát triển kinh tế thì dân số và lao động có
ảnh hưởng rất lớn, một mặt nó sẽ tạo ra tiềm lực để phát triển mặt khác nó sẽ
cản trợ lại sự phát triển kinh tế khi công ăn việc làm, đời sống nhân dân không
được đảm bảo.
16
Bảng 1: Cơ cấu hộ năm 2010
Đơn vị
(Thôn)
Tổng số
hộ
Chia ra
Hộ thuần
17
Bảng 2: Cơ cấu lao động năm 2010
Thôn Lao động
Nông Nghiệp TM Dịch Vụ
Nghành
Nghề
Lao
động
Tỉ lệ
%
Lao
động
Tỉ lệ
%
Lao
động
Tỉ lệ
%
Phò Ninh 1309
995 76,0 50 3,8 264 20,17
Thượng An 1472
1200 81,5 105 7,1 167 11,35
Bồ Điền 1028
500 48,6 200 19,5 328 31,91
Đông Lâm 780
603 77,3 30 3,9 147 18.85
Vĩnh Hương
279 200 71,7 7 2,5 72 25, 8
Phường Hóp 136
trọng, tiếp tục phối hợp với các công ty tư vấn xuất khẩu lao động để tư vấn
xuất khẩu lao động ở các nước phát triển có thu nhập cao như Hàn Quốc,
Nhật Bản Trong năm 2010 toàn xã có trên 250 lao động làm việc tại công ty
may SCAVI, nhà máy gạch Tuynel.
Nhìn chung trình độ dân số trên toàn xã còn thấp, ở một số khu vực
trên địa bàn xã con em chỉ học hết lớp 9 rồi đi làm, tính trung bình chung cho
toàn xã trình độ dân trí chỉ đạt lớp 8.
Số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn xã khoảng 5.600 người,
trong đó đi làm ăn xa khoảng 1.100 lao động, theo số liệu điều tra con số lao
động qua đào tạo tay nghề chỉ chiếm 1 tỷ lệ nhỏ khoảng 2,5%.
Xã đã huy động tối đa các nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương. Các chính sách cải thiện môi trường đầu tư để thu hút
đầu tư. Tranh thủ nguồn vốn từ các chương trình, dự án và nguồn vốn ngân
sách, nguồn vón huy động trong nhân dân để đầu tư cho phát triển. Chú trọng
19
công tác đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Khai thác có hiệu
quả nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái.
4.2. Các loại hình sản xuất phi nông nghiệp tại xã Phong An
Theo kết quả điều tra các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp tại xã
Phong An được chia làm 2 nhóm và được thể hiện như sau:
Về thương mại, dịch vụ:
Đây là hoạt động phát triển khá sớm ở xã Phong An từ những năm
1974, các loại hình này chủ yếu được phát triển dọc theo quốc lộ 1A, chợ
Phù, chợ An Lỗ. Gồm có các loại hình chính như sau:
- Buôn bán: Ở xã Phong An, hoạt động phi nông nghiệp này khá phát
triển và đa dạng ở các loại hình buôn bán, và có thể chia làm 3 bộ phận: buôn
bán ở chợ, buôn bán quầy tạp hóa lẻ, buôn bán các mặt hàng nông nghiệp.
+ Buôn bán ở chợ An Lỗ: Có khoảng 100 hộ dân trong xã tham gia
buôn bán ở chợ, chủ yếu là các mặt hàng như: Thuốc bảo vệ thực vật, quán
ăn, buôn bán áo quần, quầy tạp hóa, ngoài ra còn có buôn bán các mặt hàng
liệu xây dựng, như: cát, sỏi, bờ lô, xi măng, sắt, thép… để đáp ứng nhu cầu
xây dựng của người dân. Ngoài ra còn có xe khách vận chuyển người đi lại.
Theo thống kê trên địa bàn xã năm 2010, toàn xã hiện có 40 xe ô tô tải, 2 xe ô
tô khách, tạo công ăn việc làm cho hơn 60 lao động trong địa phương. Đối
tượng tham gia vào hoạt động này chủ yếu là lao động trẻ ở địa phương. Hoạt
động này diễn ra quanh năm, tuy nhiên hoạt động vận chuyển vật liệu xây
dựng thường diễn ra mạnh vào thời điểm tháng 3 đến cuối tháng 9 hàng năm
khi nhu cầu xây dựng của người dân cao.
Về lao động nghành nghề:
Lao động ngành nghề ở đây được hiểu là các loại hình lao động trong
công nghiệp, trong các ngành nghề, trong tiểu thủ công nghiệp và công chức
nhà nước.
- Về các loại hình lao động trong công nghiệp: Đây chính là công nhân
trong các nhà máy. Phong An là một xã có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá
dồi dào nên có nhiều nhà máy khai thác, chế biến trên địa bàn, cụ thể như là
nhà máy gạch Tuynel 1 tháng 5, nhà máy Sắn, ngoài ra còn có công ty xi
măng Đông Lâm đang trong quá trình xây dựng…Chính các doanh nghiệp
này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển địa phương, thu hút một lượng lao
động tham gia và giải quyết công ăn việc làm cho người dân. Theo thống kê
năm 2010 của ủy ban nhân dân xã Phong An có khoảng 200 lao động tham
21
gia thường xuyên, đồng thời có khoảng 50 lao động mang tính chất thời vụ,
lao động mùa vụ ở đây chính là vào những lúc mùa vụ nhàn rỗi.
- Về lao động trong các ngành nghề: Lao động ngành nghề là hoạt động
phi nông nghiệp có lượng lao động tham gia nhiều nhất và phát triển sớm.
Các loại ngành nghề ở đây rất đa dạng, cụ thể là một số các ngành nghề
chính: Thợ mộc, thợ xây, gò hàn, mổ lợn, xay xát lúa, thợ may… Lao động
nghành nghề trên địa bàn xã có khoảng hơn 900 lao động tham gia chiếm
khoảng 17,4 % lao động của toàn xã. Lao động ngành nghề ở Phong An
thường diễn ra có tính thời kỳ, và theo số liệu điều tra phỏng vấn hộ năm
Tỉ lệ %
Thương mại dịch vụ 160 39,03 175 40,04
1. Buôn bán 150 36,59 150 34,40
2. Vân chuyển 10 2,44 25 5,73
Các hoạt động ngành
nghề
250 60,96 261 59,86
1. Công nhân 30 7,32 40 9,17
2. Xay xát 5 1,22 5 1,15
3. Thợ mộc 35 8,54 37 8,49
4. Thợ nề 35 8,54 43 9,86
5. Gò hàn 5 1,22 13 2,98
6. Ép dầu lạc 15 3,66 5 1,15
7. Công chức nhà nước 5 1,22 25 5,73
8. Đãi cát sạn 38 9,27 30 6,88
9. Thợ may 15 3,66 10 2,29
10
.
Khác…
57 9,02 48 11,01
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội thôn,
2010)
Qua bảng ta thấy, thôn Bồ Điền có tỉ lệ lao động tham gia vào lĩnh vực
hoạt động phi nông nghiệp lớn hơn so với thôn Thượng An. Điều này có thể
được giải thích, thứ nhất thôn Bồ Điền đa dạng hơn về các loại hình sản xuất
phi nông nghiệp, thứ hai thôn Bồ Điền nằm sát đường quốc lộ 1A, nằm đối
diện với chợ An Lỗ, nơi hoạt động mua bán diễn ra tấp vì vậy có lượng lớn
lao động tham gia vào hoạt động buôn bán.
23